aa

Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

08:00 | 10/12/2025
Hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương nhất quán của Đảng và không ngừng được hoàn thiện, mở rộng cả về phạm vi, cấp độ qua mỗi kỳ Đại hội và được triển khai tích cực, phù hợp với sự phát triển của đất nước và bối cảnh thế giới. Bài viết phân tích toàn diện quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đánh giá các thành tựu nổi bật, chỉ ra những hạn chế, thách thức mới, đưa ra các giải pháp phù hợp với chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước nhằm thúc đẩy Việt Nam hội nhập sâu, hiệu quả và bền vững trong bối cảnh mới.

TS. Nguyễn Hồng Thu

Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới

Email: [email protected]

ThS. Bùi Thị Hồng Ngọc

Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới

Tóm tắt

Hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương nhất quán của Đảng và không ngừng được hoàn thiện, mở rộng cả về phạm vi, cấp độ qua mỗi kỳ Đại hội và được triển khai tích cực, phù hợp với sự phát triển của đất nước và bối cảnh thế giới. Bài viết phân tích toàn diện quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đánh giá các thành tựu nổi bật, chỉ ra những hạn chế, thách thức mới, đưa ra các giải pháp phù hợp với chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước nhằm thúc đẩy Việt Nam hội nhập sâu, hiệu quả và bền vững trong bối cảnh mới.

Từ khóa: Hội nhập kinh tế quốc tế, thương mại, FDI, chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam

INTERNATIONAL ECONOMIC INTEGRATION OF VIET NAM: CURRENT SITUATION AND SOLUTIONS

Summary

International economic integration has been a consistent policy of the Communist Party of Viet Nam and has been continuously refined and expanded in both scope and depth through successive Party Congresses. This process has been actively implemented in alignment with the country’s development trajectory and the evolving global context. This paper provides a comprehensive analysis of Viet Nam’s international economic integration, evaluates key achievements, identifies remaining limitations and emerging challenges, and proposes solutions that align with Party orientations and State policies to promote deeper, more effective, and sustainable integration in the new context.

Keywords: International economic integration, trade, FDI, global value chains, Viet Nam

CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương nhất quán của Đảng và không ngừng được hoàn thiện, mở rộng cả về phạm vi, cấp độ qua mỗi kỳ Đại hội và được triển khai tích cực, phù hợp với sự phát triển của đất nước và bối cảnh thế giới. Chủ trương này được thể hiện qua các văn bản chủ yếu như: Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế; Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 05/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các FTA thế hệ mới...

Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, xu hướng chuyển đổi số và chuyển đổi xanh định hình lại trật tự kinh tế toàn cầu hiện nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếp tục xác định hội nhập kinh tế quốc tế là một định hướng chiến lược nhất quán, lâu dài và là động lực then chốt thúc đẩy phát triển đất nước. Ngày 24/1/2025, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Nghị quyết số 59-NQ/TW đánh dấu bước ngoặt chiến lược trong đường lối hội nhập quốc tế của Việt Nam, xác định hội nhập là động lực chiến lược trong kỷ nguyên mới, gắn liền với phát triển nội lực, củng cố vị thế quốc gia và chủ động tham gia định hình “luật chơi toàn cầu”.

THỰC TRẠNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam gắn với các dấu mốc cải cách thể chế, mở cửa thương mại, ký kết các FTA và tham gia các định chế kinh tế quốc tế. Quá trình hội nhập này được đẩy mạnh qua 3 giai đoạn lớn:

- Giai đoạn 1986-1995: Khởi động hội nhập. Sau năm 1986, Việt Nam bắt đầu đổi mới kinh tế và mở cửa ban đầu, theo đó thực hiện cải cách kinh tế theo hướng thị trường, trong đó mở cửa thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài là yếu tố then chốt. Việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài (1987) và nới lỏng các rào cản thương mại đã đặt nền móng cho hội nhập. FDI giai đoạn này chủ yếu từ các nước trong khu vực như Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, tập trung vào may mặc, lắp ráp và bất động sản. Dù quy mô chưa lớn, đây là nền tảng giúp Việt Nam tiếp cận công nghệ và quản trị hiện đại.

- Giai đoạn 1995-2007: Hội nhập mở rộng. Đây là thời kỳ mang tính bước ngoặt khi Việt Nam thực hiện chiến lược “đa dạng hóa, đa phương hóa”, chủ động hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Trong giai đoạn này Việt Nam đã gia nhập ASEAN (1995), tham gia AFTA (1996), ký Hiệp định Thương mại song phương Việt - Mỹ (BTA, 2000), gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) (2007) - bước ngoặt để Việt Nam tham gia vào hệ thống thương mại toàn cầu và tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất của châu Á, đặc biệt trong các ngành điện tử, dệt may và da giày.

