aa

Thu hút tài chính khí hậu quốc tế vào các lĩnh vực nhằm đạt mục tiêu Net Zero của Việt Nam

09:08 | 14/03/2026
Việt Nam đang trong tiến trình thực hiện cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050. Quá trình chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng carbon thấp tạo ra khoảng trống đầu tư lớn mà nguồn lực nội tại chưa thể đáp ứng. Bài viết này phân tích cấu trúc nhu cầu vốn dựa trên dữ liệu từ Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC 2022) và các báo cáo quốc tế để xác định vai trò của tài chính khí hậu quốc tế đối với từng lĩnh vực kinh tế. Kết quả nghiên cứu chỉ ra sự phân hóa sâu sắc về mức độ phụ thuộc vào nguồn vốn ngoại. Nông nghiệp và công nghiệp có nhu cầu tỷ lệ vốn quốc tế trên vốn tự lực cao nhất, phản ánh nhu cầu cấp thiết về công nghệ và hỗ trợ kỹ thuật. Lĩnh vực năng lượng thâm dụng vốn lớn nhất, đòi hỏi tới 76% phần vốn tăng thêm từ quốc tế. Ngược lại, lĩnh vực lâm nghiệp thể hiện khả năng tự chủ cao. Trên cơ sở đó, viết đề xuất chuyển dịch chiến lược từ thu hút vốn dàn trải sang phân bổ dựa trên hiệu quả đòn bẩy, ưu tiên cho các lĩnh vực phụ thuộc công nghệ; áp dụng tài chính hỗn hợp cho lĩnh vực năng lượng; đồng thời minh bạch hóa danh mục xanh để cải thiện môi trường đầu tư.

TS..Trần Thị Thu Hường

Học viện Ngân hàng

Email: [email protected]

ATTRACTING INTERNATIONAL CLIMATE FINANCE INTO KEY SECTORS TO ACHIEVE VIET NAM’S NET ZERO TARGET

Summary

Viet Nam is in the process of implementing its commitment to achieve net-zero emissions by 2050. The transition toward a low-carbon growth model has created a substantial investment gap that cannot be fully met by domestic resources alone. This article analyzes the structure of capital demand based on data from the Nationally Determined Contribution (NDC 2022) and international reports to identify the role of international climate finance across different economic sectors. The findings reveal a pronounced differentiation in the degree of reliance on external capital. Agriculture and industry exhibit the highest ratios of international to domestic financing needs, reflecting urgent demands for technology transfer and technical assistance. The energy sector is the most capital-intensive, requiring up to 76% of additional investment from international sources. In contrast, the forestry sector demonstrates relatively high financial self-reliance. On this basis, the article proposes a strategic shift from broad-based capital mobilization toward leverage-effect–oriented allocation, prioritizing technology-dependent sectors; the application of blended finance instruments in the energy sector; and enhanced transparency of the green project pipeline to improve the investment environment.

Keywords: Net Zero, climate finance, capital leverage

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam đang đứng trước thời điểm mang tính bước ngoặt, đối mặt với yêu cầu giải quyết đồng thời hai bài toán chiến lược là phấn đấu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045 và thực hiện cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050 theo tuyên bố tại Hội nghị COP26. Để hiện thực hóa tầm nhìn này, mô hình tăng trưởng kinh tế dựa trên thâm dụng tài nguyên và lao động giá rẻ trước đây đã không còn phù hợp. Thay vào đó, Việt Nam buộc phải thực hiện quá trình chuyển dịch mô hình tăng trưởng sang hướng bền vững, carbon thấp và nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, lộ trình chuyển dịch này đặt ra những thách thức khổng lồ về mặt tài chính. Theo các kịch bản phát thải ròng được xây dựng để định hướng hành động quốc gia, lượng phát thải khí nhà kính của Việt Nam dự báo sẽ đạt đỉnh vào năm 2030 (khoảng 450 triệu tấn CO2tđ) trước khi giảm mạnh xuống 150-200 triệu tấn CO2tđ vào năm 2040. Điều này hàm ý rằng, giai đoạn sau năm 2030 sẽ đòi hỏi những nỗ lực giảm thiểu quyết liệt và tập trung nhất, đi kèm với nhu cầu đầu tư quy mô lớn trên toàn nền kinh tế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư; The Boston Consulting Group, 2023).

Mặc dù, tính cấp thiết của chuyển đổi xanh đã được xác định rõ, nhưng khả năng huy động nguồn lực thực tế lại đang có khoảng cách lớn so với nhu cầu. Theo tính toán của Ngân hàng Thế giới (2022), để đạt được các mục tiêu phát triển và khí hậu đã đề ra, Việt Nam cần khoản đầu tư bổ sung lũy kế khoảng 368 tỷ USD trong giai đoạn 2022-2040, tương đương khoảng 6,8% GDP mỗi năm. Trong đó, nhu cầu vốn cho xây dựng khả năng thích ứng khoảng 254 tỷ USD và nhu cầu cho lộ trình khử carbon là 114 tỷ USD. Nếu xét trong dài hạn đến năm 2050 theo kịch bản tối ưu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư & The Boston Consulting Group (2023), tổng nhu cầu huy động thêm có thể lên tới 872 tỷ USD theo giá trị không chiết khấu.

