Để tăng trưởng 2 con số, cần chuyển hóa các nguồn lực thành giá trị gia tăng thực chất cho nền kinh tế
![]() |
| Mỗi nguồn lực phải tạo ra giá trị gia tăng thực chất. Ảnh AI minh họa. |
Phóng viên: Trong bối cảnh kinh tế thế giới năm 2026 tăng trưởng chậm lại, giá năng lượng cùng chi phí đầu vào biến động, đâu là những động lực quan trọng giúp Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số, đồng thời duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong những năm tiếp theo, thưa ông?
TS. Lê Xuân Sang: Theo tôi, trước hết phải nhìn vào lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị của Việt Nam, cùng với nền tảng ổn định chính trị. Đây là những yếu tố rất quan trọng, có tính bền vững trong bối cảnh hiện nay, tạo điều kiện để Việt Nam đón nhận sự dịch chuyển của các dòng đầu tư quốc tế, đặc biệt là FDI.
Bối cảnh mới cũng tạo cơ hội để Việt Nam nâng cao chất lượng lựa chọn dự án, hướng nhiều hơn tới dòng FDI thế hệ mới, có chất lượng, công nghệ, giá trị gia tăng cao hơn. Nếu tận dụng tốt, dòng vốn này sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, đồng thời mở thêm dư địa phát triển cho nền kinh tế.
Một yếu tố quan trọng khác là những kết quả đạt được trong ổn định kinh tế vĩ mô thời gian qua. Đánh giá quốc tế về mức độ tín nhiệm của Việt Nam đã có những cải thiện tích cực. Lợi thế địa kinh tế, địa chính trị, ổn định chính trị cùng nền tảng kinh tế vĩ mô sẽ góp phần củng cố niềm tin của cộng đồng đầu tư quốc tế lẫn trong nước, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam thu hút thêm nguồn lực phục vụ phát triển.
Phóng viên: Một số nền kinh tế lớn đang chịu sức ép do nhu cầu nội địa yếu, song xuất khẩu cùng sức cạnh tranh tiếp tục gia tăng nhờ kinh tế số, tự động hóa, kinh tế xanh. Việt Nam cần làm gì để tận dụng sự dịch chuyển chuỗi cung ứng, đồng thời hạn chế nguy cơ gia tăng phụ thuộc vào các quốc gia khác?
TS. Lê Xuân Sang: Hiện nay, mức độ phụ thuộc của Việt Nam vào một số quốc gia khác, trong đó có thể kể đến như Trung Quốc thể hiện khá rõ ở nguyên vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất. Trong khi đó, ở các lĩnh vực như kinh tế xanh, kinh tế số, đặc biệt là công nghệ mới, khả năng thu hút nguồn lực chất lượng cao vẫn còn dư địa lớn.
![]() |
| TS. Lê Xuân Sang Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới |
Trong bối cảnh Trung Quốc gặp những bất lợi nhất định trong thu hút đầu tư, Việt Nam cần xây dựng chính sách FDI đủ linh hoạt, thông minh để tận dụng dòng vốn dịch chuyển. Điều quan trọng là thu hút theo hướng tạo thêm giá trị gia tăng trong nước, thay vì tiếp tục mô hình dựa nhiều vào gia công, lao động giá rẻ.
Theo tôi, Việt Nam cần đặt ra những yêu cầu phù hợp đối với doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư tại Việt Nam, gắn thu hút đầu tư với mục tiêu phát triển của nền kinh tế. Một hướng cần quan tâm là thúc đẩy mô hình liên doanh. Khi doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào dự án FDI, khả năng tiếp nhận công nghệ, gia tăng thị phần, kiểm soát hoạt động, định hướng dự án theo mục tiêu phát triển quốc gia cũng sẽ tốt hơn.
Nếu các tập đoàn lớn đầu tư vào Việt Nam nhưng kéo theo gần như toàn bộ hệ sinh thái doanh nghiệp, nhân lực, nguồn cung của họ, trong khi Việt Nam dành nhiều ưu đãi về đất đai, đầu tư, giá trị nền kinh tế trong nước nhận được có thể chưa tương xứng. Do đó, chính sách thu hút FDI cần có tiêu chí cụ thể về giá trị gia tăng, liên kết với doanh nghiệp trong nước, sử dụng lao động, chuyển giao công nghệ cùng hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Phóng viên: Trong bối cảnh lãi suất quốc tế khó giảm sâu, lợi suất trái phiếu Mỹ có thể tăng trở lại, dòng vốn quốc tế biến động, Việt Nam cần phối hợp chính sách tài khóa, tiền tệ, tỷ giá ra sao để vừa kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, vừa tạo dư địa cho mục tiêu tăng trưởng cao?