- Giai đoạn 2007-2025: Đẩy mạnh hội nhập sâu rộng. Sau khi trở thành thành viên của WTO, Việt Nam chuyển sang mức độ hội nhập sâu rộng thông qua việc ký kết và thực thi các FTA có tiêu chuẩn cao. Đến 2025, Việt Nam đã tham gia 17 FTA, trong đó nổi bật là các FTA thế hệ mới (CPTPP, EVFTA, UKFTA, RCEP). Các FTA này không chỉ góp phần mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ và thúc đẩy xuất nhập khẩu, mà còn giúp Việt Nam cải cách thể chế sâu rộng hơn trong các lĩnh vực như cạnh tranh, logistics, môi trường, và năng lực thực thi pháp luật thương mại.

Những kết quả đạt được

Trải qua gần 40 năm hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam đã đạt được kết quả tích cực, nhất là trong xuất khẩu, thu hút vốn FDI, tham gia GVC mạnh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao, cải thiện vị thế trên trường quốc tế. Cụ thể:

- Mở rộng quy mô và đa dạng hóa xuất khẩu. Tính đến nay, Việt Nam có quan hệ thương mại với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, nằm trong 20 quốc gia xuất khẩu hàng hóa lớn nhất thế giới, trở thành trung tâm sản xuất chiến lược của khu vực Đông Nam Á. Cơ cấu xuất khẩu có sự chuyển dịch tích cực với hàng chế biến, chế tạo chiếm trên 85% kim ngạch xuất khẩu. Theo Cục Thống kê, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2024 đạt hơn 786,29 tỷ USD, tương đương 165% GDP (Kinh tế Sài Gòn Online, 2025). Điều này phản ánh mức độ mở rất cao của nền kinh tế.

- Thu hút FDI liên tục ở mức cao. Từ năm 2019, Việt Nam nằm trong nhóm 20 nền kinh tế thu hút nhiều vốn FDI nhất thế giới. Năm 2024, giải ngân FDI đạt mức kỷ lục 25,35 tỷ USD. Lũy kế đến hết năm 2024, Việt Nam có hơn 42.000 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn FDI đăng ký khoảng 502,8 tỷ USD, vốn thực hiện lũy kế của các dự án FDI đạt 322,5 tỷ USD, trong đó phần lớn đầu tư vào công nghiệp chế biến - chế tạo (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2025).

- Tham gia GVC mạnh mẽ. Dòng vốn FDI và việc ký kết và thực thi 17 FTA với hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ tạo điều kiện để Việt Nam tham gia mạnh mẽ vào GVC, đặc biệt ở lĩnh vực điện tử, công nghệ thông tin và thiết bị. Nhiều tập đoàn đa quốc gia như Samsung, Intel, LG, Foxconn… đã coi Việt Nam là “mắt xích” sản xuất chiến lược trong mạng lưới “China+1”, đặc biệt sau đại dịch COVID-19 và xung đột thương mại Mỹ - Trung. Việt Nam nằm trong nhóm nền kinh tế có tốc độ hội nhập GVC nhanh nhất châu Á. Theo Báo cáo của WB (2024), chỉ số tham gia GVC của Việt Nam đã tăng từ khoảng 41% năm 2000 lên 53% năm 2020 - đây là mức cao so với nhiều nước ASEAN khác, phản ánh mức độ gắn kết ngày càng sâu giữa xuất khẩu và các dòng thương mại trung gian quốc tế.

- Tăng trưởng kinh tế cao. Thu hút vốn FDI lớn và mở rộng xuất khẩu đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp - dịch vụ và hình thành lực lượng lao động có kỹ năng trung bình khá trong khu vực ASEAN. Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân tăng từ 4,3%/năm trong giai đoạn 2011-2015 lên 5,8%/năm trong giai đoạn 2016-2020 (TTXVN, 2025). Điều này đã góp phần đáng kể vào tăng trưởng GDP, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho một bộ phận lớn lực lượng lao động. Nền kinh tế Việt Nam đã có bước chuyển mình ấn tượng với mức tăng trưởng bình quân trên 6,1%/năm trong suốt giai đoạn 2010-2023. Về quy mô kinh tế, Việt Nam đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 34 trên thế giới và thứ 5 trong khối ASEAN, với GDP năm 2024 ước tính đạt khoảng 459 tỷ USD (IMF, 2024). Tỷ lệ nghèo đã giảm ấn tượng từ 58,1% năm 1993 xuống 1,93% theo chuẩn nghèo đa chiều năm 2024 (Tùng Dương, 2025).