Trong bối cảnh nguồn lực trong nước, bao gồm vốn đầu tư công và tín dụng ngân hàng còn hạn chế, việc huy động tài chính khí hậu quốc tế không chỉ là một giải pháp bổ sung mà trở thành yếu tố quan trọng để Việt Nam đạt được các mục tiêu giảm phát thải lớn. Dữ liệu từ Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC cập nhật 2022) chỉ ra rằng, với nguồn lực tự có (kịch bản không điều kiện), Việt Nam chỉ có thể giảm 15,8% tổng lượng phát thải vào năm 2030, tương ứng nhu cầu vốn khoảng 21,7 tỷ USD. Tuy nhiên, nếu có sự hỗ trợ quốc tế đầy đủ (kịch bản có điều kiện), mức giảm phát thải có thể nâng lên 43,5%, nhưng nhu cầu tài chính cũng tăng mạnh lên 86,8 tỷ USD (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2022). Sự chênh lệch này cho thấy, vai trò đòn bẩy của dòng vốn quốc tế là rất lớn. Vì vậy, việc phân tích cấu trúc nhu cầu vốn giữa các kịch bản không điều kiện và hỗ trợ quốc tế dựa trên dữ liệu từ báo cáo của các cơ quan, tổ chức để xác định các lĩnh vực đòn bẩy và đề xuất các giải pháp thu hút, phân bổ tài chính khí hậu quốc tế hiệu quả nhằm hiện thực hóa mục tiêu Net Zero của Việt Nam là cần thiết.

NHU CẦU TÀI CHÍNH KHÍ HẬU QUỐC TẾ TĂNG THÊM PHÂN THEO LĨNH VỰC ĐẾN NĂM 2030

Thu hút tài chính khí hậu quốc tế vào các lĩnh vực nhằm đạt mục tiêu Net Zero của Việt Nam

Số liệu ở Bảng 1 cho thấy, có sự chênh lệch đáng kể về nhu cầu tài chính giữa việc duy trì kịch bản phát triển thông thường và việc theo đuổi các mục tiêu khí hậu tham vọng hơn.

Để thực hiện mức đóng góp không điều kiện (giảm 15,8% phát thải vào năm 2030), Việt Nam cần huy động khoảng 21,7 tỷ USD. Đây là nguồn lực dự kiến đến từ ngân sách nhà nước, vốn vay và đầu tư của doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, để đạt được mức đóng góp có điều kiện (giảm 43,5% phát thải vào năm 2030) - kịch bản tiệm cận hơn với lộ trình Net Zero, tổng nhu cầu tài chính tăng mạnh lên khoảng 86,83 tỷ USD (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2022). Như vậy, để nâng mức giảm phát thải thêm 27,7 điểm phần trăm, từ 15,8% lên 43,5%, Việt Nam cần huy động thêm nguồn lực từ quốc tế và các nguồn khác khoảng 51,6 tỷ USD. Điều này chỉ ra rằng, phần lớn chi phí cận biên cho các giải pháp giảm phát thải sâu phụ thuộc vào khả năng tiếp cận tài chính quốc tế.

Đi sâu phân tích cơ cấu nhu cầu tài chính cho 5 lĩnh vực chính trong giai đoạn 2021-2030, kết quả cho thấy sự phân hóa rõ rệt về mức độ phụ thuộc vào hỗ trợ quốc tế (Bảng 2).

Thu hút tài chính khí hậu quốc tế vào các lĩnh vực nhằm đạt mục tiêu Net Zero của Việt Nam

Số liệu ở Bảng 2 cho thấy, nhu cầu vốn khổng lồ mà còn phán ánh một thực tế quan trọng đó là lộ trình nâng mức cam kết giảm phát thải của Việt bị chi phối mạnh bởi khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế. Sự phụ thuộc này không đồng đều mà phân hóa sâu sắc giữa các lĩnh vực. Có thể thấy nông nghiệp và công nghiệp (IP) là 2 lĩnh vực có tỷ lệ vốn quốc tế trên vốn tự lực cao nhất, lần lượt là 6,7 lần và 5,3 lần. Sự chênh lệch lớn này không chỉ đơn thuần là vấn đề thiếu hụt tài chính, mà nó phản ánh nhu cầu cấp thiết về công nghệ tiên tiến và thay đổi cấu trúc hạ tầng để tạo ra bước ngoặt giảm phát thải, là những yếu tố mà nguồn lực nội tại chưa thể tự đáp ứng. Cụ thể là:

Thứ nhất, đối với lĩnh vực nông nghiệp: Đây là ngành có mức độ phụ thuộc vào tài chính quốc tế kỷ lục. Với khả năng tự lực chỉ dừng lại ở mức 2,1 tỷ USD, ngành này cần huy động tới 14,0 tỷ USD từ nguồn hỗ trợ quốc tế để đạt mục tiêu có điều kiện. Tỷ lệ đòn bẩy lên tới 6,7 lần có thể được lý giải bởi các nguyên nhân như: Nông nghiệp Việt Nam đặc trưng bởi quy mô nông hộ nhỏ lẻ, manh mún. Việc chuyển đổi sang mô hình phát thải thấp đòi hỏi chi phí đầu tư hạ tầng đồng bộ trên diện rộng, vượt quá khả năng chi trả của từng hộ nông dân hay ngân sách địa phương. Để giảm phát thải khí metan nguồn phát thải chính trong nông nghiệp, cần áp dụng các quy trình canh tác tiên tiến hay công nghệ xử lý phụ phẩm nông nghiệp. Những giải pháp này đòi hỏi chuyển giao kỹ thuật và thiết bị từ các nước phát triển.

