Khung pháp lý cho tín chỉ các-bon rừng đã sẵn sàng tạo huy động nguồn tài chính xanh
![]() |
| Tín chỉ các - bon rừng mở ra cơ hội huy động nguồn tài chính xanh. |
Hoàn thiện hành lang pháp lý, mở đường thương mại hóa tín chỉ các-bon rừng
Tín chỉ các-bon rừng giúp chuyển hóa giá trị hấp thụ khí nhà kính của hệ sinh thái rừng thành nguồn lực phục vụ phát triển bền vững và được kỳ vọng trở thành một trong những công cụ huy động tài chính xanh. Việt Nam có quy mô tài nguyên rừng lớn, tạo lợi thế phát triển các dự án tạo tín chỉ các-bon, kết nối mục tiêu bảo vệ môi trường với nhu cầu giảm phát thải của doanh nghiệp và nền kinh tế.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2025, tổng diện tích có rừng của cả nước đạt gần 15 triệu ha, trong đó diện tích rừng trồng đã thành rừng khoảng gần 4 triệu ha. Đây là nguồn tài nguyên có khả năng hấp thụ lượng lớn khí CO₂, tạo dư địa phát triển các dự án lâm nghiệp gắn với giảm phát thải khí nhà kính và thương mại hóa giá trị các-bon.
Để lượng các-bon được hấp thụ hoặc lượng phát thải được giảm thiểu có thể hình thành tín chỉ đủ điều kiện giao dịch, các dự án phải đáp ứng yêu cầu về pháp lý, phương pháp đo đạc, giám sát, báo cáo và xác minh. Đồng thời, quyền tham gia dự án, trách nhiệm của các bên và cơ chế phân chia lợi ích cũng cần được xác định minh bạch.
TS. Vũ Tấn Phương, Giám đốc Văn phòng Chứng chỉ Quản lý rừng bền vững, nhận định khung pháp lý đối với các dự án các-bon trong lĩnh vực lâm nghiệp và sử dụng đất hiện nay đã tương đối đầy đủ, sẵn sàng triển khai trong thực tế. Đây là tiền đề quan trọng để các chủ rừng, doanh nghiệp và nhà đầu tư từng bước chuyển từ nghiên cứu tiềm năng sang xây dựng dự án cụ thể.
Quá trình hoàn thiện thể chế về các-bon rừng tại Việt Nam đã trải qua một chặng đường dài. Luật Lâm nghiệp 2017 đặt nền tảng pháp lý khi xác định dịch vụ lưu giữ và hấp thụ các-bon của rừng thuộc nhóm dịch vụ môi trường rừng. Trước đó, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã được triển khai từ năm 2010, tạo cơ sở cho việc hình thành cơ chế tài chính gắn trách nhiệm bảo vệ rừng với lợi ích kinh tế.
Bên cạnh đó, các quy định pháp luật về thị trường các-bon đã hình thành với việc xây dựng các quy định điều chỉnh hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn, sau đó được sửa đổi bởi Nghị định số 119/2025/NĐ-CP, tạo khuôn khổ quản lý các hoạt động liên quan đến phát thải và thực hiện các mục tiêu khí hậu.
Trong giao dịch tín chỉ các-bon, Nghị định số 29/2026/NĐ-CP quy định hoạt động thương mại tín chỉ các-bon trên thị trường trong nước; Nghị định số 112/2026/NĐ-CP điều chỉnh quy trình đối với các giao dịch xuyên biên giới và thị trường quốc tế. Đặc biệt, tháng 7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 180/2026/NĐ-CP quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng, giúp hoàn thiện khung pháp lý để xây dựng và triển khai các dự án tín chỉ các-bon rừng.
Ngoài ra, Việt Nam cũng đã ban hành Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 14682 về “Tín chỉ các-bon rừng - Các yêu cầu” đối với thị trường trong nước. qua đó góp phần thiết lập những nguyên tắc kỹ thuật cần thiết cho thị trường trong nước. Tiêu chuẩn quốc tế, TCVN 14682 có hệ thống tiêu chí bao quát các yêu cầu về tính pháp lý, điều kiện khu vực triển khai, các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp, các quy định về đo đạc, báo cáo lượng giảm phát thải hoặc hấp thụ tăng thêm. Đáng chú ý, tiêu chuẩn còn đề cập đến đánh giá tác động môi trường, xã hội, xác định mức độ không chắc chắn và tính toán lượng dự phòng. Việt Nam cũng cho phép các dự án áp dụng những tiêu chuẩn quốc tế như Verra, Gold Standard và Plan Vivo. Dù áp dụng tiêu chuẩn nào, kết quả tạo tín chỉ vẫn phải trải qua quá trình thẩm định, xác nhận của bên thứ ba độc lập có đủ năng lực. Sau khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và chính thức phát hành, lượng tín chỉ này mới đủ điều kiện đưa lên sàn giao dịch các-bon trong nước để phục vụ hoạt động mua bán, trao đổi hoặc bù trừ phát thải.