- Mở rộng mạng lưới FTA và cải thiện môi trường kinh doanh. Việt Nam ký và thực thi 17 FTA, qua đó hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách ngày càng được hoàn thiện phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Nhận thức trong cả hệ thống chính trị, các bộ, ngành trung ương tới chính quyền địa phương và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam về các mặt liên quan quá trình hội nhập kinh tế quốc tế từng bước được nâng cao. Các yếu tố thị trường và các loại thị trường từng bước phát triển đồng bộ, gắn với thị trường khu vực và thế giới.

Một số hạn chế, thách thức

Trải qua gần 40 năm hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả nổi bật, song bên cạnh đó Việt Nam cũng đang phải đối diện với nhiều hạn chế cấu trúc và những thách thức trong bối cảnh rủi ro địa-chính trị gia tăng, yêu cầu xanh hóa, chuyển đổi số nhanh, và tác động bất lợi của biến đổi khí hậu. Một số hạn chế, thách thức như sau:

- Giá trị gia tăng nội địa thấp. Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam tham gia GVC ở các khâu lắp ráp, gia công, đóng gói nên giá trị gia tăng nội địa thấp; trong khi các khâu có giá trị cao hơn như thiết kế, R&D, marketing, phân phối toàn cầu chủ yếu do các công ty nước ngoài đảm nhiệm. Ví dụ, trong sản phẩm điện thoại di động xuất khẩu, chỉ khoảng 20-25% giá trị là do các doanh nghiệp Việt Nam đóng góp; phần còn lại đến từ linh kiện nhập khẩu và quyền sở hữu trí tuệ của các tập đoàn đa quốc gia (World Bank, 2024). Việt Nam có tỷ lệ giá trị gia tăng nước ngoài trong xuất khẩu cao, nghĩa là đầu vào chủ yếu phải nhập khẩu và phần lớn giá trị gia tăng thuộc về nhà cung cấp nước ngoài. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) (2023), tỷ lệ này dao động khoảng 45-55% trong các ngành công nghiệp chế biến, đặc biệt là điện tử, thiết bị viễn thông và dệt may.

- Xuất khẩu phần lớn thuộc khu vực FDI. Khu vực FDI chiếm trên 15% GDP, khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu, và 50% giá trị sản xuất công nghiệp, nhiều ngành xuất khẩu chủ lực (điện tử, điện thoại, dệt may) phụ thuộc mạnh vào các tập đoàn đa quốc gia (Ngọc Thắng, 2025). Đồng thời một tỷ trọng lớn xuất khẩu của Việt Nam đi vào một vài thị trường lớn, đặc biệt là Mỹ. Năm 2024, Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ đạt hơn 142 tỷ USD, chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu. Điều này cho thấy, xuất khẩu của Việt Nam đang phụ thuộc nhiều vào bên ngoài. Do đó xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế Việt Nam dễ bị tổn thương trước các cú sốc bên ngoài hay sự thay đổi chính sách thương mại của các đối tác, đặc biệt trong bối cảnh rủi ro địa - chính trị ngày càng gia tăng, căng thẳng Mỹ - Trung ngày càng leo thang.

- Năng lực đổi mới sáng tạo và chất lượng lao động chưa cao. Mặc dù năm 2024 Việt Nam tăng 2 bậc, đạt vị trí thứ 44/132 trong báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu của WIPO (2024), nhưng chỉ số “đầu vào đổi mới” vẫn thấp (xếp thứ 53), cho thấy đầu tư vào R&D thấp. Mức chi R&D/GDP của Việt Nam chỉ chiếm khoảng 0,5% GDP, thấp hơn nhiều so với mức trung bình toàn cầu (2,3%) và thua xa các nước trong khu vực như Trung Quốc (2,5%), Singapore (1,9%), Malaysia (1%). Trong khi nhân lực chất lượng cao còn hạn chế. Theo Cục Thống kê, năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ mới đạt 28,8%. Mặc dù tốc độ tăng năng suất lao động tăng, nhưng mức độ tuyệt đối của năng suất lao động Việt Nam so với các nền kinh tế trong khu vực vẫn còn thấp chỉ bằng 11,4% của Singapore, 24,7% của Hàn Quốc, 35,4% của Malaysia và 64,8% của Thái Lan, khiến lợi thế chi phí có xu hướng giảm.

- Liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa yếu. Tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tới 97%. Đây là các doanh nghiệp thường hạn chế về năng lực kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng, khả năng tài chính và quản trị để trở thành nhà cung cấp đáng tin cậy cho các tập đoàn đa quốc gia. Theo khảo sát của JICA (2023) cho thấy, chỉ khoảng 30% doanh nghiệp trong nước đủ điều kiện tham gia chuỗi cung ứng của FDI, và cũng chỉ chủ yếu cung cấp nguyên liệu đơn giản, dịch vụ hậu cần. Nhiều linh kiện quan trọng vẫn phải nhập khẩu do công nghiệp hỗ trợ trong nước phát triển chậm. Đến cuối năm 2024 cả nước có hơn 6.000 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ - chiếm một tỷ lệ rất khiêm tốn trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động ở Việt Nam - trong đó doanh nghiệp FDI chiếm gần 30%. Hơn 6.000 doanh nghiệp này mới chỉ đáp ứng được khoảng 10% nhu cầu linh kiện, phụ tùng cho sản xuất trong nước (Bộ Công Thương, 2025). Điều này làm hạn chế việc chuyển giao công nghệ thực chất và gia tăng giá trị gia tăng nội địa cho Việt Nam.

- Chi phí logistics cao. Mặc dù năng lực logistics của Việt Nam đã được cải thiện, theo chỉ số logistics toàn cầu, Việt Nam xếp thứ 43/139, nhưng chất lượng logistics và chi phí vận chuyển, thời gian thông quan vẫn còn khoảng cách khá xa so với các nước đối thủ lớn trong khu vực. Chi phí logistics vẫn là gánh nặng cho doanh nghiệp xuất khẩu. Tăng chi phí đầu vào này đang làm giảm lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam.

- Áp lực tuân thủ các FTA thế hệ mới. Việc tham gia các FTA thế hệ mới cùng với các cơ chế như điều chỉnh biên giới carbon của EU (CBAM) đang đặt ra các yêu cầu tiêu chuẩn cao về lao động, môi trường, minh bạch, và báo cáo phát thải. Việc tuân thủ có thể tạo chi phí lớn, đặc biệt cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chẳng hạn, CBAM sẽ áp dụng đánh thuế đối với hàng hóa nhập khẩu vào EU có lượng cacbon thải ra cao trong quá trình sản xuất hàng hóa từ năm 2026, với giai đoạn chuyển tiếp từ 2023 đến 2025. Điều này yêu cầu các báo cáo đo lường, chứng nhận và đầu tư công nghệ xanh cho doanh nghiệp xuất khẩu sang EU (EC, 2025). Nếu không đáp ứng tiêu chuẩn của EU, các doanh nghiệp Việt Nam có thể mất thị phần tại EU; trong khi chi phí tuân thủ có thể làm giảm lợi nhuận và tăng giá thành sản phẩm.

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gia tăng, cùng với xu hướng chuyển đổi số, kinh tế xanh và phát triển bền vững trên toàn cầu, việc nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế là yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam. Theo chủ trương của Đảng, để tận dụng cơ hội, giảm thiểu thách thức và tăng cường vị thế quốc gia, Việt Nam cần chú trọng triển khai một số nhóm giải pháp trọng tâm sau.

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế.

Việt Nam cần đẩy mạnh cải cách thể chế, hoàn thiện hệ thống pháp luật để tạo môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và phù hợp với các cam kết FTA thế hệ mới. Trọng tâm là hoàn thiện pháp luật liên quan đến tiêu chuẩn lao động, môi trường, cạnh tranh, thương mại điện tử, sở hữu trí tuệ… Bên cạnh đó, cần nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, bảo đảm tính nhất quán và khả năng dự báo nhằm củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư quốc tế.

Thứ hai, tăng cường khả năng tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế trước rủi ro toàn cầu.

Trước sự phân mảnh thương mại, đứt gãy chuỗi cung ứng và cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, Việt Nam cần xây dựng chiến lược an ninh kinh tế và an ninh chuỗi cung ứng, hạn chế phụ thuộc quá lớn vào một thị trường hay nguồn cung. Việc đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu - đặc biệt với Nam Á, Trung Đông, Mỹ Latinh và các thị trường mới nổi - trở nên ngày càng quan trọng. Đồng thời, cần hoàn thiện hệ thống dự báo, cảnh báo sớm rủi ro thương mại - đầu tư để hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó kịp thời.

