Huy động nguồn lực tài chính cho tăng trưởng xanh ở Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0
TS. Nguyễn Hữu Thủy
Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật công nghiệp
Email: nhthuy@uneti.edu.vn
Tóm tắt
Tăng trưởng xanh được xác định là định hướng quan trọng cho tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Trong những năm qua, Việt Nam đã có các chính sách khuyến khích xây dựng nền kinh tế xanh, trong đó chú trọng đến huy động nguồn lực tài chính đầu tư vào các dự án phát triển bền vững. Tuy nhiên, việc huy động và phân bổ nguồn lực tài chính trong và ngoài nước từ các khu vực khác nhau trong nền kinh tế vẫn gặp không ít khó khăn, thách thức, cần có giải pháp khắc phục đồng bộ trong thời gian tới, để huy động hiệu quả nguồn lực tài chính hướng tới phát triển bền vững trong kỷ nguyên số
Từ khóa: Nguồn lực tài chính, tăng trưởng xanh, Cách mạng công nghiệp 4.0, Việt Nam
Summary
Green growth is identified as a crucial orientation for Viet Nam’s socio-economic development in the context of the Fourth Industrial Revolution. In recent years, Viet Nam has implemented policies promoting a green economy, focusing on mobilizing financial resources for sustainable development projects. However, challenges remain in effectively mobilizing and allocating domestic and international financial resources across various economic sectors. Comprehensive solutions are required to address these issues and enhance the mobilization of financial resources towards sustainable development in the digital era.
Keywords: Financial resources, green growth, Fourth Industrial Revolution, Viet Nam
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhằm đạt sự thịnh vượng về kinh tế, bền vững về môi trường và công bằng về xã hội, bắt kịp xu thế phát triển của thế giới, thời gian qua, Việt Nam xác định tăng trưởng xanh (TTX) là lựa chọn tất yếu. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về TTX giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050 nhằm thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh, đóng góp trực tiếp vào giảm phát thải khí nhà kính. Để triển khai Chiến lược này cũng như hướng tới mục tiêu phát thải carbon bằng 0 vào năm 2050, việc huy động nguồn lực tài chính cho TTX là yêu cầu bức thiết trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay.
CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG XANH Ở VIỆT NAM
Trong những năm qua, các cấp có thẩm quyền đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy TTX, như: Ngày 25/9/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1393/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về TTX thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050. Chiến lược có 3 nhiệm vụ quan trọng là giảm khí nhà kính, xanh hóa sản xuất và xanh hóa tiêu dùng. Nhằm từng bước cụ thể hóa Chiến lược TTX quốc gia, ngày 20/3/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 403/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia TTX giai đoạn 2014-2020 với các hoạt động được phân công cho các ngành và địa phương. Căn cứ theo Quyết định số 403/QĐ-TTg đã có 8 Bộ và cơ quan ngang Bộ ban hành Kế hoạch hành động chiến lược TTX gồm: Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội.
Ngày 01/10/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1658/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về TTX giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050. Chiến lược góp phần thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; đạt được thịnh vượng về kinh tế, bền vững về môi trường, công bằng về xã hội. Để cụ thể hóa Chiến lược quốc gia về TTX, Thủ tưởng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 882/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về TTX giai đoạn 2021-2030.
Thực hiện Chiến lược quốc gia về TTX, ngày 20/10/2015, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 2183/QĐ-BTC về Kế hoạch hành động của ngành Tài chính thực hiện Chiến lược quốc gia về TTX đến năm 2020. Theo đó, Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi chính sách thuế bảo vệ môi trường theo hướng bổ sung đối tượng thu; điều chỉnh mức điều tiết nhằm hạn chế sử dụng những hàng hóa gây tác động xấu đến môi trường sinh thái, từ đó góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường.
Theo Trương Bá Tuấn (2024), các chính sách ưu đãi thuế thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng xanh cũng đã được sửa đổi, bổ sung một cách đồng bộ. Trong đó, pháp luật về thuế thu nhập DN (TNDN) hiện hành quy định ưu đãi thuế suất 10% cho suốt đời dự án đối với các DN hoạt động trong lĩnh vực môi trường; thực hiện miễn thuế tối đa không quá 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá 9 năm tiếp theo đối với các DN thành lập mới hoạt động trong lĩnh vực môi trường...
Nhìn chung, việc ban hành cơ chế, chính sách thúc đẩy TTX trong những năm qua là cơ sở pháp lý quan trọng để làm căn cứ, định hướng triển khai trong thực tiễn, từ đó giúp huy động hiệu quả nguồn lực tài chính cho TTX ở Việt Nam, hướng tới phát triển bền vững theo mục tiêu, kế hoạch đã đề ra.
THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CHO TĂNG TRƯỞNG XANH Ở VIỆT NAM
Kết quả huy động nguồn lực tài chính cho tăng trưởng xanh
Việt Nam đã đặt ra những mục tiêu kỳ vọng rất cao, đó là phấn đấu đến năm 2050 giảm phát thải ròng carbon bằng 0; quy mô nền kinh tế xanh từ 6,7 tỷ USD năm 2020 lên đến 300 tỷ USD trong tổng GDP quốc gia vào năm 2050. Để đạt mục tiêu đầy tham vọng này, thời gian qua, Việt Nam đã tăng cường huy động nguồn lực tài chính thông qua các kênh huy động từ trong nước và nước ngoài.
Theo TS. Vũ Nhữ Thăng và ThS. Nguyễn Thị Hải Bình (2024), Việt Nam là nước đứng thứ 2 về phát hành trái phiếu xanh tại ASEAN với 1,5 tỷ USD năm 2021, cao hơn 5 lần so với năm 2020. Việt Nam có thể thu hút khoảng 753 tỷ USD vốn đầu tư cho khí hậu từ năm 2016-2030; khoảng 15,5 tỷ USD thông qua nguồn vốn đầu tư công và tư nhân của các quốc gia G7, để hỗ trợ giảm mức độ sử dụng than; 1,7 tỷ USD doanh thu mà các tổ chức tài chính có thể thu hút được từ phát hành trái phiếu để tài trợ cho các dự án môi trường - xã hội - quản trị doanh nghiệp (ESG); 134 triệu USD do quỹ Anh Quốc hỗ trợ để thúc đẩy tài chính xanh ở Đông Nam Á.
Năm 2022, Việt Nam cùng nhóm các nước đối tác quốc tế (International Partners Group - IPG), đứng đầu là Liên minh châu Âu và Vương quốc Anh đã thiết lập thỏa thuận Đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP). Thỏa thuận JETP được ký kết vào ngày 14/12/2022 và sẽ có ít nhất 15,5 tỷ USD được tài trợ cho vay ưu đãi trong 3 - 5 năm, hỗ trợ cho quá trình chuyển dịch năng lượng công bằng.
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhu cầu tài chính cho các biện pháp giảm phát thải trong từng lĩnh vực theo cam kết môi trường của Việt Nam đến năm 2030 là khoảng 68,75 tỷ USD. Trong đó, nguồn quốc gia tự thực hiện dự báo khoảng gần 25 tỷ USD, chiếm 36% và nhu cầu đối với nguồn lực hỗ trợ của quốc tế dự kiến khoảng 44 tỷ USD, chiếm 64%.
Bên cạnh đó, tổng nhu cầu tài chính tăng thêm của Việt Nam để xây dựng khả năng chống chịu và khử carbon có thể lên tới 368 tỷ USD trong giai đoạn 2022-2040, hay xấp xỉ 6,8% GDP mỗi năm. Trong đó, lộ trình xây dựng khả năng chống chịu chiếm khoảng 2/3 số tiền, do cần huy động lượng vốn đáng kể để bảo vệ tài sản và cơ sở hạ tầng cũng như những người dân dễ bị tổn thương.
Ngoài nguồn lực từ Nhà nước, các DN có thể tiếp cận nguồn vốn từ Quỹ Ủy thác tín dụng xanh (GCTF), Quỹ Đầu tư xanh (GIF), Quỹ Hợp tác khí hậu toàn cầu (KfW), Chương trình tiết kiệm năng lượng cho các dự án của các DN công nghiệp (VEEIEs)... Đây là những quỹ, chương trình dành ưu đãi nhất định cho các DN có dự án đầu tư tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường. Trong đó, GCTF cấp tín dụng cho các DN đầu tư vào các hệ thống sản xuất sạch hơn và các giải pháp tiết kiệm năng lượng. Nếu các công nghệ mới giúp giảm phát thải ít nhất là 30%, người vay sẽ được hưởng 15% số nợ dịch vụ được tài trợ; nếu giảm phát thải từ 30 - 50%, tỷ lệ trợ cấp sẽ là 25%...