TS. Lê Xuân Sang: Trước hết, Việt Nam cần theo dõi rất sát diễn biến thị trường tiền tệ quốc tế, đặc biệt là lãi suất, tỷ giá, lợi suất trái phiếu chính phủ. Lợi suất trái phiếu chính phủ có vai trò rất quan trọng bởi đây là mức tham chiếu đối với nhiều hoạt động trên thị trường tài chính.
Việc điều hành cần dựa trên phân tích, đánh giá, dự báo tương đối chính xác diễn biến bên ngoài. Chênh lệch lãi suất giữa Việt Nam với các thị trường lớn có thời điểm tạo áp lực lên dòng vốn, tỷ giá, song mức độ tác động thay đổi theo từng giai đoạn. Khi chênh lệch thu hẹp, áp lực dịch chuyển vốn cũng có thể giảm bớt.
Bên cạnh đó, cần chú ý tới sự dịch chuyển nguồn lực giữa các kênh đầu tư trong nước. Khi một số kênh đầu tư giảm sức hấp dẫn, dòng tiền có thể quay trở lại hệ thống ngân hàng hoặc chuyển sang các kênh khác. Đây cũng là nguồn lực cần được tính tới trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ, tài khóa, thị trường vốn.
Phóng viên: Nếu mục tiêu tăng trưởng 2 con số được đặt ra cho nhiều năm, theo ông, Việt Nam cần chuyển trọng tâm sang những động lực nào để nâng năng suất lao động, thúc đẩy công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh, mở rộng thị trường xuất khẩu?
TS. Lê Xuân Sang: Việt Nam là nền kinh tế có độ mở lớn, quan hệ kinh tế với nhiều quốc gia, do đó vẫn cần đa dạng hóa thị trường, nguồn lực, giảm thiểu rủi ro. Đầu tư cho khoa học, công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo rất cần thiết, song hiệu quả của những lĩnh vực này cần thời gian mới thể hiện đầy đủ.
Trong điều kiện hiện nay, một dư địa quan trọng là nâng cao hiệu quả vốn đầu tư. Việt Nam vẫn cần đầu tư, song vấn đề quan trọng hơn là đầu tư vào đâu, hiệu quả ra sao, cơ chế giám sát thế nào, phân kỳ dự án thế nào để hạn chế thất thoát, lãng phí. Gia tăng quy mô vốn cần đi cùng nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng vốn.
Một nguồn lực khác cần khai thác mạnh hơn là thị trường chứng khoán. Khi thị trường bước sang giai đoạn phát triển mới, Việt Nam cần tận dụng cơ hội để tăng khả năng huy động vốn cho nền kinh tế. Thực tế những năm qua, khả năng huy động vốn qua phát hành cổ phiếu, IPO vẫn còn hạn chế so với tiềm năng.
Bên cạnh thị trường cổ phiếu, Việt Nam cần tiếp tục phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Đây là kênh quan trọng nhằm cung cấp nguồn vốn trung, dài hạn, qua đó giảm bớt sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Phát triển thị trường trái phiếu còn góp phần xử lý những rủi ro liên quan đến kỳ hạn vốn, loại tiền huy động, cho vay.
Muốn thị trường này phát triển bền vững, vấn đề cốt lõi là củng cố niềm tin. Việt Nam cần xây dựng hệ thống định mức tín nhiệm đủ độc lập, có khả năng cung cấp thông tin đáng tin cậy về doanh nghiệp. Nhà đầu tư phải có cơ sở đánh giá doanh nghiệp, lịch sử tín dụng, năng lực tài chính trước khi quyết định bỏ vốn.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, vấn đề cần đặt ra là tạo điều kiện để họ tiếp cận nguồn vốn với mức lãi suất hợp lý. Nhóm doanh nghiệp này thường gặp bất lợi về tài sản bảo đảm, sổ sách, khả năng chứng minh năng lực tài chính. Nhà nước cần phát huy vai trò kiến tạo, khắc phục những thất bại của thị trường, hoàn thiện cơ chế để dòng vốn có thể đến được với doanh nghiệp có năng lực.
Phóng viên: Bên cạnh thị trường vốn, còn những dư địa nào có thể tạo động lực tăng trưởng dài hạn cho Việt Nam, thưa ông?
TS. Lê Xuân Sang: Theo tôi, cần nỗ lực thu hút FDI, đồng thời huy động mạnh hơn nguồn lực trong nước đầu tư vào các ngành kinh tế xanh, đặc biệt là năng lượng. Đây là lĩnh vực có thể đồng thời đóng góp vào ba mục tiêu: thúc đẩy tăng trưởng nhanh, hướng tới phát triển bền vững, củng cố an ninh, chủ quyền quốc gia.