Thứ ba, tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, thúc đẩy kinh tế số và kinh tế xanh.

Việt Nam cần đầu tư mạnh vào hạ tầng số, dữ liệu mở, thanh toán số và logistics thông minh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi số, áp dụng công nghệ cao, phát triển sản phẩm xanh - sạch theo chuẩn quốc tế sẽ tạo nền tảng để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Cùng với đó, cần gắn hội nhập với các cam kết về phát thải ròng bằng “0”, chuẩn bị đáp ứng yêu cầu về carbon như CBAM của EU và thúc đẩy triển khai cơ chế tín chỉ carbon trong nước.

Thứ tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước. Doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp hội nhập, vì vậy cần hỗ trợ họ nâng cấp công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải thiện năng lực quản trị và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Nhà nước cần phát triển các cụm liên kết ngành và công nghiệp hỗ trợ trong các lĩnh vực chiến lược như điện tử, nông sản chế biến, năng lượng tái tạo, logistics…

Thứ năm, thu hút FDI có chọn lọc và khai thác hiệu quả các FTA thế hệ mới.

Việt Nam cần ưu tiên thu hút FDI công nghệ cao, bán dẫn, kinh tế số, năng lượng tái tạo và công nghệ sinh học, đồng thời áp dụng tiêu chí sàng lọc dự án nhằm hạn chế công nghệ lạc hậu và rủi ro môi trường. Việc yêu cầu chuyển giao công nghệ, tăng liên kết sản xuất giữa khối FDI và doanh nghiệp trong nước là cần thiết để tạo lan tỏa tích cực. Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực tận dụng ưu đãi từ các FTA bằng cách tăng cường đào tạo doanh nghiệp, phát triển cổng dữ liệu FTA tích hợp, hỗ trợ quy tắc xuất xứ và cơ chế phòng vệ thương mại.

Thứ sáu, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập.

Nhân lực là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi số và kinh tế tri thức. Việt Nam cần cải cách chương trình giáo dục theo hướng hiện đại, tăng đào tạo nhân lực số, năng lượng sạch, thương mại quốc tế, logistics, quản trị chuỗi cung ứng và các ngành công nghệ mới. Đồng thời, cần mở rộng hợp tác giáo dục với các nước phát triển, khuyến khích mô hình đào tạo tại chỗ giữa trường học và doanh nghiệp, cũng như đẩy mạnh đào tạo lại và nâng kỹ năng cho người lao động hiện hữu.

Thứ bảy, tăng cường ngoại giao kinh tế và hội nhập chủ động, toàn diện. Việt Nam cần phát huy vai trò trong ASEAN và các cơ chế đa phương, tích cực tham gia định hình các thể chế kinh tế quốc tế mới như thương mại số, thuế tối thiểu toàn cầu, năng lượng và công nghệ. Ngoại giao kinh tế phải phục vụ trực tiếp cho mục tiêu thu hút đầu tư, mở rộng thị trường xuất khẩu và tiếp cận công nghệ chiến lược.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Công Thương (2025). Hợp tác, kết nối đưa công nghiệp hỗ trợ Việt Nam ra khỏi vùng “khiêm tốn”. https://vneconomy.vn/hop-tac-ket-noi-dua-cong-nghiep-ho-tro-viet-nam-ra-khoi-vung-khiem-ton.htm.

2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2025). Tình hình thu hút FDI tại Việt Nam và đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam năm 2024. https://www.mpi.gov.vn/portal/Pages/2025-1-6/Tinh-hinh-thu-hut-dau-tu-nuoc-ngoai-tai-Viet-Nam-v5506hz.aspx.

3. EC (2025). Carbon Border Adjustment Mechanism. https://taxation-customs.ec.europa.eu/carbon-border-adjustment-mechanism_en.

4. IMF (2025). GDP, current prices. https://www.imf.org/external/datamapper/NGDPD@WEO/THA/IND/VNM.

5. JICA (2023). Survey on industrial linkages and local supplier development in Viet Nam. Tokyo: Japan International Cooperation Agency.

6. Kinh tế Sài Gòn Online (2025). Nhìn lại tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2024. https://thesaigontimes.vn/.