Như vậy, việc hoàn thiện hành lang pháp lý không chỉ tạo cơ sở cho hoạt động mua bán tín chỉ mà còn hình thành cơ chế kiểm soát chất lượng, nâng cao tính minh bạch và khả năng truy xuất nguồn gốc. Đây là điều kiện cần để giá trị hấp thụ các-bon của rừng được công nhận, định giá và chuyển hóa thành nguồn lực tài chính phục vụ bảo vệ, phát triển rừng bền vững.
Nhu cầu thị trường gia tăng, cần tháo gỡ điểm nghẽn thực thi
![]() |
| Năm 2025, tổng diện tích có rừng của cả nước đạt gần 15 triệu ha. |
Khung pháp lý về tín chỉ các-bon rừng được hoàn thiện trong bối cảnh nhu cầu giảm phát thải và bù trừ phát thải của doanh nghiệp ngày càng rõ nét. Khi các quy định về kiểm kê khí nhà kính và phân bổ hạn ngạch phát thải từng bước được triển khai, tín chỉ các-bon có thể trở thành một công cụ giúp doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ môi trường, đồng thời mở ra thị trường cho các dự án tăng cường hấp thụ khí nhà kính.
Nghị định số 119/2025/NĐ-CP quy định các cơ sở phát thải lớn phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính, và hạn ngạch phát thải được phân bổ cho những cơ sở phát thải khí nhà kính nhiều nhất. Việc phân bổ hạn ngạch phát thải đang được triển khai thí điểm đối với các cơ sở thuộc ba lĩnh vực gồm nhiệt điện, sản xuất sắt thép và xi măng.
Cơ chế hạn ngạch tạo ra nhu cầu tín chỉ thực tế trên thị trường. Khi một doanh nghiệp được giao hạn ngạch phát thải là 1 triệu tấn CO2 nhưng thực tế lại phát thải 2 triệu tấn CO2, phần vượt quá 1 triệu tấn đó buộc họ phải tìm giải pháp bù trừ. Doanh nghiệp có thể mua hạn ngạch từ những đơn vị phát thải thấp hơn, hoặc mua tín chỉ các-bon từ các dự án giảm phát thải và tăng cường hấp thụ các-bon. Giới hạn này cho thấy tín chỉ các-bon không thay thế hoàn toàn yêu cầu cắt giảm phát thải tại nguồn, mà đóng vai trò bổ trợ trong lộ trình tuân thủ của doanh nghiệp.
Đây cũng là cơ sở để các dự án các-bon rừng tìm kiếm vị trí trong chuỗi giải pháp giảm phát thải của nền kinh tế.Trên thực tế, nhu cầu tín chỉ các-bon rừng có thể đến từ hai nhóm khách hàng chính. Nhóm thứ nhất là các doanh nghiệp thuộc diện thực hiện nghĩa vụ giảm phát thải theo cơ chế hạn ngạch. Với nhóm này, chất lượng, tính hợp pháp và khả năng đáp ứng yêu cầu bù trừ là những yếu tố quyết định việc lựa chọn tín chỉ.
Nhóm thứ hai là doanh nghiệp tự nguyện tham gia thị trường, trong đó có các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Việc sử dụng tín chỉ các-bon có thể giúp doanh nghiệp thực hiện cam kết về môi trường, xã hội và quản trị (ESG), nâng cao uy tín thương hiệu, đáp ứng yêu cầu của đối tác và thị trường xuất khẩu, đồng thời hỗ trợ quá trình chuẩn bị niêm yết cổ phiếu hoặc huy động vốn.
Sự hiện diện của cả hai nhóm khách hàng tạo triển vọng hình thành lực cầu cho tín chỉ các-bon rừng. Tuy nhiên, khả năng chuyển nhu cầu thành nguồn thu thực tế còn phụ thuộc vào chất lượng tín chỉ, mức giá giao dịch, tính minh bạch của thị trường và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn trong nước, quốc tế.
Vì vậy, không thể chỉ dựa vào diện tích rừng để xác định giá trị thương mại; mỗi dự án cần chứng minh được lượng hấp thụ tăng thêm, tính lâu dài của kết quả và khả năng kiểm soát rủi ro.
