Hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật đáp ứng yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế
TS. Nguyễn Quỳnh Anh
Khoa Pháp luật Quốc tế - Trường Đại học Luật Hà Nội
Email: [email protected]
TS. Trần Thị Mai Thành
Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế - Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
Email: [email protected]
Tóm tắt
Những năm qua, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam góp phần thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng, mở rộng thị trường xuất khẩu, cải thiện môi trường đầu tư và từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Trong bối cảnh mới, Việt Nam đứng trước các yêu cầu cao hơn về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, minh bạch hóa pháp luật, đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG), chuyển đổi xanh, kinh tế số... Để thích ứng, Đảng và Nhà nước đã ban hành các nghị quyết chiến lược nhằm định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao năng lực quản trị quốc gia và thúc đẩy hội nhập hiệu quả. Bài viết đánh giá thực trạng hoàn thiện chính sách, pháp luật trong các lĩnh vực then chốt, từ đó đưa ra định hướng chính sách nhằm cải thiện tính minh bạch, hiệu quả của nền kinh tế Việt Nam, tăng mức độ tuơng thích với các tiêu chuẩn quốc tế.
Từ khóa: Hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống pháp luật, chính sách, pháp luật
STRENGTHENING THE LEGAL AND POLICY FRAMEWORK TO MEET THE REQUIREMENTS OF INTERNATIONAL ECONOMIC INTEGRATION IN THE NEW CONTEXT
Summary
In recent years, Viet Nam’s integration into the global economy has played a crucial role in transforming its growth model, expanding export markets, enhancing the investment environment, and gradually elevating its position within global value chains. In the current context, the country faces increasing demands to refine its market economy institutions, enhance legal transparency, comply with environmental, social, and governance (ESG) standards, advance the green transition, and promote digital economic development. To respond effectively, the Party and the State have issued strategic resolutions aimed at improving the legal framework, strengthening national governance capacity, and facilitating deeper, more effective international integration. This article evaluates the current state of policy and legal reforms in key sectors and proposes strategic directions to enhance economic transparency, efficiency, and alignment with international standards.
Keywords: International economic integration, legal framework, policy, law
TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM VÀ NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA TRONG BỐI CẢNH MỚI
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam không chỉ đơn thuần là việc mở cửa biên giới thương mại mà là một quá trình cải cách cơ cấu toàn diện, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình này đã diễn ra qua nhiều giai đoạn với các dấu mốc pháp lý và kinh tế quan trọng. Trong giai đoạn khởi đầu và đổi mới tư duy (1986-1995), chính sách Đổi mới năm 1986 được xem là điểm khởi phát, đặt nền móng cho việc tự do hóa thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Những cải cách ban đầu này đóng vai trò quyết định trong việc giảm đói nghèo và kích thích tăng trưởng kinh tế thông qua việc dỡ bỏ các rào cản thương mại và tạo ra môi trường cho khu vực tư nhân phát triển (Kien và Heo, 2008).
Giai đoạn 1995-2007, Việt Nam tích cực hội nhập khu vực và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nổi bật là 2 mốc gia nhập ASEAN năm 1995 và trở thành thành viên của WTO năm 2007. Việt Nam đã thực hiện điều chỉnh các chính sách thương mại để phù hợp với các chuẩn mực toàn cầu, từ đó thúc đẩy mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu. Đồng thời, trong giai đoạn này Việt Nam cũng khẳng định 12 Tạp chí Kinh tế - Tài chính, kỳ 1 tháng 12/2025
được vị thế là một mắt xích tiềm năng trong mạng lưới thương mại khu vực thông qua việc tham gia các Khu vực Mậu dịch Tự do (FTAs). Sau năm 2008, Việt Nam đã chủ động tham gia vào các hiệp định thương mại tự do, đáng chú ý là các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu ( EVFTA) đặt ra những yêu cầu phức tạp và tiêu chuẩn cao hơn với các xu hướng mới về phát triển bền vững và kinh tế số. Trong bối cảnh đó, hoàn thiện hệ thống pháp luật không chỉ là nhiệm vụ chính trị mà còn là động lực trực tiếp thúc đẩy năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam. Cụ thể:
Thứ nhất, hội nhập thế hệ mới đòi hỏi hệ thống pháp luật phải có tính dự báo cao và tương thích với các chuẩn mực quốc tế. Tuy nhiên, theo (LAM, 2024) các quy định pháp lý hiện hành của Việt Nam trong một số lĩnh vực vẫn còn chung chung, thiếu nhất quán và chưa gắn kết chặt chẽ với yêu cầu hội nhập.