7. Ngọc Thắng (2025). Thời cơ vàng để xây dựng nền kinh tế tự lực, tự cường. Kinh tế Sài Gòn Online, ngày 30/8/2025.

8. OECD. (2023). Trade in Value Added (TiVA) database: Viet Nam country profile. http://oe.cd/tiva.

9. TTXVN (2025). Dấu ấn, thành tựu sau 40 năm đổi mới. https://mega.vietnamplus.vn.

10. Tùng Dương (2025). Việt Nam là quốc gia giảm nghèo nhanh nhất. https://daibieunhandan.vn/.

(Theo Tạp chí Kinh tế - Tài chính, kỳ 1 tháng 12/2025)

Tin tức khác

Doanh nghiệp chào bán cổ phiếu không phải đăng báo 3 số liên tiếp

Doanh nghiệp chào bán cổ phiếu không phải đăng báo 3 số liên tiếp

Bản thông báo chào bán cổ phiếu ra công chúng công bố trên website DN, sở giao dịch và một báo điện tử; hồ sơ IPO, phát hành thêm cổ phiếu cũng được giản lược.
Cảnh báo giả mạo văn bản của Bộ Tài chính để lừa đảo

Cảnh báo giả mạo văn bản của Bộ Tài chính để lừa đảo

Hiện nay, trên internet xuất hiện văn bản giả mạo của Bộ Tài chính để xác minh tài khoản, người dân cần cảnh giác không thực hiện theo các hướng dẫn để tránh rủi ro bị lừa đảo.
Nhận diện thủ đoạn lợi dụng logistics, chuyển phát nhanh để vận chuyển trái phép ma túy

Nhận diện thủ đoạn lợi dụng logistics, chuyển phát nhanh để vận chuyển trái phép ma túy

Sự phát triển của hoạt động logistics và chuyển phát nhanh tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hóa quốc tế, nhưng cũng đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác kiểm soát hải quan.
Rà soát hệ thống pháp luật hướng tới gỡ điểm nghẽn, giảm chi phí cho doanh nghiệp

Rà soát hệ thống pháp luật hướng tới gỡ điểm nghẽn, giảm chi phí cho doanh nghiệp

Việc tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hướng tới tháo gỡ các điểm nghẽn, giảm chi phí tuân thủ và tạo môi trường thuận lợi hơn cho kinh doanh.
Phát triển và vận hành hiệu quả Cổng Pháp luật quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát triển và vận hành hiệu quả Cổng Pháp luật quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bộ Tư pháp triển khai 6 nhóm nhiệm vụ phát triển Cổng Pháp luật quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, tập trung kết nối dữ liệu, hoàn thiện tiện ích số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và bảo đảm vận hành an toàn, hiệu quả.
Gỡ rào cản kinh doanh vàng, tăng kiểm soát dòng tiền

Gỡ rào cản kinh doanh vàng, tăng kiểm soát dòng tiền

Nghị định số 390/2026/NĐ-CP bãi bỏ điều kiện kinh doanh vàng, tháo gỡ vướng mắc về nguyên liệu, đồng thời siết chặt quản lý dòng tiền, tăng minh bạch giao dịch.
Đề xuất phạt vi phạm hành chính tới 3 tỷ đồng, bổ sung nhiều biện pháp cưỡng chế

Đề xuất phạt vi phạm hành chính tới 3 tỷ đồng, bổ sung nhiều biện pháp cưỡng chế

Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) đề xuất nâng mức phạt tiền tối đa lên 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân, 3 tỷ đồng đối với tổ chức, đồng thời bổ sung nhiều biện pháp cưỡng chế.
Bộ Tài chính bãi bỏ 5 thủ tục về hỗ trợ lãi suất, cấp bù lãi suất

Bộ Tài chính bãi bỏ 5 thủ tục về hỗ trợ lãi suất, cấp bù lãi suất

Từ ngày 20/11/2026, Bộ Tài chính bãi bỏ 5 thủ tục hành chính trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, liên quan đến hỗ trợ lãi suất, cấp bù chênh lệch lãi suất.
Xem thêm
podcast tu nam 2027 luong huu tro cap bao hiem xa hoi se duoc chi tra the nao

PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?

Từ năm 2027, phương thức chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và các chế độ bảo hiểm thất nghiệp sẽ có thêm bước chuyển quan trọng khi Tài khoản hưởng an sinh xã hội trên ứng dụng VNeID được đưa vào sử dụng theo lộ trình. Đây là nội dung đáng chú ý trong Kế hoạch của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, về triển khai sử dụng Tài khoản hưởng an sinh xã hội trong chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp. ------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: / www.financeplus.vn TikTok: / tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: / @kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày. --------------------------------------
pocast dong tien chung khoan dang tim den nhung nhom nganh nao

POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?