Việt Nam có lợi thế rất lớn về điện gió, nhất là điện gió ngoài khơi. Có thể coi đây là một nguồn tài nguyên mới có giá trị lớn. Khai thác tốt lợi thế này vừa tạo thêm nguồn năng lượng xanh, tăng cường an ninh năng lượng, vừa mở ra khả năng xuất khẩu điện sang các quốc gia trong khu vực.
Để biến tiềm năng thành động lực tăng trưởng thực sự, trước hết cần hoàn thiện quy hoạch điện, quy hoạch không gian biển, thị trường điện cùng hệ thống hạ tầng kết nối. Các vướng mắc về cơ chế giá, phí, tiêu chuẩn kỹ thuật cũng cần được xử lý đồng bộ để tạo môi trường thuận lợi cho nhà đầu tư.
Một yêu cầu khác là hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn tài chính phục vụ các dự án xanh, bao gồm huy động vốn qua trái phiếu, tín dụng xanh, vốn ngân hàng cùng cơ chế giám sát. Các tổ chức tín dụng cần có công cụ đủ khả năng thẩm định dự án, xác định đúng dự án xanh thực chất, hạn chế tình trạng lợi dụng chính sách ưu đãi.
Nhìn rộng hơn, mục tiêu tăng trưởng cao đòi hỏi Việt Nam phải đồng thời nâng hiệu quả đầu tư, phát triển thị trường vốn, cải thiện khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ, vừa; nâng chất lượng FDI, đồng thời khai thác các lợi thế mới như năng lượng xanh.
Quan trọng nhất là mỗi nguồn lực phải được chuyển hóa thành giá trị gia tăng thực chất cho nền kinh tế.
Phóng viên: Xin cảm ơn ông!
Tin tức khác
Đổi mới thể chế: Năng lực thực thi quyết định sức bật phát triển
“Hộ chiếu vàng” cho doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán
Doanh nghiệp bất động sản cần tái cấu trúc để thích ứng với thị trường
Ưu đãi thuế thu nhập cá nhân đối với khoản đầu tư vào quỹ mở, hướng tới hành vi tiết kiệm qua đầu tư
Lãi suất cho lĩnh vực bất động sản vẫn ở mức cao tiếp tục gây áp lực lên thị trường
HOSE - Dấu ấn tạo nền tảng thị trường chứng khoán Việt Nam, khơi thông dòng vốn
Bán dẫn Việt Nam trước cột mốc 1.000 tỷ USD: Nâng tầm vị thế và hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
VIDEO: Thu ngân sách gần 400.000 tỷ đồng: Ngành Hải quan tăng tốc số hóa cho chặng nước rút 2026
Tọa đàm "Phát triển kinh tế bạc - Kiến tạo trụ cột an sinh bền vững” sẽ diễn ra vào 29/10
Việt Nam - Ba Lan: Hiện thực hóa quan hệ Đối tác chiến lược bằng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn sẽ trả lời chất vấn trước Quốc hội
Bài 1: Tăng trưởng thực chất - Sức bật phía sau những con số ấn tượng
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Bỏ giấy phép nhưng không được bỏ trống trách nhiệm quản lý
Tổ chức, cá nhân kinh doanh phải chủ động hoàn tiền thu thừa do đo lường sai
Ngăn tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi” trong kiểm định đo lường
Đề xuất phạt vi phạm hành chính tới 3 tỷ đồng, bổ sung nhiều biện pháp cưỡng chế
Việt Nam - EU và Bỉ: Dấu ấn chuyến thăm, mở rộng không gian hợp tác phát triển
Để tăng trưởng 2 con số, cần chuyển hóa các nguồn lực thành giá trị gia tăng thực chất cho nền kinh tế
Khai phá “mỏ vàng” 10 tỷ USD của kinh tế tầm thấp Việt Nam
Việt Nam có nhiều lợi thế nâng vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu
Dự án điện Việt Nam - Malaysia - Singapore có bước tiến mới
Bài 1: Khai mở không gian tăng trưởng 2 con số
Việt Nam - Ba Lan: Hiện thực hóa quan hệ Đối tác chiến lược bằng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư
Đổi mới thể chế: Năng lực thực thi quyết định sức bật phát triển
Hà Nội tạo động lực tăng trưởng mới, nâng tầm du lịch văn hóa, di sản và sự kiện quốc tế