Thứ hai, các yêu cầu hội nhập gắn với chuyển đổi xanh và phát triển bền vững, đặc biệt trong quan hệ thương mại với các thị trường phát triển như Liên minh châu Âu (EU) hay Mỹ. Một mặt, các FTA thế hệ mới như EVFTA đã đặt ra các tiêu chuẩn pháp lý bắt buộc về môi trường, đòi hỏi Việt Nam cần thực hiện các biện pháp cụ thể (Stockhaus, 2017). Mặt khác, xu hướng chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn đang trở thành yêu cầu bắt buộc để phát triển bền vững, đòi hỏi khung khổ pháp lý phải hỗ trợ việc tái chế và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu cũng phải đối mặt với các đạo luật khắt khe về thẩm định chuỗi cung ứng, buộc họ phải chịu trách nhiệm về các vấn đề lao động và môi trường trong toàn bộ quá trình sản xuất (Hoi, 2025).
Thứ ba, yêu cầu về phát triển nguồn nhân lực và năng lực quản trị. Hội nhập không chỉ là câu chuyện của hàng hóa mà còn là sự cạnh tranh về nhân lực. Bối cảnh mới đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các ngành kỹ thuật và nông nghiệp công nghệ cao. Các nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết phải cải cách giáo dục, nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và chuyên môn để đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp FDI và chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thứ tư, yêu cầu về ứng phó với các thách thức phi truyền thống. Quá trình hội nhập sâu rộng cũng đặt nền kinh tế trước những rủi ro từ bên ngoài. (Abbott và cộng sự, 2014) cảnh báo về việc truyền dẫn biến động giá thế giới vào nền kinh tế trong nước, gây áp lực lên lạm phát. Do đó, hệ thống chính sách cần đủ linh hoạt để vừa tận dụng cơ hội từ các hiệp định thương mại, vừa xây dựng được “bộ đệm” để chống chịu trước các cú sốc kinh tế và duy trì sự ổn định vĩ mô.
Tóm lại, các yêu cầu trên đòi hỏi Việt Nam phải chuyển từ tư duy “hội nhập theo chiều rộng” sang “hội nhập theo chiều sâu”, trong đó trọng tâm là chuẩn hóa hệ thống pháp luật.
THỰC TIỄN HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM THÍCH ỨNG VỚI QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TRONG BỐI CẢNH MỚI
Về chủ trương, chính sách
Để kịp thời thích ứng với bối cảnh môi trường quốc tế biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, xu hướng phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn đã và đang định hình trật tự kinh tế mới, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị quyết có ý nghĩa chiến lược để thích ứng như Nghị quyết số 93/NQ-CP (2023) về nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững giai đoạn 2023 - 2030; Nghị quyết số 59-NQ/TW (2024) về đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế đến năm 2030, tầm nhìn 2045, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam… Đặc biệt, gần đây nhất là Nghị quyết số 59-NQ/TW xác định hội nhập kinh tế quốc tế vẫn là trọng tâm của hội nhập quốc tế. Do vậy, nâng cao năng lực thể chế để hội nhập hiệu quả, bên cạnh việc thực thi các cam kết của WTO, CPTPP, EVFTA, RCEP, UKVFTA, Việt Nam cần đặt mục tiêu tham gia đàm phán các FTA thế hệ mới có tiêu chuẩn cao hơn, bao gồm thương mại số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thuế suất tối thiểu toàn cầu, và các cơ chế thương mại khu vực mới nổi. Nghị quyết số 59- NQ/TW nhấn mạnh, yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; Xây dựng thị trường carbon; thúc đẩy tiêu chuẩn bền vững trong doanh nghiệp (ESG); Hoàn thiện khung pháp lý về đầu tư, thương mại, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh, logistics.