Thứ hai, đối với các lĩnh vực công nghiệp (IP): Mặc dù quy mô vốn tuyệt đối không lớn, nhưng tỷ lệ đòn bẩy của ngành này rất cao (gấp 5,3 lần), với nguồn vốn tự lực chỉ có 0,3 tỷ USD so với nhu cầu hỗ trợ quốc tế là 1,6 tỷ USD. Khác với lĩnh vực năng lượng có thể chuyển sang điện gió/mặt trời, phát thải trong các quá trình công nghiệp (như sản xuất xi măng, hóa chất, thép) sinh ra từ phản ứng hóa học của nguyên liệu. Để khử lượng carbon này, các giải pháp cải thiện hiệu suất thông thường (vốn tự lực 0,3 tỷ USD có thể đáp ứng) là không đủ. Phần nhu cầu 1,6 tỷ USD từ quốc tế chính là chi phí để nhập khẩu và áp dụng các công nghệ có chi phí cao, như thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS) hoặc chuyển đổi sang công nghệ sản xuất thép xanh bằng hydro. Đây là những công nghệ mà doanh nghiệp Việt Nam chưa làm chủ được và chi phí đầu tư ban đầu quá cao, nếu không có hỗ trợ tài chính khí hậu. Ngành sản xuất xi măng - nguồn phát thải lớn trong nhóm IP - đang đối mặt với áp lực chuyển đổi công nghệ nung clinker và sử dụng phụ gia thay thế để đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế (như CBAM của châu Âu). Các dự án thử nghiệm thu hồi nhiệt thừa hay chuyển đổi nhiên liệu trong lò nung hiện nay phần lớn đều gắn liền với các khoản vay hoặc hỗ trợ kỹ thuật từ các tổ chức quốc tế như JICA hay UNDP.

Trong bức tranh tổng thể về nhu cầu tài chính khí hậu đến năm 2030, năng lượng không chỉ là lĩnh vực thâm dụng vốn lớn nhất về quy mô tuyệt đối mà còn là nơi diễn ra sự chuyển dịch dòng vốn mạnh mẽ nhất từ nội lực sang ngoại lực. Số liệu cho thấy, để nâng mức đóng góp từ kịch bản tự lực (14,5 tỷ USD) lên kịch bản có điều kiện (60,6 tỷ USD), ngành năng lượng cần huy động thêm một lượng vốn khổng lồ là 46,1 tỷ USD từ quốc tế. Tỷ lệ vốn quốc tế so với vốn tự lực là 3,2 lần, đồng nghĩa với việc dòng vốn ngoại phải gánh vác hơn 75% phần nhu cầu tăng thêm. Sự chênh lệch và phụ thuộc này xuất phát từ những nguyên nhân cốt lõi sau:

Thứ nhất, chi phí chuyển đổi công nghệ nguồn điện: Đây là rào cản then chốt trong lộ trình thực hiện mục tiêu Net Zero của Việt Nam. Nguồn vốn tự lực khoảng 14,5 tỷ USD chủ yếu phản ánh khả năng duy trì, cải tạo và mở rộng có chọn lọc các nguồn điện hiện hữu hoặc các công nghệ phát điện truyền thống đã tương đối hoàn thiện về mặt thương mại như thủy điện nhỏ và nhiệt điện khí trong nước. Trong khi đó, quá trình loại bỏ dần các dự án nhiệt điện than và thay thế bằng các nguồn năng lượng tái tạo quy mô lớn đòi hỏi mức đầu tư vượt xa năng lực tài chính nội tại của hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp trong nước. Đặc biệt, điện gió ngoài khơi không chỉ có suất đầu tư rất lớn (cao gấp 2–3 lần so với điện than truyền thống) mà còn đòi hỏi công nghệ thi công phức tạp, chuỗi cung ứng chuyên biệt và năng lực quản trị rủi ro cao trong suốt vòng đời dự án. Theo Quy hoạch điện VIII, mục tiêu phát triển 6.000 MW điện gió ngoài khơi đến năm 2030 đặt ra áp lực vốn cực kỳ lớn, vượt quá khả năng cấp tín dụng dài hạn của các ngân hàng thương mại trong nước do hạn chế về quy mô vốn, kỳ hạn cho vay và chi phí vốn cao. Trong bối cảnh đó, nguồn vốn quốc tế 46,1 tỷ USD đóng vai trò then chốt trong việc giảm thiểu rủi ro tài chính, kéo dài kỳ hạn vốn và tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, qua đó “mở khóa” các dự án năng lượng tái tạo chiến lược có quy mô lớn và hàm lượng công nghệ cao.

