Kết hợp “chiều rộng” và “chiều sâu” để tăng trưởng bền vững
![]() |
| Đại biểu Quốc hội Trần Văn Lâm |
Nền tảng đủ mạnh cho tăng trưởng cao
Phóng viên: Thưa đại biểu, Chính phủ trình Quốc hội kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm với mục tiêu tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm. Ông đánh giá như thế nào về mục tiêu này, liệu đây có phải áp lực quá lớn với bộ máy điều hành?
Đại biểu Trần Văn Lâm: Theo tôi, mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn tới là có cơ sở và tính khả thi tương đối cao.
Đúng là bối cảnh quốc tế hiện nay còn nhiều biến động phức tạp, khó lường, tác động không nhỏ đến việc thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Tuy nhiên, nếu nhìn lại nhiệm kỳ trước, chúng ta đã vượt qua những thách thức rất lớn như đại dịch COVID-19 kéo dài, đứt gãy chuỗi cung ứng, xung đột địa chính trị và cả những biến động trong nước.
Những khó khăn hiện nay tuy đáng lưu ý nhưng chưa phải là thách thức vượt quá những gì chúng ta từng trải qua. Quan trọng hơn, chúng ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tiễn và năng lực điều hành.
Mục tiêu tăng trưởng hiện nay là có cơ sở, tiền đề, trước hết là nền tảng thể chế. Trong giai đoạn cuối nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật đã được đẩy mạnh, tạo khuôn khổ pháp lý ngày càng đồng bộ, minh bạch, thuận lợi hơn cho phát triển.
Thứ hai là bộ máy hành chính đã được sắp xếp, kiện toàn theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả hơn. Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp giúp bộ máy gần dân, sát dân, vận hành linh hoạt hơn và đang dần ổn định, phát huy hiệu quả.
Bên cạnh đó là nền tảng chính trị vững chắc, với sự lãnh đạo toàn diện của Đảng thông qua các nghị quyết, chương trình hành động đồng bộ trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Về tiềm lực, vị thế và nguồn lực quốc gia đã được nâng lên rõ rệt. Việt Nam đã mở rộng quan hệ đối tác chiến lược với nhiều quốc gia, đặc biệt là các nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, các nước châu Âu… Những mối quan hệ này không chỉ mở rộng thị trường mà còn tạo điều kiện thu hút đầu tư, công nghệ và nguồn lực phát triển.
Trong nước, quy mô nền kinh tế và thị trường đã tăng lên đáng kể. Dù trải qua giai đoạn khó khăn, chúng ta vẫn duy trì được tăng trưởng, thu ngân sách tăng cao, các chỉ số an toàn nợ công và tài chính quốc gia ở mức tốt. Đặc biệt, dư địa tài khóa còn tương đối rộng, tạo điều kiện để tăng đầu tư cho các dự án lớn, mang tính dẫn dắt.
Một yếu tố quan trọng khác là chất lượng tăng trưởng. Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành và triển khai nhiều chính sách thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đồng thời đầu tư cho giáo dục, y tế và phát triển nguồn nhân lực. Đây là nền tảng để nâng cao năng suất lao động - yếu tố quyết định cho tăng trưởng bền vững.
Thực tế cho thấy, chuyển đổi số ở Việt Nam thời gian qua đã có bước tiến nhanh trên nhiều lĩnh vực, từ quản lý nhà nước đến đời sống kinh tế - xã hội. Nếu tiếp tục phát huy, đây sẽ là động lực quan trọng để tạo bứt phá.
Từ những nền tảng về thể chế, bộ máy, tiềm lực và chất lượng tăng trưởng như vậy, tôi cho rằng mục tiêu tăng trưởng 2 con số là hoàn toàn khả thi và có cơ sở để phấn đấu.
Phóng viên: Trên cơ sở những tiền đề đó, theo ông, Chính phủ cần tập trung vào những giải pháp trọng tâm nào để đạt được mục tiêu tăng trưởng đề ra?
Đại biểu Trần Văn Lâm: Các giải pháp tổng thể đã được Chính phủ nêu trong báo cáo trình Quốc hội và về cơ bản là đầy đủ, toàn diện, chúng tôi đồng tình cao.
Trong quá trình triển khai, theo tôi cần đặc biệt lưu ý một số điểm mấu chốt. Trước hết, tăng trưởng trong thời gian tới vẫn phải dựa trên hai trụ cột là mở rộng quy mô (chiều rộng) và nâng cao chất lượng, năng suất (chiều sâu).
Về chiều rộng, việc đẩy mạnh đầu tư là cần thiết để mở rộng quy mô nền kinh tế, tạo hiệu ứng lan tỏa thúc đẩy tăng trưởng. Cùng với đó, cần đặc biệt quan tâm đến hiệu quả và chất lượng đầu tư, bảo đảm mỗi đồng vốn bỏ ra tạo ra giá trị gia tăng thực chất, lâu dài.