Bên cạnh đó, Nghị quyết số 66-NQ/TW (2024) về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm tính ổn định, minh bạch, đồng bộ, khả thi, có khả năng dự báo, dễ tiếp cận, tương thích với điều ước quốc tế và phù hợp với thông lệ quốc tế, và đặc biệt là theo kịp tốc độ hội nhập kinh tế của Việt Nam. Các hệ thống pháp luật trực tiếp liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế như pháp luật kinh tế số, thương mại, đầu tư, cạnh tranh, sở hữu trí tuệ… cần được sớm hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của hội nhập nhanh và bền vững.
Về hoàn thiện pháp luật trong bối cảnh đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế
Kể từ khi bước vào giai đoạn thực thi các FTA thế hệ mới, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc sửa đổi và ban hành các đạo luật then chốt, nâng cao mức độ tương thích với cam kết trong các FTA và chuẩn mực quốc tế, cải thiện minh 13 Tạp chí Kinh tế - Tài chính, kỳ 1 tháng 12/2025
bạch pháp lý, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi. Cụ thể:
Thứ nhất, đối với nhóm luật về đầu tư, kinh doanh, thương mại đáp ứng yêu cầu về hoàn thiện thể chế kinh doanh thương mại và tính minh bạch của pháp luật.
Luật Đầu tư 2020 đã có những điều chỉnh về điều kiện kinh doanh theo hướng thu hẹp và bãi bỏ hàng loạt ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, phù hợp cam kết của Việt Nam trong WTO và các FTA. Theo đó, các ngành nghề kinh doanh có điều kiện đã giảm từ 243 ngành nghề theo Luật Đầu tư năm 2016 xuống còn 227 ngành nghề theo Luật đầu tư năm 2020 (Điều 7 và Phụ lục IV), phù hợp với cam kết về minh bạch hóa điều kiện kinh doanh theo quy định tại Hiệp định GATS. Lần đầu tiên Việt Nam tiếp cận mô hình của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) về minh bạch hóa hoàn toàn danh mục hạn chế thay vì liệt kê “nhà đầu tư nước ngoài muốn vào phải tuân thủ” như trước đây. Điều này tương thích với cam kết trong EVIPA, CPTPP về không phân biệt đối xử và minh bạch hóa; Quy định rõ ràng hơn về cơ chế bảo đảm đầu tư (Điều 13), phù hợp điều khoản bảo hộ đầu tư trong CPTPP (Chương 9), Điều 2.5, 2.6 EVIPA, Điều 14 ACIA. Bảo đảm các ưu đãi đầu tư, khi pháp luật thay đổi thì giải quyết theo hướng có lợi cho nhà đầu tư (Khoản 3 Điều 15). Đồng thời, Luật Đầu tư 2020 cũng có quy định về chống hồi tố bất lợi. Khi văn bản pháp luật mới ban hành có quy định bất lợi, nhà đầu tư được tiếp tục áp dụng điều kiện cũ trong 3 năm hoặc theo thời hạn của dự án (Khoản 2 Điều 14). Đây là những yêu cầu bắt buộc trong các FTA thế hệ mới, giúp bảo vệ nhà đầu tư trước những thay đổi chính sách. Cải tiến này giúp giảm rào cản gia nhập thị trường, tiệm cận môi trường đầu tư minh bạch theo các FTA thế hệ mới mà Việt Nam đã tham gia.
Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã sửa đổi theo hướng đơn giản hóa thủ tục gia nhập thị trường để tương thích với tiêu chuẩn của OECD về tự do gia nhập thị trường; Rút gọn thủ tục đăng ký doanh nghiệp với quy định “nộp hồ sơ trực tuyến” và cơ quan đăng ký kinh doanh không được yêu cầu thêm giấy tờ ngoài quy định giúp hạn chế tình trạng “giấy phép con trá hình”; Doanh nghiệp được kinh doanh mọi ngành nghề mà luật không cấm (Điều 7). Bên cạnh đó, nâng chuẩn quản trị doanh nghiệp, tiếp cận các nguyên tắc G20/OECD theo hướng minh bạch các thông tin về doanh nghiệp; Luật Doanh nghiệp 2020 đánh dấu bước tiến lớn về bảo vệ quyền cổ đông thiểu số như: giảm tỷ lệ sở hữu để thực hiện quyền của cổ đông thiểu số từ 10% xuống còn 5% (Khoản 2 Điều 115); Kiểm soát giao dịch với bên liên quan nhằm ngăn lạm dụng quyền lực và bảo vệ nhà đầu tư nhỏ (Điều 167); Mở rộng quyền khởi kiện người quản lý phù hợp nguyên tắc bảo vệ cổ đông theo tiêu chuẩn của OECD và các yêu cầu không phân biệt đối xử bảo vệ đầu tư công bằng, minh bạch phù hợp với cam kết trong CPTPP.
Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022 đã có những cập nhật mới theo cam kết trong EVFTA và CPTPP về bảo hộ chỉ dẫn địa lý, bản quyền, sáng chế phù hợp Hiệp định TRIPS+. Quy định mới về quyền tác giả trên môi trường số, phù hợp thương mại điện tử xuyên biên giới.
Luật Cạnh tranh 2018 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh sang hành vi cạnh tranh ngoài lãnh thổ nếu hành vi đó có tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh đến thị trường Việt Nam. Điều chỉnh này tiệm cận mô hình EU về thực thi chống độc quyền và kiểm soát tập trung kinh tế, chống thoả thuận hạn chế cạnh tranh.
Luật Quản lý thuế 2019 và những sửa đổi liên quan tới quy đinh về thuế suất tối thiểu toàn cầu năm 2023 (BEPS 2.0). Việt Nam bắt đầu thực thi chống xói mòn cơ sở thuế BEPS 2.0 theo chuẩn OECD dựa vào Nghị quyết số 107/2023/QH15 về việc áp dụng thuế bổ sung tối thiểu nội địa đạt chuẩn và thuế suất tối thiểu toàn cầu theo chuẩn OECD. Thuế suất tối thiểu toàn cầu là 15% áp dụng cho các tập đoàn đa quốc gia có doanh thu hợp nhất từ 750 triệu EUR trở lên, bắt đầu áp dụng tại Việt Nam từ ngày 01/01/2024. Đây là cải cách pháp lý quan trọng, tăng tính minh bạch nghĩa vụ thuế trong thương mại và đầu tư xuyên biên giới.
Các cam kết số hóa và thương mại điện tử cũng có những điều chỉnh mạnh mẽ nhằm thích ứng kịp thời với sự phát triển của nền kinh tế số trong Luật Giao dịch điện tử 2023. Khung pháp lý phù hợp với thương mại điện tử xuyên biên giới theo cam kết trong CPTPP, RCEP.
Thứ hai, nhóm luật đáp ứng yêu cầu hội nhập gắn với chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.
Việt Nam đã cam kết đạt Net-Zero 2050 và đã tiến hành sửa đổi quy định pháp luật trong nước để phù hợp “luật chơi xanh” của thế giới.
Luật Bảo vệ môi trường 2020 là văn bản cải cách sâu rộng nhất, đáp ứng yêu cầu về kinh tế xanh. Theo đó, các dự án tuỳ theo mức độ tác động sẽ phải đánh giá tác động môi trường theo chuẩn quốc tế và yêu cầu phải đánh giá vòng đời dự án (Điều 29 đến Điều 35), đồng thời bắt buộc phải tham vấn cộng đồng. Quy định này tiệm cận mô hình EU và phù hợp yêu cầu của EVFTA, CPTPP về minh bạch môi trường và tham vấn công chúng.
Với quy định về thị trường cacbon (Điều 91, 92), Luật Bảo vệ môi trường 2020 lần đầu tiên quy định về kiểm kê khí nhà kính, Hệ thống hạn ngạch phát thải (cap-and-trade) và việc vận hành thí điểm Thị trường carbon trong nước từ 2025, tiến tới vận hành đầy đủ từ 2028. Đây là điều kiện cần để Việt Nam đáp ứng Cơ chế điều chỉnh biên giới Carbon của EU (CBAM) và các cam kết giảm phát thải trong EVFTA.
Các quy định về kinh tế tuần hoàn (Điều 142) lần 14 Tạp chí Kinh tế - Tài chính, kỳ 1 tháng 12/2025
đầu đưa vào khái niệm tái chế, tái sử dụng, tuần hoàn tài nguyên hay các quy định về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR)… phù hợp tiêu chuẩn EU và yêu cầu chuỗi cung ứng xanh trong FTA thế hệ mới.
Luật Đất đai năm 2024 cũng đã tích hợp tiêu chí môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu khi đưa ra quy định ưu tiên bố trí đất cho năng lượng tái tạo, hạ tầng xanh (Điều 168, 173) nhằm thu hút đầu tư quốc tế vào điện gió, điện mặt trời, hydrogen. Quy định về hành lang bảo vệ hệ sinh thái ven biển, rừng ngập mặn bám sát mục tiêu thích ứng với biến đổi khí hậu trong Thoả thuận Paris về chống biến đổi khí hậu. Các dự án đầu tư buộc phải tích hợp yếu tố đánh giá thích ứng biến đổi khí hậu, tiệm cận với Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu và Thoả thuẩn Paris.
Đấu thầu xanh trong Luật Đấu thầu 2023 với các quy định về tiêu chí lựa chọn nhà thầu có ưu tiên sản phẩm đạt chuẩn môi trường, năng lượng tái tạo, tiết kiệm nước (Điều 10, 44) chuẩn hóa theo yêu cầu của Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và OECD. Luật Đầu tư 2020 cũng đưa vào các quy định về ưu đãi đầu tư xanh cho dự án xanh (Điều 20, Điều 15)
Thứ ba, nhóm pháp luật về lao động và xã hội đáp ứng các yêu cầu về phát triển nguồn nhân lực và năng lực quản trị.
Việc tham gia vào CPTPP, EVFTA yêu cầu Việt Nam phải sửa đổi pháp luật lao động theo hướng tiếp cận chuẩn của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), đặc biệt trong các vấn đề: quyền của người lao động, đối thoại và thương lượng tập thể, công đoàn độc lập (tổ chức của người lao động), tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động. Nhóm pháp luật lao động và xã hội đã được sửa đổi mạnh mẽ trong thời gian gần đây, gồm: Bộ luật Lao động 2019, Luật Việc làm 2013, Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014, Luật Công đoàn 2023, Luật An toàn vệ sinh lao động 2015, Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi 2023, cùng nhiều văn bản hướng dẫn thi hành
Bộ luật Lao động 2019 đã có quy định về tự do liên kết, phù hợp với yêu cầu lao động trong CPTPP, EVFTA. Đồng thời cũng nâng chuẩn lao động theo ILO, hướng tới hội nhập sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Ngoài ra, Bộ luật Lao động cũng có nhiều quy định tiến bộ như: hợp thức hóa tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, quy định rõ hơn về quấy rối tình dục, giờ làm thêm, nâng chuẩn bảo vệ lao động. Chất lượng nguồn nhân lực cũng được chuẩn hoá phù hợp với yêu cầu của người sử dụng lao động thông qua quy định doanh nghiệp có quyền và nghĩa vụ đào tạo nâng cao kỹ năng (Điều 61), cơ chế hợp đồng đào tạo nghề (Điều 62), tạo khuôn khổ pháp lý cho doanh nghiệp FDI đào tạo nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và ổn định lực lượng lao động.
Nhìn chung, pháp luật lao động và xã hội đã tiệm cận với các chuẩn của ILO, OECD, G20, và cam kết của Việt Nam trong EVFTA, CPTPP, RCEP, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh lao động và quản trị doanh nghiệp.
Thứ tư, nhóm luật chuyên ngành ứng phó thách thức phi truyền thống trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Hội nhập sâu rộng tạo ra các rủi ro từ bên ngoài như biến động giá hàng hóa thế giới, rủi ro chuỗi cung ứng, cú sốc tài chính, lạm phát, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, an ninh mạng, gian lận thương mại xuyên biên giới… Trước bối cảnh đó, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, tăng khả năng chống chịu trước cú sốc bên ngoài, cải thiện cơ chế cảnh báo rủi ro.
Luật Giá 2023 là văn bản quan trọng nhất liên quan trực tiếp đến rủi ro nhập khẩu lạm phát và biến động giá từ thị trường thế giới. Quản lý giá phải “bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân góp phần ổn định kinh tế vĩ mô”. Nhà nước có các quy định về bình ổn giá và có cơ chế công khai, cảnh báo giá thông qua hệ thống cơ sở dữ liệu giá, cảnh báo sớm biến động giá, và phân tích tác động yếu tố quốc tế. Đây chính là cơ sở pháp lý cho việc dùng các công cụ hạn chế truyền dẫn giá quá mức vào thị trường.
Trong bối cảnh biến động bên ngoài ngày càng phức tạp, Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ sản xuất trong nước trước sự gia tăng hàng nhập khẩu gây thiệt hại nghiêm trọng. Quy định này hoàn toàn phù hợp với cam kết quốc tế của Việt Nam.
Luật Dầu khí 2022 với các quy định về điều chỉnh giá xăng dầu theo chu kỳ linh hoạt, sử dụng Quỹ Bình ổn giá để giảm sốc giá dầu thô, qua đó làm giảm tác động từ biến động dầu thế giới (WTI, Brent).
Luật Ngân sách Nhà nước 2015 với các quy định về Dự phòng ngân sách, Quỹ dự trữ tài chính, Nguyên tắc điều hành linh hoạt là cơ chế tài khóa “đệm” quan trọng trong việc chống lại các cú sốc đối với nền kinh tế.
Hội nhập trong nền kinh tế số tiềm ẩn nhiều rủi ro với thị trường. Luật An ninh mạng 2018 với các quy định về phòng chống tấn công mạng, khủng bố mạng tại Điều 8 và bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng quốc gia, gồm tài chính, ngân hàng, năng lượng, logistics tại Điều 26 là công cụ pháp lý bảo vệ hệ thống kinh tế trước tấn công mạng. Tuy nhiên, với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, đặc biệt là AI đòi hỏi pháp luật cần phải thích ứng nhanh hơn để tạo ra cơ chế tổng thể cho quản trị rủi ro phi truyền thống.
Đánh giá chung về chính sách, pháp luật hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong bối cảnh mới
Về điểm mạnh
- Hệ thống pháp luật được sửa đổi mạnh mẽ sau khi gia nhập WTO năm 2007 và đặc biệt trong 15 Tạp chí Kinh tế - Tài chính, kỳ 1 tháng 12/2025
giai đoạn thực thi các FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, RCEP đảm bảo tính tương thích ngày càng cao với chuẩn mực quốc tế và tiệm cận chuẩn OECD, G20, ILO, tiêu chuẩn của EU, ASEAN… góp phần nâng mức độ tin cậy và an toàn pháp lý cho nhà đầu tư quốc tế.
- Môi trường pháp lý về đầu tư kinh doanh ngày càng thông thoáng, nhiều ưu đãi, đưa Việt Nam lọt vào nhóm thị trường có độ mở lớn nhất thế giới, là điểm đến FDI hàng đầu châu Á.
- Tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích doanh nghiệp trong các giao dịch quốc tế, giảm rủi ro pháp lý trong thương mại và đầu tư và tạo niềm tin cho doanh nghiệp FDI chất lượng cao.
- Hệ thống pháp luật phát triển theo hướng hỗ trợ chuyển đổi xanh và phát triển bền vững, giúp doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí xuất khẩu vào các thị trường khó tính nhưng rất tiềm năng.
Về điểm hạn chế
- Chất lượng pháp luật chưa đồng đều, còn hiện tượng “phân mảnh pháp lý”. Nhiều văn bản còn chồng chéo, thiếu hướng dẫn thi hành đồng bộ làm gia tăng chi phí tuân thủ của doanh nghiệp và giảm hiệu lực thực thi cam kết quốc tế dù luật đã sửa đổi.
- Mức độ tương thích với FTA thế hệ mới chưa hoàn toàn đầy đủ. Khung pháp luật mới ở mức “tiệm cận” là phổ biến thay vì “tương thích” với các chuẩn khu vực và quốc tế.
- Năng lực thực thi còn hạn chế là điểm nghẽn lớn nhất, đặc biệt ở cấp địa phương. Thủ tục hành chính vẫn còn phức tạp ở một số địa phương. .
ĐỀ XUẤT HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Từ phân tích bối cảnh hội nhập thế hệ mới và thực trạng hệ thống pháp luật, để chuyển hóa các thách thức thành động lực phát triển, Việt Nam cần tập trung vào 4 định hướng chính sách trọng tâm sau:
Thứ nhất, nâng cao chất lượng thể chế theo hướng “tương thích” và “dự báo”. Để khắc phục tình trạng “phân mảnh pháp lý” đã nêu tại phần thực trạng, trọng tâm chính sách không sẽ không nằm ở việc ban hành thêm nhiều luật, mà là chuẩn hóa các quy định hiện hành theo chuẩn mực quốc tế. Hệ thống pháp luật cần đảm bảo tính ổn định và khả năng dự báo - yếu tố then chốt để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn.
Thứ hai, lấp đầy “khoảng trống pháp lý” trong chuyển đổi kép (Xanh và Số). Hệ thống pháp luật cần chuyển từ trạng thái “tiệm cận” sang “bắt kịp” các xu hướng mới. Về chuyển đổi xanh, cần sớm luật hóa các quy định về kinh tế tuần hoàn và thị trường tín chỉ carbon để doanh nghiệp không bị loại khỏi cuộc chơi bởi các quy định như của EU. Về kinh tế số, cần khẩn trương xây dựng khung khổ pháp lý cho an ninh dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI) và các giao dịch xuyên biên giới để bảo vệ chủ quyền số quốc gia.
Thứ ba, giải quyết điểm nghẽn “thực thi” và chuẩn hóa chuỗi cung ứng. Một thể chế tốt sẽ vô nghĩa nếu khâu thực thi yếu kém. Cần cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính tại cấp địa phương để giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Đồng thời, Nhà nước cần hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng các đạo luật khắt khe về Thẩm định chuỗi cung ứng (như Luật SCDD của Đức), coi việc tuân thủ các tiêu chuẩn ESG và lao động không chỉ là nghĩa vụ mà là “giấy thông hành” để tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ tư, xây dựng “bộ đệm” chính sách trước các rủi ro phi truyền thống. Trước áp lực biến động địa chính trị và giá cả thế giới, chính sách tài khóa và tiền tệ cần duy trì sự linh hoạt để vừa tận dụng cơ hội từ các FTA, vừa đảm bảo an ninh kinh tế vĩ mô. Chính sách thương mại cần dịch chuyển trọng tâm từ mở rộng thị trường sang gia tăng giá trị nội địa (value-added), kết hợp các biện pháp phòng vệ thương mại hợp lý để bảo vệ sản xuất trong nước.
Tóm lại, hội nhập giai đoạn tới là hội nhập theo chiều sâu. Việc hoàn thiện chính sách pháp luật phải được tiến hành với tư duy “Chính phủ kiến tạo”, lấy sự phát triển bền vững và khả năng chống chịu của nền kinh tế làm thước đo hiệu quả cuối cùng.
Tài liệu tham khảo:
1. Abbott, P., Wu, C., & Tarp, F. (2014). Transmission of World Prices to the Vietnamese Economy. Journal of Economic Integration, 29(4), 624-656. https://doi.org/10.11130/jei.2014.29.4.624;
2. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 về đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
3. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 66-NQ/TW (2024) ngày 30/4/025 về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
4. Quốc hội (2020). Luật Đầu tư năm 2020, Luật số: 61/2020/QH14 ngày 17/6/2020.
5. Quốc hội (2020). Luật Doanh nghiệp năm 2020. Luật số 59/2020/QH14 ngày 17/6/2020.
6. Quốc hội (2022). Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022. Luật số 07/2022/QH15 ngày 16/6/2022 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ.
7. Quốc hội (Khóa XV). Nghị quyết số 107/2023/QH15 ngày 29/11/2023 về việc áp dụng thuế bổ sung tối thiểu nội địa đạt chuẩn và thuế suất tối thiểu toàn cầu.
(Theo Tạp chí Kinh tế - Tài chính, kỳ 1 tháng 12/2025)
Tin tức khác
Cảnh báo giả mạo văn bản của Bộ Tài chính để lừa đảo
Nhận diện thủ đoạn lợi dụng logistics, chuyển phát nhanh để vận chuyển trái phép ma túy
Rà soát hệ thống pháp luật hướng tới gỡ điểm nghẽn, giảm chi phí cho doanh nghiệp
Phát triển và vận hành hiệu quả Cổng Pháp luật quốc gia giai đoạn 2026 - 2030
Gỡ rào cản kinh doanh vàng, tăng kiểm soát dòng tiền
Đề xuất phạt vi phạm hành chính tới 3 tỷ đồng, bổ sung nhiều biện pháp cưỡng chế
Bộ Tài chính bãi bỏ 5 thủ tục về hỗ trợ lãi suất, cấp bù lãi suất
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
Bài 3: Thống nhất thực thi, biến tầm nhìn thành kết quả
Giải ngân 100% vốn đầu tư công sẽ đóng góp khoảng 1,7% tăng trưởng kinh tế năm 2026
Thành tựu tăng trưởng củng cố niềm tin vào khả năng chống chịu của nền kinh tế
Không chỉ huy động vốn, phải chuyển hóa nguồn lực thành năng suất, giá trị gia tăng
Tăng trưởng cao cần khơi thông nguồn vốn, giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp
Bài 2: Nhận diện những điểm nghẽn từ thực tiễn
Liên kết vùng, đầu tư đồng bộ hạ tầng để tạo động lực tăng trưởng
Tăng cường lực lượng hải quan kiểm soát hàng nhập lậu, gian lận xuất xứ, bảo vệ hàng Việt
Sớm xử lý bất cập thu phí điện tử đường bộ, bảo đảm quyền lựa chọn của người dân
34 dự án khởi nghiệp xanh tìm hướng đi mới từ nông sản bản địa và phụ phẩm
Vì sao các tổ chức quốc tế ngày càng tin Việt Nam có thể tăng trưởng 2 con số?
"Hàng Việt vì người Việt" góp phần trong mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Thành tựu tăng trưởng củng cố niềm tin vào khả năng chống chịu của nền kinh tế
Liên kết vùng, đầu tư đồng bộ hạ tầng để tạo động lực tăng trưởng
Hợp tác xã muốn dẫn dắt chuỗi giá trị, cần gỡ những “nút thắt” nào?
Tăng trưởng bền vững khi doanh nghiệp Việt tạo nhiều giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu
Đại biểu Quốc hội đề xuất "3 đường dẫn vốn" dài hạn cho tăng trưởng 2 con số