Thứ hai, áp lực đầu tư hạ tầng lưới điện thông minh ngày càng trở nên rõ nét trong bối cảnh cơ cấu nguồn điện của Việt Nam đang dịch chuyển mạnh sang các nguồn năng lượng tái tạo như điện gió và điện mặt trời. Đặc tính phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và biến động theo thời gian của các nguồn năng lượng này làm gia tăng rủi ro mất cân đối cung – cầu điện năng, đòi hỏi hệ thống lưới điện không chỉ đóng vai trò truyền tải đơn thuần mà còn phải có khả năng giám sát, điều khiển và điều độ linh hoạt theo thời gian thực. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nâng cấp toàn diện lưới điện hiện hữu theo hướng lưới điện thông minh, tích hợp các công nghệ số như hệ thống đo đếm thông minh, trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn, cũng như các giải pháp lưu trữ năng lượng nhằm ổn định tần số và điện áp. Tuy nhiên, đầu tư cho hạ tầng lưới điện truyền tải và phân phối thường có suất đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn kéo dài và tỷ suất sinh lời thấp, trong khi chịu sự điều tiết chặt chẽ về giá điện và cơ chế thu hồi vốn. Điều này khiến khu vực tư nhân, đặc biệt là các nhà đầu tư trong nước, tỏ ra thận trọng và thiếu động lực tham gia. Bên cạnh đó, mô hình độc quyền tự nhiên trong truyền tải điện, cùng với các hạn chế về khung pháp lý cho hợp tác công - tư (PPP), càng làm gia tăng rào cản huy động nguồn lực xã hội cho phát triển lưới điện thông minh. Do đó, nếu không có cơ chế chính sách đủ hấp dẫn và các công cụ tài chính hỗ trợ phù hợp, áp lực đầu tư hạ tầng lưới điện thông minh có thể trở thành nút thắt lớn, cản trở quá trình chuyển dịch năng lượng bền vững trong trung và dài hạn.

Thứ ba, vai trò của vốn mồi và chia sẻ rủi ro: Tỷ lệ đòn bẩy 3,2 lần phản ánh thực tế rằng các dự án năng lượng xanh tại Việt Nam vẫn bị thị trường tài chính quốc tế đánh giá là có rủi ro cao về chính sách, pháp lý, tỷ giá. Để thu hút được dòng vốn tư nhân quốc tế tham gia vào phần thiếu hụt 46,1 tỷ USD, cần có một lượng vốn hỗ trợ đóng vai trò vốn mồi để giảm thiểu rủi ro. Cơ chế Đối tác Chuyển dịch Năng lượng Công bằng (JETP) mà Việt Nam tham gia, với cam kết huy động 15,5 tỷ USD ban đầu từ nhóm các nước G7 và đối tác, chính là minh chứng rõ nét nhất cho sự phụ thuộc này. Nếu không có dòng vốn cam kết này để hỗ trợ chính sách và hạ tầng, lộ trình chuyển dịch năng lượng của Việt Nam sẽ khó đạt được tốc độ như kỳ vọng trong kịch bản có điều kiện.

Bên cạnh bức tranh phụ thuộc lớn vào vốn ngoại của các ngành phát thải cao, số liệu từ Bảng 2 cũng cho thấy, những điểm sáng về năng lực nội tại và những khoảng trống công nghệ cụ thể cần lấp đầy. Cụ thể, lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF) là lĩnh vực duy nhất mà nguồn vốn tự lực (3,9 tỷ USD) vượt trội đáng kể so với nhu cầu hỗ trợ từ quốc tế (1,6 tỷ USD). Tỷ lệ vốn quốc tế trên vốn tự lực chỉ là 0,4 lần, thấp nhất trong tất cả các ngành được khảo sát. Sự đảo chiều này phản ánh đặc thù của ngành lâm nghiệp Việt Nam, vốn dựa nhiều vào các yếu tố nội địa, như tài nguyên đất, lao động và cơ chế chính sách, hơn là công nghệ đắt tiền nhập khẩu. Số liệu này minh chứng rằng, Việt Nam đang nắm giữ thế chủ động lớn trong việc duy trì và mở rộng bể hấp thụ carbon. Do đó, dòng vốn quốc tế 1,6 tỷ USD trong lĩnh vực này không nên tập trung vào việc trồng rừng cơ bản, mà cần hướng vào nâng cao chất lượng rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và kỹ thuật đo đếm trữ lượng carbon để tham gia thị trường tín chỉ carbon quốc tế.

Lĩnh vực quản lý chất thải thể hiện một trạng thái cân bằng tương đối nhưng vẫn nghiêng về nhu cầu hỗ trợ. Với vốn tự lực 0,9 tỷ USD và nhu cầu quốc tế 1,8 tỷ USD, tỷ lệ đòn bẩy là 2,0 lần. Điều này có nghĩa là, cứ 1 đồng vốn trong nước bỏ ra cho thu gom, vận chuyển, cần thêm 2 đồng vốn quốc tế để xử lý triệt để. Sự chênh lệch này phản ánh khoảng cách về trình độ công nghệ. Nguồn vốn nội lực hiện nay chủ yếu giải quyết các khâu cơ bản (thu gom, chôn lấp hợp vệ sinh). Tuy nhiên, để đạt mục tiêu giảm phát thải khí metan, ngành chất thải buộc phải chuyển dịch sang các công nghệ xử lý tiên tiến, thu hồi khí bãi rác hay tái chế tuần hoàn. Đây là các công nghệ đòi hỏi vốn lớn và kỹ thuật vận hành phức tạp mà doanh nghiệp trong nước thường phải liên doanh hoặc vay vốn nước ngoài để thực hiện.

MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Từ kết quả phân tích về nhu cầu tài chính cho các mục tiêu về giảm phát thải, có thể rút ra một số hàm ý chính sách và giải pháp trong thu hút tài chính khí hậu quốc tế nhằm đạt được mục tiêu Net Zero của Việt Nam trong thời gian tới như sau:

Thứ nhất, cần có chiến lược phân bổ nguồn vốn quốc tế dựa trên đặc thù đòn bẩy của từng ngành: Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, hiệu quả biên của dòng vốn quốc tế không đồng nhất giữa các ngành. Do đó, Chính phủ cần xây dựng một cơ chế điều phối dòng vốn ODA và hỗ trợ quốc tế (như JETP) theo nguyên tắc ưu tiên vào các điểm nghẽn về công nghệ và vốn mà nội lực chưa thể đáp ứng.

Đồng thời, cần ưu tiên nguồn vốn hỗ trợ phát triển (ODA) và viện trợ không hoàn lại cho nông nghiệp và công nghiệp. Với tỷ lệ đòn bẩy quốc tế rất cao (lần lượt là 6,7 lần và 5,3 lần), hai lĩnh vực này đang đối mặt với rào cản lớn về công nghệ và chi phí chuyển đổi. Dòng vốn ưu đãi cần được hướng vào việc hỗ trợ nông dân chuyển đổi sang các mô hình canh tác lúa phát thải thấp và hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp tiếp cận các công nghệ “deep-tech” (như CCUS, hydrogen xanh) vốn có chi phí đầu tư ban đầu quá lớn so với khả năng của khu vực tư nhân trong nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2022).

Ngoài ra, cần áp dụng mô hình tài chính hỗn hợp cho lĩnh vực năng lượng: Đối với ngành năng lượng - khu vực thâm dụng vốn lớn nhất (cần 46,1 tỷ USD từ quốc tế), không thể chỉ dựa vào nguồn vốn vay công. Vốn quốc tế cần đóng vai trò là “vốn mồi” (catalytic capital) để cung cấp các công cụ giảm thiểu rủi ro (như bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ lãi suất), từ đó kích hoạt và thu hút dòng vốn đầu tư tư nhân và tín dụng thương mại vào các dự án năng lượng tái tạo quy mô lớn như điện gió ngoài khơi (Ngân hàng Thế giới, 2022).

Thứ hai, cần phát huy nội lực và cơ chế thị trường cho các lĩnh vực có tính tự chủ cao. Đối với các lĩnh vực có tỷ lệ phụ thuộc quốc tế thấp như LULUCF (0,4 lần) và một phần lĩnh vực Chất thải, chiến lược tài chính cần tập trung vào việc khơi thông nguồn lực trong nước thông qua các cơ chế chính sách. Hoàn thiện cơ chế định giá carbon và thị trường tín chỉ carbon: Việc vận hành sàn giao dịch tín chỉ các-bon trong nước sẽ tạo động lực tài chính mạnh mẽ cho lĩnh vực LULUCF và Chất thải. Nguồn thu từ bán tín chỉ rừng và giảm phát thải khí mê-tan sẽ quay lại tái đầu tư cho bảo vệ rừng và công nghệ xử lý rác, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước (Chính phủ, 2022); Tăng cường vai trò của tín dụng xanh nội địa: Ngân hàng Nhà nước cần có các chính sách khuyến khích các ngân hàng thương mại ưu tiên cấp tín dụng cho các dự án bảo vệ môi trường và xử lý chất thải có phương án thu hồi vốn khả thi, tận dụng nguồn tiền gửi trong dân cư.

Thứ ba, cần có giải pháp lấp đầy khoảng trống đầu tư thông qua minh bạch hóa và chuyển đổi số. Để thu hút hiệu quả dòng vốn quốc tế nhằm lấp đầy khoảng trống đầu tư lớn, việc cải thiện môi trường đầu tư xanh là điều kiện tiên quyết: Cần sớm đưa vào thực thi Danh mục phân loại xanh (theo Quyết định số 21/2025/QĐ- TTg, ngày 04/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh) để chuẩn hóa ngôn ngữ đầu tư, giúp các nhà đầu tư quốc tế dễ dàng thẩm định và ra quyết định, tránh rủi ro tẩy xanh; Số hóa quy trình đo đạc, báo cáo và thẩm định: Việc áp dụng công nghệ số để minh bạch hóa dữ liệu phát thải sẽ tạo niềm tin cho các nhà tài trợ quốc tế, đặc biệt là trong các cơ chế chi trả dựa trên kết quả.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu cung cấp một bức tranh về thách thức tài chính mà Việt Nam phải đối mặt trên hành trình hiện thực hóa đạt phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050. Kết quả phân tích khẳng định sự thiếu hụt nghiêm trọng của nguồn lực nội tại so với nhu cầu thực tế. Với khoảng trống đầu tư ước tính lên tới hàng trăm tỷ USD trong dài hạn, Việt Nam cần thêm các nguồn tài chính quốc tế để thực hiện các cam kết giảm phát thải sâu. Tài chính quốc tế không còn là yếu tố bổ sung mà đã trở thành điều kiện tiên quyết cho sự thành công của chiến lược khí hậu quốc gia. Xét theo lĩnh vực, có sự phân hóa sâu sắc về mức độ phụ thuộc vào nguồn vốn quốc tế giữa các ngành kinh tế thông qua chỉ số vốn quốc tế trên vốn tự lực. Kết quả định lượng cho thấy, nông nghiệp và các quá trình công nghiệp (IP) là những lĩnh vực có nhu cầu hỗ trợ về vốn và công nghệ cao nhất (tỷ lệ vốn quốc tế gấp từ 5 đến gần 7 lần vốn tự lực). Trong khi đó, năng lượng là lĩnh vực thâm dụng vốn lớn nhất về quy mô tuyệt đối, đòi hỏi sự kết hợp mạnh mẽ giữa nguồn vốn ưu đãi quốc tế và vốn đầu tư tư nhân. Ngược lại, lĩnh vực LULUCF lại là điểm sáng về khả năng tự chủ tài chính.