Những khó khăn, thách thức
Bên cạnh kết quả đạt được trên, việc huy động nguồn lực tài chính cho TTX ở Việt Nam trong thời gian qua cũng gặp không ít khó khăn, thách thức như:
Một là, mặc dù phân bổ nguồn lực ưu tiên cho mục tiêu TTX, nhưng thực tế nguồn ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng được phần nào cho các hoạt động TTX. Theo tính toán của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính), việc bố trí ngân sách nhà nước chi cho biến đổi khí hậu và TTX ở nước ta chỉ đáp ứng được khoảng 25% yêu cầu.
Hai là, cơ chế, chính sách về TTX, phát triển bền vững còn thiếu tính đồng bộ. Thực tế cho thấy, hiện nay, nước ta chưa có chính sách ưu đãi để thu hút các DN trong nước và các tổ chức quốc tế tham gia vào tiến trình TTX ở Việt Nam.
Ba là, nhận thức của các DN, nhà đầu tư về tầm quan trọng của nguồn vốn đối với TTX còn hạn chế. Tại các cơ sở giáo dục đào tạo, ngành công nghiệp xanh là ngành nghề mới, nên chưa có nhiều cơ sở tiến hành đầu tư xây dựng lộ trình, chương trình học đối với ngành nghề này.
Bốn là, việc phân bổ và sử dụng nguồn tài chính cho TTX cũng đặt ra những thách thức lớn đối với điều hành chính sách tài chính vĩ mô. Nguyên nhân là do thị trường tài chính dựa nhiều vào hệ thống ngân hàng; Các tổ chức tài chính chưa chú trọng tới hỗ trợ đầu tư phát triển nền kinh tế xanh; Các công cụ tài chính xanh vừa mới phát triển và đang trong giai đoạn thử nghiệm; Cơ sở hạ tầng tài chính còn nhiều hạn chế…
Định hướng giải pháp trong thời gian tới
Để khắc phục những khó khăn, thách thức trên, cũng như thu hút nguồn lực thúc đẩy TTX ở Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:
Thứ nhất, tiếp tục đa dạng hóa nguồn lực tài chính trong và ngoài nước thông qua hoạt động đầu tư của DN thuộc các thành phần kinh tế, huy động nguồn lực tài chính, hệ thống các ngân hàng thương mại, thị trường chứng khoán. Đẩy mạnh thu hút sự tham gia của khu vực tư nhân, nguồn đầu tư nhà nước và nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), tạo chất xúc tác để thu hút, hình thành môi trường thuận lợi cho khu vực tư nhân tham gia đầu tư vào lĩnh vực biến đổi khí hậu, TTX.
Thứ hai, rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách về TTX, phát triển bền vững đảm bảo đồng bộ, không chồng chéo. Đồng thời, ban hành các cơ chế, chính sách nhằm thu hút các DN, nhà đầu tư trong nước và các tổ chức quốc tế tham gia vào tiến trình chuyển đổi xanh ở Việt Nam.
Thứ ba, tăng cường tuyên truyền, phổ biến các chính sách mới liên quan tới TTX cho DN, người dân và các chủ thể khác, để nâng cao nhận thức về TTX trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Thứ tư, phát triển thị trường tài chính xanh và coi thị trường tài chính xanh là kênh huy động vốn quan trọng cho DN và nền kinh tế. Để đạt hiệu quả thực chất trong phát triển thị trường tài chính xanh, thì cần hình thành và phát triển các sản phẩm tài chính mới để hỗ trợ ngành công nghiệp xanh. Khuyến khích đầu tư vào các hoạt động kinh doanh và tiêu dùng sản phẩm thân thiện với môi trường.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu chính sách tài chính cho TTX, thực trạng huy động vốn cho TTX ở Việt Nam, có thể khẳng định, nguồn lực tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu TTX ở nước ta. Để huy động nguồn lực tài chính thúc đẩy TTX, cần thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu.
Đồng thời, xây dựng và ban hành các chính sách khuyến khích và thúc đẩy sử dụng công nghệ thân thiện môi trường; hình thành thị trường mua sắm công xanh; huy động các nguồn lực, cơ chế tài chính trong và ngoài nước để đạt mục tiêu TTX trong tương lai.