Dù Trung ương đã ban hành khung pháp lý và thị trường đã xuất hiện lực cầu, việc biến tiềm năng thành nguồn cung thực tế vẫn gặp phải trở ngại lớn. Trong đó, khó khăn lớn nhất là nhận thức và khoảng cách giữa các văn bản quy phạm pháp luật cấp quốc gia với quá trình thực thi tại cấp địa phương.Vì vậy, những vướng mắc này sẽ tạo ra độ trễ rất lớn cho sự hình thành nguồn cung tín chỉ các-bon rừng nếu không có hướng dẫn chi tiết. Chỉ khi khoảng trống chính sách giữa Trung ương và địa phương được lấp đầy, các cánh rừng mới thực sự trở thành tài sản tài chính xanh của quốc gia.
Cùng với đó, cần thúc đẩy xây dựng cơ sở dữ liệu về rừng, chuẩn hóa thông tin phục vụ đo đạc và giám sát, tăng khả năng kết nối giữa cơ quan quản lý, đơn vị thẩm định và doanh nghiệp. Cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch sẽ giúp người dân, hộ gia đình và cộng đồng có động lực bảo vệ rừng lâu dài, thay vì chỉ tham gia dự án với tư cách bên cung cấp diện tích. Khi lợi ích kinh tế gắn chặt với trách nhiệm bảo tồn, tín chỉ các-bon mới có thể đóng góp thực chất cho mục tiêu phát triển bền vững.
Về dài hạn, tín chỉ các-bon rừng không chỉ là một loại hàng hóa môi trường mà còn có thể trở thành công cụ huy động vốn cho bảo vệ rừng, phục hồi hệ sinh thái và cải thiện sinh kế cộng đồng.
Khung pháp lý cho tín chỉ các-bon rừng đã sẵn sàng tạo huy động nguồn tài chính xanh, song để hình thành nguồn vào các dự án, cần tiếp tục thu hẹp khoảng cách giữa quy định và thực thi. Chỉ khi các điều kiện này được thực hiện hiệu quả, rừng không chỉ là tài sản sinh thái cần bảo vệ mà còn trở thành nguồn lực tài chính xanh, góp phần đưa Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Tin tức khác
34 dự án khởi nghiệp xanh tìm hướng đi mới từ nông sản bản địa và phụ phẩm
Vì sao các tổ chức quốc tế ngày càng tin Việt Nam có thể tăng trưởng 2 con số?
"Hàng Việt vì người Việt" góp phần trong mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Thành tựu tăng trưởng củng cố niềm tin vào khả năng chống chịu của nền kinh tế
Liên kết vùng, đầu tư đồng bộ hạ tầng để tạo động lực tăng trưởng
Hợp tác xã muốn dẫn dắt chuỗi giá trị, cần gỡ những “nút thắt” nào?
Tăng trưởng bền vững khi doanh nghiệp Việt tạo nhiều giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
Bài 3: Thống nhất thực thi, biến tầm nhìn thành kết quả
Giải ngân 100% vốn đầu tư công sẽ đóng góp khoảng 1,7% tăng trưởng kinh tế năm 2026
Thành tựu tăng trưởng củng cố niềm tin vào khả năng chống chịu của nền kinh tế
Không chỉ huy động vốn, phải chuyển hóa nguồn lực thành năng suất, giá trị gia tăng
Tăng trưởng cao cần khơi thông nguồn vốn, giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp
Bài 2: Nhận diện những điểm nghẽn từ thực tiễn
Liên kết vùng, đầu tư đồng bộ hạ tầng để tạo động lực tăng trưởng
Tăng cường lực lượng hải quan kiểm soát hàng nhập lậu, gian lận xuất xứ, bảo vệ hàng Việt
Sớm xử lý bất cập thu phí điện tử đường bộ, bảo đảm quyền lựa chọn của người dân
Khung pháp lý cho tín chỉ các-bon rừng đã sẵn sàng tạo huy động nguồn tài chính xanh
Bảo đảm nguồn cung, bình ổn thị trường dịp Tết Đinh Mùi 2027
34 dự án khởi nghiệp xanh tìm hướng đi mới từ nông sản bản địa và phụ phẩm
Vì sao các tổ chức quốc tế ngày càng tin Việt Nam có thể tăng trưởng 2 con số?
"Hàng Việt vì người Việt" góp phần trong mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Thành tựu tăng trưởng củng cố niềm tin vào khả năng chống chịu của nền kinh tế
Liên kết vùng, đầu tư đồng bộ hạ tầng để tạo động lực tăng trưởng
Hợp tác xã muốn dẫn dắt chuỗi giá trị, cần gỡ những “nút thắt” nào?