Dựa trên kết quả phân tích, bài viết kiến nghị sự chuyển dịch tư duy chiến lược trong tiếp cận tài chính khí hậu chuyển từ thu hút vốn dàn trải sang phân bổ vốn theo hiệu quả đòn bẩy. Thay vì áp dụng cơ chế đồng nhất, Chính phủ cần ưu tiên nguồn vốn ODA và hỗ trợ kỹ thuật cho các lĩnh vực phụ thuộc nhiều về công nghệ như nông nghiệp, công nghiệp, đồng thời sử dụng vốn quốc tế làm vốn mồi để khơi thông dòng vốn tư nhân cho hạ tầng năng lượng. Để đạt được mục tiêu Net Zero vào năm 2050, Việt Nam cần một cuộc cách mạng không chỉ về công nghệ, mà còn về chiến lược tài chính. Việc xác định đúng vai trò và mức độ phụ thuộc vào tài chính quốc tế của từng ngành sẽ giúp Việt Nam xây dựng được lộ trình huy động vốn thông minh, tránh bẫy thu nhập trung bình carbon cao và hướng tới một nền kinh tế xanh, bền vững và tự chủ.

Tài liệu tham khảo:

  1. Bain & Company, GenZero, Google, Standard Chartered, & Temasek (2025). Southeast Asia’s Green Economy: Unlocking Systems for Growth and Impact.
  2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư & The Boston Consulting Group (BCG) (2023). Tăng trưởng xanh: Cơ hội đột phá và hướng đi cho Việt Nam.
  3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2022). Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) cập nhật năm 2022.
  4. Chính phủ (2022). Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn.
  5. Ngân hàng Thế giới (World Bank Group) (2022). Vietnam Country Climate and Development Report.
  6. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg, ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050.
  7. Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 500/QĐ-TTg, ngày 15/5/2023 phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII).

Tin tức khác

Rà soát hệ thống pháp luật hướng tới gỡ điểm nghẽn, giảm chi phí cho doanh nghiệp

Rà soát hệ thống pháp luật hướng tới gỡ điểm nghẽn, giảm chi phí cho doanh nghiệp

Việc tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hướng tới tháo gỡ các điểm nghẽn, giảm chi phí tuân thủ và tạo môi trường thuận lợi hơn cho kinh doanh.
Phát triển và vận hành hiệu quả Cổng Pháp luật quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát triển và vận hành hiệu quả Cổng Pháp luật quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bộ Tư pháp triển khai 6 nhóm nhiệm vụ phát triển Cổng Pháp luật quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, tập trung kết nối dữ liệu, hoàn thiện tiện ích số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và bảo đảm vận hành an toàn, hiệu quả.
Gỡ rào cản kinh doanh vàng, tăng kiểm soát dòng tiền

Gỡ rào cản kinh doanh vàng, tăng kiểm soát dòng tiền

Nghị định số 390/2026/NĐ-CP bãi bỏ điều kiện kinh doanh vàng, tháo gỡ vướng mắc về nguyên liệu, đồng thời siết chặt quản lý dòng tiền, tăng minh bạch giao dịch.
Đề xuất phạt vi phạm hành chính tới 3 tỷ đồng, bổ sung nhiều biện pháp cưỡng chế

Đề xuất phạt vi phạm hành chính tới 3 tỷ đồng, bổ sung nhiều biện pháp cưỡng chế

Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) đề xuất nâng mức phạt tiền tối đa lên 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân, 3 tỷ đồng đối với tổ chức, đồng thời bổ sung nhiều biện pháp cưỡng chế.
Bộ Tài chính bãi bỏ 5 thủ tục về hỗ trợ lãi suất, cấp bù lãi suất

Bộ Tài chính bãi bỏ 5 thủ tục về hỗ trợ lãi suất, cấp bù lãi suất

Từ ngày 20/11/2026, Bộ Tài chính bãi bỏ 5 thủ tục hành chính trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, liên quan đến hỗ trợ lãi suất, cấp bù chênh lệch lãi suất.
Bộ Tài chính bãi bỏ 2 thủ tục hành chính trong lĩnh vực phát triển doanh nghiệp nhà nước

Bộ Tài chính bãi bỏ 2 thủ tục hành chính trong lĩnh vực phát triển doanh nghiệp nhà nước

Bộ Tài chính bãi bỏ 2 thủ tục hành chính về xử lý miễn lãi các khoản lãi chậm nộp của Quỹ Hỗ trợ sắp xếp phát triển doanh nghiệp tại Trung ương và địa phương.
Hơn 330 đề án của Bộ Tài chính được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Hơn 330 đề án của Bộ Tài chính được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Từ tháng 6/2021 đến hết tháng 6/2026, Bộ Tài chính đã trình 338 đề án thuộc phạm vi quản lý, trong đó 332 đề án được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, phục vụ công tác hoạch định chính sách và quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp được vinh danh tại Giải thưởng Chính phủ số ASOCIO 2026

Bộ Tư pháp được vinh danh tại Giải thưởng Chính phủ số ASOCIO 2026

Giải thưởng Chính phủ số ASOCIO 2026 ghi nhận những kết quả chuyển đổi số của Bộ Tư pháp, nổi bật là xây dựng Nền tảng Pháp luật số, số hóa dữ liệu và phát triển các công cụ hỗ trợ xây dựng, thi hành pháp luật.
Xem thêm
pocast dong tien chung khoan dang tim den nhung nhom nganh nao

POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?