Tài liệu tham khảo:
1. Dương Thị Tuyết Nhung (2022). Chính sách tăng trưởng xanh của Việt Nam: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện, truy cập tại https://tapchitaichinh.vn/chinh-sach- tang-truong-xanh-cua-viet-nam-thuc-trang-va-giai-phap-hoan-thien.html.
2. Đỗ Diệu Hương, Vũ Thị Bích Quỳnh (2025). Huy động nguồn lực cho tăng trưởng xanh ở Việt Nam, truy cập tại https://tapchitaichinh.vn/huy-dong- nguon-luc-cho-tang-truong-xanh-o-viet-nam.html.
3. Liên hợp quốc (2011). Hướng tới một nền kinh tế xanh: Con đường dẫn đến phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo, truy cập tháng 7/2023.
4. Thu Hà (2023). Tăng trưởng xanh tại Việt Nam - Bài 1: Những vấn đề đặt ra, truy cập tại https://moitruong.net.vn/tang-truong-xanh-tai-viet-nam- bai-1-nhung-van-de-dat-ra-59431.html.
5. Trương Bá Tuấn (2024). Chính sách tài chính thúc đẩy tăng trưởng xanh ở Việt Nam, Tạp chí Tài chính kỳ 1 tháng 12/2024.
(Theo Tạp chí Kinh tế - Tài chính, kỳ 2 tháng 6/2025)
Cùng chủ đề: Huy động nguồn lực cho tăng trưởng xanh
Tin tức khác
Loạt chính sách kinh tế mới có hiệu lực từ tháng 9/2026
Thuốc lá lậu trên không gian số: Bài toán cần tính đến trong chính sách kiểm soát thuốc lá
Việt Nam tạo thêm “điểm cộng” để hút dòng vốn quốc tế
Giảm áp lực chi phí đất đai, tăng khả năng dự liệu cho doanh nghiệp
Bộ Tài chính hướng dẫn kế toán các khoản vay, trả nợ của Chính phủ
Đầu tư của sinh viên ngành Tài chính: Hiện tượng FOMO tài chính và một số khuyến nghị
Kịp thời ngăn chặn vụ lừa đảo, giả danh cán bộ cơ quan bảo hiểm xã hội
PODCAST: Bộ Tài chính đề xuất siết chi tiền mặt và mở rộng thanh toán qua tài khoản qua Kho bạc
VIDEO: Cải cách quản lý thuế hải quan: Bước tiến thực chất từ Nghị định 252 và Thông tư 86
VIDEO: Bất ngờ thành chủ doanh nghiệp ma: Cảnh báo bẫy lừa từ lộ thông tin cá nhân
PODCAST: Bộ Tài chính ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 19 về đổi mới mô hình phát triển
PODCAST: Kỳ họp không thường lệ thứ nhất: Khơi thông nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng
Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi Luật Đấu thầu thuận lợi hóa quy trình, thủ tục lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư
Điều chỉnh cơ chế vốn cho các dự án phục vụ APEC 2027 tại Phú Quốc
Thủ tướng yêu cầu gỡ vướng, đẩy nhanh tiến độ các cao tốc phía Bắc
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Lễ kỷ niệm 81 năm Quốc khánh 2/9
Từ chính sách giảm thuế đến động lực tăng trưởng bền vững
Bộ Tài chính triển khai Phần mềm theo dõi, xử lý nhà, đất dôi dư trên toàn quốc
Không để chậm ban hành văn bản hướng dẫn luật, nghị quyết mới
Giảm thuế tiếp sức cho hộ kinh doanh và doanh nghiệp, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế
Đảng bộ Bộ Tài chính ghi dấu ấn tại Hội thi Báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi toàn quốc năm 2026
TP. Hồ Chí Minh chọn mô hình nào để phát triển trung tâm outlet?
Mở rộng không gian tăng trưởng từ tài nguyên văn hóa
Khoa học, công nghệ và dữ liệu: Nền tảng để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh
Xuất khẩu Hà Nội 8 tháng tăng 8%, nhập khẩu tăng mạnh phục vụ sản xuất
“Đánh thức” kinh tế Cà Mau bằng số vốn đầu tư trên 439.000 tỷ đồng
Kiến tạo thương hiệu quốc gia từ sức mạnh kinh tế tư nhân
Gỡ điểm nghẽn đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng hơn 10 tỷ USD vốn đầu tư
Toyota Việt Nam mở rộng đầu tư dự án hiện đại hóa nhà máy sản xuất ô tô tại Phú Thọ