Sau 4 tuần giảm liên tiếp, VN-Index vừa có tuần tăng 4%, đóng cửa phiên ngày 23/10 ở 1.774 điểm. Thị trường chứng khoán đã hồi phục, nhưng câu hỏi nhiều nhà đầu tư vẫn đặt ra là: tiền đang chảy vào đâu? Câu trả lời không nằm hết ở chỉ số chung. Phía sau mỗi nhịp tăng, giảm là lựa chọn của dòng vốn, dựa trên lợi nhuận và câu chuyện riêng của từng doanh nghiệp. --------------------------------- Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
podcast tai khoa nam 2027 truoc yeu cau tang truong cao va bao dam an ninh tai chinh quoc gia

PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia

Bộ Tài chính vừa công khai Báo cáo dự toán ngân sách nhà nước năm 2027 Chính phủ trình Quốc hội. Trong đó, định hướng điều hành tài chính - ngân sách tiếp tục tập trung giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao hiệu quả phân bổ, sử dụng nguồn lực, tạo động lực thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
video giai ngan von dau tu cong dat 64 6

VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%

Theo báo cáo mới nhất từ Bộ Tài chính, tính đến hết ngày 15/10/2026, lũy kế giải ngân vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước trên toàn quốc đã đạt 660.739,5 tỷ đồng, tương đương 64,6% kế hoạch do Thủ tướng Chính phủ giao. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
video hanh trinh 30 nam nganh chung khoan viet nam

VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam

Ngày 28 tháng 11 năm 1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 75/CP, thành lập Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Một cơ quan quản lý nhà nước ra đời để chuẩn bị cho một thị trường còn chưa hiện hữu tại Việt Nam. 30 năm sau, thị trường đã kết nối nguồn vốn với nhu cầu đầu tư, đồng hành cùng doanh nghiệp và mở rộng cơ hội tham gia cho hàng triệu nhà đầu tư. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: / www.financeplus.vn TikTok: / tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: / @kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày. --------------------------------------
Bài 3: Thống nhất thực thi, biến tầm nhìn thành kết quả

Bài 3: Thống nhất thực thi, biến tầm nhìn thành kết quả

Tiếp nối thành công Đại hội XIV và các hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, những quyết sách chiến lược từng bước được cụ thể hóa bằng hành động của Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương, tạo nên “dòng chảy thực thi” thống nhất, đồng bộ.
Giải ngân 100% vốn đầu tư công sẽ đóng góp khoảng 1,7% tăng trưởng kinh tế năm 2026

Giải ngân 100% vốn đầu tư công sẽ đóng góp khoảng 1,7% tăng trưởng kinh tế năm 2026

Chính phủ tập trung đẩy nhanh giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công, đóng góp 2,5% vào tăng trưởng quý IV và 1,7% vào tăng trưởng kinh tế năm 2026.
Thành tựu tăng trưởng củng cố niềm tin vào khả năng chống chịu của nền kinh tế

Thành tựu tăng trưởng củng cố niềm tin vào khả năng chống chịu của nền kinh tế

ĐBQH đánh giá cao thành tựu tăng trưởng KT-XH 9 tháng đầu năm 2026, cho rằng kết quả đạt được củng cố niềm tin vào khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Không chỉ huy động vốn, phải chuyển hóa nguồn lực thành năng suất, giá trị gia tăng

Không chỉ huy động vốn, phải chuyển hóa nguồn lực thành năng suất, giá trị gia tăng

Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2027, cần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, chuyển hóa thành năng suất và giá trị gia tăng.
Tăng trưởng cao cần khơi thông nguồn vốn, giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp

Tăng trưởng cao cần khơi thông nguồn vốn, giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp

Đại biểu Quốc hội nhấn mạnh, muốn đạt mục tiêu tăng trưởng cao cần khơi thông nguồn vốn, giảm lãi suất cho vay thực tế, tháo gỡ chi phí vật liệu, năng lượng...
Bài 2: Nhận diện những điểm nghẽn từ thực tiễn

Bài 2: Nhận diện những điểm nghẽn từ thực tiễn

Tín dụng xanh đang mở rộng và tạo thêm nguồn lực cho đổi mới công nghệ, phương thức sản xuất. Tuy nhiên, tăng dư nợ chưa tự động đồng nghĩa với tăng năng lực sản xuất hay giảm phát thải.
Liên kết vùng, đầu tư đồng bộ hạ tầng để tạo động lực tăng trưởng

Liên kết vùng, đầu tư đồng bộ hạ tầng để tạo động lực tăng trưởng

Sáng ngày 31/10, diễn ra phiên thảo luận ở hội trường về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển KT-XH năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển KT-XH năm 2027.
Tăng cường lực lượng hải quan kiểm soát hàng nhập lậu, gian lận xuất xứ, bảo vệ hàng Việt

Tăng cường lực lượng hải quan kiểm soát hàng nhập lậu, gian lận xuất xứ, bảo vệ hàng Việt

Lực lượng hải quan, quản lý thị trường và các lực lượng chức năng sẽ tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm hành vi kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng nhập lậu...
Sớm xử lý bất cập thu phí điện tử đường bộ, bảo đảm quyền lựa chọn của người dân

Sớm xử lý bất cập thu phí điện tử đường bộ, bảo đảm quyền lựa chọn của người dân

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu các bộ, cơ quan liên quan có giải pháp xử lý bất cập trong hoạt động thu phí sử dụng đường bộ.
34 dự án khởi nghiệp xanh tìm hướng đi mới từ nông sản bản địa và phụ phẩm

34 dự án khởi nghiệp xanh tìm hướng đi mới từ nông sản bản địa và phụ phẩm

34 dự án đến từ 18 tỉnh, thành phố tham gia vòng chung kết Cuộc thi Khởi nghiệp Xanh lần thứ 12 - năm 2026.
Vì sao các tổ chức quốc tế ngày càng tin Việt Nam có thể tăng trưởng 2 con số?

Vì sao các tổ chức quốc tế ngày càng tin Việt Nam có thể tăng trưởng 2 con số?

Niềm tin ngày càng lớn của giới tài chính quốc tế vào triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam.
"Hàng Việt vì người Việt" góp phần trong mục tiêu tăng trưởng 2 con số

"Hàng Việt vì người Việt" góp phần trong mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Chương trình “Hàng Việt vì người Việt” giai đoạn 2026 - 2030 phát huy vai trò của thị trường trong nước, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
Thành tựu tăng trưởng củng cố niềm tin vào khả năng chống chịu của nền kinh tế

Thành tựu tăng trưởng củng cố niềm tin vào khả năng chống chịu của nền kinh tế

ĐBQH đánh giá cao thành tựu tăng trưởng KT-XH 9 tháng đầu năm 2026, cho rằng kết quả đạt được củng cố niềm tin vào khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Liên kết vùng, đầu tư đồng bộ hạ tầng để tạo động lực tăng trưởng

Liên kết vùng, đầu tư đồng bộ hạ tầng để tạo động lực tăng trưởng

Sáng ngày 31/10, diễn ra phiên thảo luận ở hội trường về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển KT-XH năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển KT-XH năm 2027.
Hợp tác xã muốn dẫn dắt chuỗi giá trị, cần gỡ những “nút thắt” nào?

Hợp tác xã muốn dẫn dắt chuỗi giá trị, cần gỡ những “nút thắt” nào?

Phát triển 45.000 hợp tác xã vào năm 2030 mới là mục tiêu về quy mô. Bài toán quan trọng hơn nằm ở chất lượng hoạt động, năng lực quản trị vùng nguyên liệu, ứng dụng công nghệ, liên kết doanh nghiệp, thị trường.
Tăng trưởng bền vững khi doanh nghiệp Việt tạo nhiều giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Tăng trưởng bền vững khi doanh nghiệp Việt tạo nhiều giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Thảo luận tại Quốc hội chiều ngày 30/10 về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027, các đại biểu nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, gia tăng giá trị nội địa.
Đại biểu Quốc hội đề xuất "3 đường dẫn vốn" dài hạn cho tăng trưởng 2 con số

Đại biểu Quốc hội đề xuất "3 đường dẫn vốn" dài hạn cho tăng trưởng 2 con số

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số, đại biểu Lê Hoàng Anh (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai) đề xuất mở "3 đường dẫn vốn" dài hạn cho nền kinh tế.
Sản xuất tiên tiến mở đường cho hàng xuất khẩu Việt Nam bứt phá

Sản xuất tiên tiến mở đường cho hàng xuất khẩu Việt Nam bứt phá

Với quy mô xuất khẩu ngày càng lớn, bài toán nâng cao giá trị gia tăng nội địa và vị trí của doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng đang ngày càng cấp thiết