Sau 4 tuần giảm liên tiếp, VN-Index vừa có tuần tăng 4%, đóng cửa phiên ngày 23/10 ở 1.774 điểm. Thị trường chứng khoán đã hồi phục, nhưng câu hỏi nhiều nhà đầu tư vẫn đặt ra là: tiền đang chảy vào đâu? Câu trả lời không nằm hết ở chỉ số chung. Phía sau mỗi nhịp tăng, giảm là lựa chọn của dòng vốn, dựa trên lợi nhuận và câu chuyện riêng của từng doanh nghiệp. --------------------------------- Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
podcast tai khoa nam 2027 truoc yeu cau tang truong cao va bao dam an ninh tai chinh quoc gia

PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia

Bộ Tài chính vừa công khai Báo cáo dự toán ngân sách nhà nước năm 2027 Chính phủ trình Quốc hội. Trong đó, định hướng điều hành tài chính - ngân sách tiếp tục tập trung giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao hiệu quả phân bổ, sử dụng nguồn lực, tạo động lực thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
video giai ngan von dau tu cong dat 64 6

VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%

Theo báo cáo mới nhất từ Bộ Tài chính, tính đến hết ngày 15/10/2026, lũy kế giải ngân vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước trên toàn quốc đã đạt 660.739,5 tỷ đồng, tương đương 64,6% kế hoạch do Thủ tướng Chính phủ giao. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
video hanh trinh 30 nam nganh chung khoan viet nam

VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam

Ngày 28 tháng 11 năm 1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 75/CP, thành lập Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Một cơ quan quản lý nhà nước ra đời để chuẩn bị cho một thị trường còn chưa hiện hữu tại Việt Nam. 30 năm sau, thị trường đã kết nối nguồn vốn với nhu cầu đầu tư, đồng hành cùng doanh nghiệp và mở rộng cơ hội tham gia cho hàng triệu nhà đầu tư. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: / www.financeplus.vn TikTok: / tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: / @kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày. --------------------------------------
video thu ngan sach gan 400 000 ty dong nganh hai quan tang toc so hoa cho chang nuoc rut 2026

VIDEO: Thu ngân sách gần 400.000 tỷ đồng: Ngành Hải quan tăng tốc số hóa cho chặng nước rút 2026

Ngành Hải quan vừa ghi nhận những kết quả vô cùng ấn tượng trong 9 tháng năm 2026 khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt mốc 888,03 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước. ---------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
Bán lại sau 5 năm: Không để nhà ở xã hội trở thành cơ hội đầu cơ

Bán lại sau 5 năm: Không để nhà ở xã hội trở thành cơ hội đầu cơ

Thảo luận về dự án Luật Nhà ở (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội đề nghị kiểm soát giá bán lại nhà ở xã hội sau 5 năm, tăng cường hậu kiểm và kết nối dữ liệu nhà ở, đất đai, dân cư nhằm ngăn đầu cơ, trục lợi chính sách.
Việt Nam nâng cao sức chống chịu, tạo động lực tăng trưởng mới

Việt Nam nâng cao sức chống chịu, tạo động lực tăng trưởng mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mô hình phát triển, nâng cao năng lực chống chịu và định vị Việt Nam trong kiến trúc kinh tế toàn cầu đang tái cấu trúc.
Đề xuất bổ sung hành vi tự ưu đãi, đánh giá giả, "siết" cạnh tranh trên nền tảng số

Đề xuất bổ sung hành vi tự ưu đãi, đánh giá giả, "siết" cạnh tranh trên nền tảng số

Đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung các hành vi tự ưu đãi không công bằng, đánh giá giả mạo có tổ chức và khóa chặt dữ liệu vào quy định về cạnh tranh không lành mạnh.
Xác định vị trí thống lĩnh thị trường từ ngưỡng thị phần 10% kèm sức mạnh thị trường đáng kể

Xác định vị trí thống lĩnh thị trường từ ngưỡng thị phần 10% kèm sức mạnh thị trường đáng kể

Theo Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng, doanh nghiệp có thị phần từ 10% trở lên, đồng thời có sức mạnh thị trường đáng kể có thể xác định là có vị trí thống lĩnh thị trường.
Tạo không gian thử nghiệm, hiện đại hóa hạ tầng thị trường chứng khoán

Tạo không gian thử nghiệm, hiện đại hóa hạ tầng thị trường chứng khoán

Thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán sáng ngày 28/10, các đại biểu Quốc hội cơ bản đồng tình với những nội dung sửa đổi, đồng thời đề nghị hoàn thiện cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, tăng cường bảo vệ nhà
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm, thúc đẩy hợp tác quốc tế