Thứ hai, yếu tố then chốt, mang tính quyết định đối với tăng trưởng bền vững vẫn là năng suất lao động. Nguồn lực đầu tư luôn có giới hạn, trong khi nâng cao năng suất là dư địa lớn và lâu dài. Muốn vậy, cần tập trung vào 2 động lực chính là khoa học công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực.
![]() |
| Yếu tố then chốt, mang tính quyết định đối với tăng trưởng bền vững vẫn là năng suất lao động. Ảnh: Internet |
Đối với khoa học công nghệ, các chủ trương, nghị quyết đã có, quan trọng là phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách đủ mạnh, đủ linh hoạt để thực sự đi vào cuộc sống, tạo ra bước ngoặt trong phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
Đối với nguồn nhân lực, cần nhìn nhận một cách toàn diện hơn. Chất lượng con người không chỉ đến từ giáo dục - đào tạo, mà còn là tổng hòa của nhiều yếu tố như sức khỏe, đạo đức, ý thức, văn hóa và môi trường xã hội. Do đó, phải đồng bộ các chính sách về giáo dục, y tế, văn hóa, an sinh xã hội… để phát triển con người một cách toàn diện.
Cuối cùng, cần nhấn mạnh rằng tăng trưởng kinh tế không thể tách rời các yếu tố nền tảng như văn hóa, giáo dục, y tế. Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển. Nếu chỉ tập trung vào các chỉ tiêu kinh tế mà xem nhẹ những yếu tố này thì sẽ khó tạo ra tăng trưởng bền vững trong dài hạn.
Lấy năng suất làm trụ cột, đầu tư công làm “vốn mồi”
Phóng viên: Trong kế hoạch đầu tư công trung hạn, Chính phủ đề xuất tổng vốn khoảng 8,2 triệu tỷ đồng, đồng thời định hướng giảm khoảng 30% số lượng dự án so với nhiệm kỳ trước. Ông đánh giá như thế nào về sự chuyển dịch này?
Đại biểu Trần Văn Lâm: Trong nhiệm kỳ vừa qua, Chính phủ đã giảm khoảng 50% số dự án đầu tư công, qua đó giúp việc đầu tư có trọng tâm, trọng điểm hơn, tập trung vào các công trình, dự án lớn, quy mô, tạo sức bật cho nền kinh tế.
Vì vậy, việc tiếp tục thực hiện chủ trương này, giảm khoảng 30% số dự án và tập trung vào các dự án lớn là rất cần thiết. Khi nguồn vốn được tập trung, sẽ tạo ra những công trình thực sự có ý nghĩa; ngược lại, nếu đầu tư dàn trải, quá nhiều dự án cùng triển khai trong khi nguồn lực hạn chế thì tiến độ sẽ bị kéo dài, làm chậm thời gian đưa dự án vào hoạt động, từ đó chậm phát huy hiệu quả đối với tăng trưởng.
Chẳng hạn, một dự án đáng lẽ hoàn thành trong 3 năm nhưng nếu kéo dài thành 5-6 năm thì hiệu quả đầu tư cũng bị chậm lại tương ứng. Do đó, việc giảm số lượng dự án để đẩy nhanh tiến độ, nhất là đối với các dự án trọng điểm, là yếu tố rất quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng thông qua đầu tư.
Bên cạnh đó, cần đặc biệt chú trọng nâng cao hiệu quả đầu tư. Hiện nay, hệ số ICOR của chúng ta còn ở mức cao, cho thấy hiệu quả sử dụng vốn chưa tương xứng. Vì vậy, cùng với việc cơ cấu lại danh mục dự án, cần quan tâm đến việc lựa chọn dự án thật sự cấp bách, có tiềm năng tạo động lực tăng trưởng và phát huy hiệu quả lâu dài.
Một yêu cầu quan trọng khác là phải đẩy nhanh tiến độ đưa vốn vào nền kinh tế. Thực tế cho thấy nguồn lực có nhưng việc giải ngân còn chậm, khiến vốn chưa phát huy kịp thời hiệu quả, trong khi vẫn phát sinh chi phí. Do đó, cần nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, bảo đảm vốn đầu tư được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ.
Cuối cùng, khi các công trình hoàn thành, cần quản lý và khai thác hiệu quả các tài sản hình thành từ đầu tư, bảo đảm phát huy tối đa giá trị trong dài hạn. Đây cũng là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư công và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Phóng viên: Vốn đầu tư công chỉ là “vốn mồi”, theo ông, cần có những giải pháp gì để thu hút thêm nguồn lực từ xã hội, doanh nghiệp, khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài cho tăng trưởng?
Đại biểu Trần Văn Lâm: Trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, vốn nhà nước chỉ giữ vai trò dẫn dắt, định hướng và tạo “vốn mồi”, chứ không thể chiếm tỷ trọng lớn hơn tất cả các khu vực khác cộng lại. Các khu vực khác của nền kinh tế, đặc biệt là khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài, mới là yếu tố quyết định trong việc mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả tăng trưởng.
Vì vậy, vấn đề cốt lõi là phải phát huy hiệu quả của đầu tư công để tạo động lực, dẫn dắt và lan tỏa, từ đó thu hút các nguồn lực khác tham gia.
Trước hết, cần lựa chọn đúng lĩnh vực và dự án đầu tư công. Những dự án có tính kết nối cao, tạo nền tảng, có khả năng lan tỏa và “mở đường” cho các ngành, lĩnh vực khác phát triển thì cần được ưu tiên. Khi lựa chọn trúng và đúng, đầu tư công sẽ tạo ra không gian và cơ hội để các nguồn lực xã hội cùng tham gia, qua đó phát huy hiệu quả tổng thể.
Thứ hai, cần đẩy mạnh liên kết công - tư (PPP). Thực tế cho thấy, dù đã có khung pháp lý nhưng việc triển khai các dự án PPP vẫn còn những điểm cần tiếp tục hoàn thiện để tăng tính hấp dẫn. Do đó, cần tiếp tục rà soát, điều chỉnh cơ chế chính sách theo hướng minh bạch, ổn định và chia sẻ rủi ro hợp lý, thu hút mạnh mẽ hơn sự tham gia của khu vực tư nhân.
Thứ ba, phải xác định rõ vai trò của Nhà nước và khu vực tư nhân. Những lĩnh vực mà tư nhân có thể làm tốt thì nên tạo điều kiện để tư nhân tham gia, Nhà nước không nhất thiết phải đầu tư. Ngược lại, đầu tư công cần tập trung vào những lĩnh vực mang tính nền tảng, then chốt, quy mô lớn hoặc hiệu quả tài chính chưa đủ hấp dẫn trong ngắn hạn nhưng lại thiết yếu đối với nền kinh tế.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn và cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, qua đó mở rộng không gian cho các thành phần kinh tế khác tham gia đầu tư, huy động thêm nguồn lực cho phát triển.
Tóm lại, khi đầu tư công được sử dụng đúng vai trò “vốn mồi”, có trọng tâm, hiệu quả và gắn với cơ chế thu hút phù hợp, thì sẽ tạo được sức lan tỏa mạnh mẽ, khơi thông và huy động tối đa các nguồn lực xã hội cho tăng trưởng kinh tế.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!
Tin tức khác
Khơi thông dòng vốn dài hạn, tạo sức bật cho tăng trưởng kinh tế
Để tăng trưởng 2 con số, cần chuyển hóa các nguồn lực thành giá trị gia tăng thực chất cho nền kinh tế
Sửa Luật Bảo hiểm xã hội: Lấp đầy khoảng trống chính sách, bảo vệ quyền lợi người lao động
Đổi mới thể chế: Năng lực thực thi quyết định sức bật phát triển
“Hộ chiếu vàng” cho doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán
Doanh nghiệp bất động sản cần tái cấu trúc để thích ứng với thị trường
Ưu đãi thuế thu nhập cá nhân đối với khoản đầu tư vào quỹ mở, hướng tới hành vi tiết kiệm qua đầu tư
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
Bài 2: Quyết sách chiến lược, hành động đột phá, quyết liệt
Gần 44 triệu thửa đất đã kết nối dữ liệu, đáp ứng “đúng, đủ, sạch, sống”
Khai mạc Tọa đàm "Phát triển kinh tế bạc - kiến tạo trụ cột an sinh bền vững"
Thu hồi đất: Không thể coi hoàn thành bồi thường là hoàn thành trách nhiệm
Giải quyết dứt điểm các kiến nghị của cử tri, báo cáo trước ngày 30/11
Bộ Tài chính được giao chủ trì soạn thảo 4 dự án Luật, nghị quyết trong năm 2027
Bộ trưởng Bộ Xây dựng: Không thể mua nhà ở xã hội rồi bán lại theo giá thị trường
Hưởng ưu đãi, doanh nghiệp phải có nghĩa vụ tương ứng về giá, chất lượng nhà cho thuê
Bài 1: Tầm nhìn mở lối, hiện thực hóa khát vọng phát triển
Kinh tế bạc có những khác biệt đáng kể so với kinh doanh thông thường
10 tháng năm 2026: Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam vượt mốc 1.000 tỷ USD
Thương mại điện tử duy trì đà tăng trưởng cao, doanh số tăng hơn 44%
Điều chỉnh giá bán mặt hàng xăng dầu trong nước từ 15h ngày 29/10
Tăng tốc giải ngân, khơi thông nguồn lực, tạo đột phá tăng trưởng kinh tế quý IV/2026
Khoa học công nghệ và chuyển đổi số tạo đột phá tăng trưởng nông nghiệp
Chuyên gia kinh tế chia sẻ kinh nghiệm huy động nguồn lực cho phát triển bền vững
Hà Nội quyết định loạt chính sách lớn, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn phát triển