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm, thúc đẩy hợp tác quốc tế

Ngày 28/10, Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026 (AEF 2026) đã diễn ra phiên khai mạc và phiên đối thoại toàn thể cấp cao.Thủ tướng Lê Minh Hưng dự, phát biểu chào mừng và định hướng tại phiên khai mạc.
Sửa Luật Chứng khoán: Mở rộng cơ hội thu hút vốn ngoại, tạo thuận lợi thoái vốn nhà nước

Sửa Luật Chứng khoán: Mở rộng cơ hội thu hút vốn ngoại, tạo thuận lợi thoái vốn nhà nước

Sáng ngày 28/10, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán.
Bảo đảm nguồn vật liệu xây dựng cho các công trình trọng điểm quốc gia

Bảo đảm nguồn vật liệu xây dựng cho các công trình trọng điểm quốc gia

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu các bộ, ngành, địa phương triển khai nghiêm phương án điều phối, hỗ trợ nguồn vật liệu xây dựng thông thường giữa các tỉnh, thành phố.
AEF 2026: Thủ tướng Lê Minh Hưng đối thoại cấp cao về vị thế Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu

AEF 2026: Thủ tướng Lê Minh Hưng đối thoại cấp cao về vị thế Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu

Phiên đối thoại cấp cao giữa Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Lê Minh Hưng và Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế thế giới Stephan Mergenthaler tại AEF 2026 dự kiến tập trung vào vị thế Việt Nam.
Hà Nội tăng tốc chuyển đổi các khu công nghiệp sang mô hình sinh thái

Hà Nội tăng tốc chuyển đổi các khu công nghiệp sang mô hình sinh thái

Thành phố Hà Nội đang hướng tới mục tiêu rà soát, đánh giá toàn diện hiện trạng các khu công nghiệp đang hoạt động; xác định mức độ đáp ứng các tiêu chí khu công nghiệp sinh thái, những nội dung còn thiếu hoặc chưa đáp ứng yêu cầu, từ đó đề xuất giải pháp và lộ trình chuyển đổi phù hợp với điều kiện thực tế của từng khu công nghiệp.
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm, thúc đẩy hợp tác quốc tế

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm, thúc đẩy hợp tác quốc tế

Ngày 28/10, Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026 (AEF 2026) đã diễn ra phiên khai mạc và phiên đối thoại toàn thể cấp cao.Thủ tướng Lê Minh Hưng dự, phát biểu chào mừng và định hướng tại phiên khai mạc.
Năng lượng sạch - động lực cho tăng trưởng xanh trong kỷ nguyên mới

Năng lượng sạch - động lực cho tăng trưởng xanh trong kỷ nguyên mới

Phát triển năng lượng sạch đang trở thành yêu cầu quan trọng trong quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, bảo đảm an ninh năng lượng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Kinh tế bạc trong quy hoạch tổng thể TP. Hồ Chí Minh, tầm nhìn 100 năm

Kinh tế bạc trong quy hoạch tổng thể TP. Hồ Chí Minh, tầm nhìn 100 năm

Từ nay đến năm 2045, TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế bạc của cả nước, phát huy nguồn lực người cao tuổi gắn với an sinh xã hội.
Bài 2: Ổn định vĩ mô - Giữ nhịp tăng trưởng trước sức ép lạm phát

Bài 2: Ổn định vĩ mô - Giữ nhịp tăng trưởng trước sức ép lạm phát

Nguyên tắc kiên định ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn chính là định hướng quan trọng, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng cao gắn liền với chất lượng, hiệu quả và phát triển bền vững.
Bài 2: Phát triển “kinh tế bạc” thúc đẩy tăng trưởng cao

Bài 2: Phát triển “kinh tế bạc” thúc đẩy tăng trưởng cao

Chuyên gia cho rằng, nếu có chiến lược phù hợp, “kinh tế bạc” hoàn toàn có thể trở thành một trong những động lực tăng trưởng mới của TP. Hồ Chí Minh.
Để tăng trưởng 2 con số, cần chuyển hóa các nguồn lực thành giá trị gia tăng thực chất cho nền kinh tế

Để tăng trưởng 2 con số, cần chuyển hóa các nguồn lực thành giá trị gia tăng thực chất cho nền kinh tế

Theo TS. Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, để tăng trưởng 2 con số điều quan trọng là chuyển hóa các nguồn lực thành giá trị gia tăng thực chất cho nền kinh tế.
Khai phá “mỏ vàng” 10 tỷ USD của kinh tế tầm thấp Việt Nam

Khai phá “mỏ vàng” 10 tỷ USD của kinh tế tầm thấp Việt Nam

Dự báo đạt 10 tỷ USD vào năm 2035 và tạo khoảng 1 triệu việc làm, kinh tế tầm thấp đang mở ra một không gian tăng trưởng mới từ nông nghiệp, logistics đến cứu hộ và giám sát.
Việt Nam có nhiều lợi thế nâng vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu

Việt Nam có nhiều lợi thế nâng vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu

Thương mại nội khối ASEAN chỉ chiếm khoảng 22%, thấp hơn nhiều so với mức 60% của Liên minh châu Âu. Việt Nam và nhiều nước trong khối cần tận dụng lợi thế nâng vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu.