Xây dựng cơ chê nhận diện hành vi gây lãng phí và một số khuyến nghị
Đào Vũ
Vụ Pháp chế, Bộ Tài chính
Email: daovu@mof.gov.vn
Đặt vấn đề
|
DEVELOPING A MECHANISM FOR IDENTIFYING WASTEFUL BEHAVIORS AND POLICY RECOMMENDATIONS Dao Vu Currently, wastefulness in Viet Nam is widespread in many forms, causing serious consequences for the country's development. These consequences include the depletion of national resources, reduced production efficiency, widening income inequality, and a decline in public trust in the Party and the State. This situation creates an invisible barrier to socio-economic development, putting the country at risk of missing key development opportunities. Keywords: Behavior identification, wastefulness, anti-wastefulness, public policy |
Theo Từ điển Tiếng Việt, "lãng phí" được định nghĩa là "làm tốn kém, hao tổn một cách vô ích". Từ điển Hán Việt định nghĩa "lãng phí" là "làm một cách vô ích tiền tài, sức lực, thời gian".
Dưới góc độ pháp lý, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 đưa ra khái niệm: “Lãng phí là việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản, lao động, thời gian lao động và tài nguyên không hiệu quả. Đôi với lĩnh vực đã có định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành thì lãng phí là việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, vốn nhà nước, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước và tài nguyên vượt định mức, tiêu chuẩn, chế'độ hoặc không đạt mục tiêu đã định.”. Đồng thời, cũng đã chỉ ra một số hành vi gây lãng phí cụ thể trên cơ sở khái niệm nêu trên.
Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi của các hệ thống pháp luật liên quan và thực tiễn triển khai thực hiện cho thấy tình trạng lãng phí vẫn diễn ra khá phổ biến với nhiều hình thức mới, phức tạp, gây bức xúc trong xã hội và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của Đất nước.
Nhận diện các nhóm hành vi gây lãng phí
Một số nhóm hành vi gây lãng phí trong thời gian qua gồm:
Nhóm hành vi gây lãng phí liên quan đến xây dựng, ban hành thể chế
Thể chế được xem là "điểm nghẽn của các điểm nghẽn" trong 3 trở ngại lớn nhất của sự phát triển hiện nay (thể chế, hạ tầng, nhân lực). Trong đó, một số vấn đề đã phát sinh từ điểm nghẽn thể chế là chất lượng xây dựng, hoàn thiện pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; một số luật mới ban hành đã phải sửa đổi; các quy định chưa thực sự đồng bộ, còn chồng chéo, chưa tạo môi trường thực sự thuận lợi để thu hút các nguồn lực của các nhà đầu tư trong và nước ngoài.
Một số biểu hiện cụ thể của nhóm hành vi này gồm: (i) Lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu, ban hành các văn bản trong các lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí chưa đảm bảo đúng chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, gây lãng phí; (ii) Không ban hành hoặc chậm ban hành, sửa đổi, bổ sung hoặc cố ý ban hành các văn bản trong các lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí trái quy định, gây lãng phí.
Nhóm hành vi gây lãng phí trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước và nợ công
Công tác quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, quản lý nợ công thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại hạn chế nhất định đã được chỉ ra với nhiều nguyên nhân khác nhau. Những hạn chế này xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan (thể chế, chính sách) và chủ quan (tổ chức thực hiện tại các bộ, ngành, địa phương), làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn lực quốc gia.
Một số biểu hiện cụ thể của nhóm hành vi này như sau: (i) Lập, thẩm định, phê duyệt, phân bổ và giao dự toán không đúng thẩm quyền, trình tự, nội dung và thời gian, không đúng đối tượng, vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ quy định, gây lãng phí; (ii) Sử dụng ngân sách nhà nước không đúng mục đích đã được phê duyệt, đối tượng, dự toán được giao; vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ quy định; trì hoãn việc chi ngân sách khi đã bảo đảm các điều kiện chi theo quy định của pháp luật, gây lãng phí; (iii) Quyết toán chi ngân sách nhà nước không đúng, đủ thủ tục, sai nội dung, đối tượng, vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ quy định, duyệt quyết toán chậm, trì hoãn quyết toán gây lãng phí; (iv) Quản lý, sử dụng quỹ có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước và các quỹ được thành lập theo quy định của pháp luật không đúng mục đích, tôn chỉ, quy chế hoạt động và cơ chế tài chính của quỹ; (v) Thực hiện vay trái quy định của pháp luật; vay vượt quá khả năng cân đối của ngân sách; sử dụng ngân sách nhà nước để cho vay, tạm ứng, góp vốn trái quy định của pháp luật.
Nhóm hành vi gây lãng phí trong mua sắm, quản lý và sử dụng tài sản công
Quản lý, sử dụng tài sản công có hiệu quả là một nguồn lực quan trọng và cần thiết để phục vụ cho tăng trưởng kinh tế nhất là trong điều kiện nước ta đang tập trung phát triển nền kinh tế nhanh và bền vững. Việc phòng, chống lãng phí nguồn lực này là một trong những vấn đề cấp bách đang được Đảng, Nhà nước đặt ra trong bối cảnh nhiều hành vi gây lãng phí đã và đang nảy sinh, gây bức xúc trong dư luận, đặc biệt là lãng phí liên quan đến tài sản công có giá trị lớn như nhà, đất, trụ sở làm việc của các cơ quan nhà nước.
Những biểu hiện cụ thể của nhóm hành vi này gồm: (i) Bán, cho thuê, cho mượn, sử dụng tài sản công không đúng mục đích, đối tượng, vượt tiêu chuẩn, định mức theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; (ii) Giao tài sản công cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân vượt tiêu chuẩn, định mức, không đúng đối tượng hoặc giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân không có nhu cầu sử dụng; (iii) Sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết không đúng với mục đích sử dụng của tài sản, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước giao, sử dụng tài sản công để kinh doanh trái pháp luật; (iv) Xử lý tài sản công trái quy định của pháp luật; hủy hoại, cố ý làm hư hỏng, chiếm đoạt, chiếm giữ, sử dụng trái phép tài sản công; (v) Không xử lý kịp thời đối với tài sản công không sử dụng được, không có nhu cầu sử dụng hoặc sử dụng hiệu quả thấp, không đạt mục tiêu đã định; (vi) Thiếu trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng tài sản công, gây lãng phí.
Nhóm hành vi gây lãng phí trong quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên, năng lượng
Tình trạng lãng phí trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, năng lượng đã và đang diễn ra khá phổ biến, tạo rào cản cho sự phát triển. Điển hình là tình trạng nhiều "khu đất vàng" tại các đô thị lớn bị bỏ hoang hoặc sử dụng không hiệu quả. Nhiều dự án xây dựng khu đô thị hoặc trung tâm thương mại bị chậm tiến độ, dẫn đến hàng chục hecta đất bị bỏ trống. Trong khi đó, với tài nguyên nước, lãng phí nước sạch trong sinh hoạt và sản xuất cũng xảy ra thường xuyên. Theo thống kê, tỷ lệ thất thoát nước sạch tại Việt Nam dao động từ 15%-30% ở một số khu vực, cao hơn nhiều so với các nước phát triển. Tài nguyên rừng cũng chịu ảnh hưởng bởi hành vi khai thác bừa bãi và không tái tạo đúng mức, gây ra mất mát lớn về tài nguyên rừng, tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học và môi trường...
Một số biểu hiện cụ thể của nhóm hành vi gây lãng phí trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, năng lượng là: (i) Quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên không đúng quy hoạch, kế hoạch, quy trình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; (ii) Gây ô nhiễm, hủy hoại tài nguyên, năng lượng quốc gia, gây lãng phí; (iii) Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất không đúng đối tượng, định mức, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt; sử dụng đất không đúng mục đích, không hiệu quả; chậm đưa vào sử dụng theo quyết định giao đất, hợp đồng thuê đất; không thực hiện đúng thời hạn trả lại đất theo quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; không sử dụng hết diện tích được giao; (iv) Giao đất khi chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính. Không thực hiện đấu giá, đấu thầu theo quy định đối với trường hợp giao đất, cho thuê đất phải đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, gây lãng phí. Chậm thực hiện các thủ tục theo quy định để xác định giá đất, dẫn đến chậm hoặc không thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai; (v) Giải phóng mặt bằng, thực hiện dự án chậm so với tiến độ đã được phê duyệt do nguyên nhân chủ quan; thực hiện dự án, khởi công công trình trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư không đúng quy định, gây lãng phí; (vi) Quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng nhà ở không phù hợp quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở đã được phê duyệt, gây lãng phí; (vii) Cấp phép, thăm dò, khai thác tài nguyên không đúng quy định, thẩm quyền, đối tượng; khai thác, chế biến tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng, tài nguyên nước vượt quá khả năng tái tạo, gây cạn kiệt và suy thoái môi trường; cố ý sử dụng công nghệ lạc hậu trong khai thác tài nguyên, gây lãng phí; (viii) Cấp giấy phép xây dựng cho công trình xây dựng không tuân thủ định mức về sử dụng năng lượng, quy chuẩn kỹ thuật, gây lãng phí; (ix) Quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu số trái quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, gây lãng phí.
Nhóm hành vi gây lãng phí trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Lãng phí trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp là tình trạng sử dụng không hiệu quả vốn nhà nước trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, một số dự án có vốn đầu tư lớn của Nhà nước hoạt động không hiệu quả, thua lỗ, mất vốn; công tác cổ phần hóa, thoái vốn chậm và nảy sinh nhiều bất cập, vi phạm... gây thất thoát, lãng phí vốn và tài sản nhà nước. Nguyên nhân bao gồm quản lý yếu kém, thiếu minh bạch, không tuân thủ quy định, hoặc thậm chí là hành vi cố ý. Hậu quả của lãng phí là làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, gây thất thoát tài sản nhà nước và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
Có thể kể đến một số biểu hiện cụ thể của nhóm hành vi này như sau: (i) Quyết định đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp không đúng thẩm quyền, phạm vi, trình tự, thủ tục quy định, gây lãng phí. Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư ra nước ngoài; đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp nhà nước không đúng mục đích, kém hiệu quả, gây lãng phí; (ii) Thực hiện không đúng quyền hạn, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước trong việc đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp dẫn đến lãng phí; (iii) Quản lý nợ, tài sản của doanh nghiệp có vốn nhà nước không chặt chẽ, kém hiệu quả dẫn đến thất thoát vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp bị thua lỗ, mất vốn, mất khả năng thanh toán, giải thể, phá sản; (iv) Trích lập và quản lý, sử dụng các quỹ không đúng mục đích, chế độ do cấp có thẩm quyền ban hành dẫn đến lãng phí.
Nhóm hành vi gây lãng phí trong quản lý, sử dụng vốn đầu tư công
Vốn đầu tư công là nguồn lực quan trọng nhưng nhiều dự án chưa phát huy hết vai trò do những khiếm khuyết trong tổ chức thực hiện. Lãng phí xảy ra ở nhiều khâu, từ chuẩn bị đầu tư đến quá trình thực hiện và giám sát. Nhiều dự án kéo dài, tăng chi phí, gây lãng phí lớn. Ngoài ra, sự thiếu đồng bộ trong quy hoạch và nghiên cứu dự án dẫn tới chồng chéo, thiếu liên kết giữa các dự án cũng gây lãng phí tài nguyên và nguồn lực.
Một số biểu hiện cụ thể của nhóm hành vi lãng phí trong quản lý, sử dụng vốn đầu tư công gồm:
Quyết định chủ trương đầu tư hoặc quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư không phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; không xác định được nguồn vốn và khả năng cân đối vốn; không đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; (ii) Quyết định đầu tư khi chưa được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư theo quy định; quyết định đầu tư hoặc quyết định điều chỉnh chương trình, dự án không đúng với các nội dung về mục tiêu, địa điểm, cơ cấu nguồn vốn, vượt tổng mức đầu tư trong chủ trương đầu tư đã được cấp có thẩm quyền quyết định. Quyết định điều chỉnh tổng vốn đầu tư của chương trình, tổng mức đầu tư của dự án trái với quy định của pháp luật; (iii) Thông đồng với tổ chức tư vấn, thẩm định, định giá, nhà thầu dẫn tới quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư gây thất thoát, lãng phí vốn, tài sản của Nhà nước, tài nguyên quốc gia. Yêu cầu tổ chức, cá nhân tự bỏ vốn đầu tư khi chưa được quyết định chủ trương đầu tư, chưa được phê duyệt, gây nợ đọng xây dựng cơ bản; (iv) Chậm giải ngân vốn đầu tư công do nguyên nhân chủ quan; không quyết toán, chậm quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công dẫn đến lãng phí.
Nhóm hành vi lãng phí trong quản lý vốn nhà nước trong các dự án đối tác công tư
Các dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) đã có đóng góp đáng kể trong việc phát triển hạ tầng, cung cấp dịch vụ, hỗ trợ Nhà nước trong điều kiện khó khăn về nguồn vốn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy vậy, quá trình thực hiện các dự án vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, gây ra không ít thất thoát, lãng phí.
Điển hình như các biểu hiện sau: (i) Quyết định chủ trương đầu tư dự án PPP có sử dụng vốn nhà nước không phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; không xác định được nguồn vốn nhà nước trong dự án PPP đối với dự án có yêu cầu sử dụng vốn nhà nước; không đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật đầu tư theo phương thức đối tác công tư, gây lãng phí; (ii) Phê duyệt dự án PPP có sử dụng vốn nhà nước khi chưa có chủ trương đầu tư; không phù hợp với chủ trương đầu tư; không đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định, gây lãng phí.
Nhóm hành vi gây lãng phí trong quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động trong khu vực nhà nước
Trong bài viết "Chống lãng phí", Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh nội dung cả hệ thống chính trị cần xem xét lại cách thức sử dụng và quản lý các nguồn lực... Trong đó, lãng phí không đơn thuần chỉ là tiền bạc, tài sản, hay thời gian bị mất đi mà việc đào tạo, bố trí, phân bổ, sử dụng, đánh giá. không đúng con người cũng là lãng phí.
Một số biểu hiện cụ thể của hành vi gây lãng phí trong quản lý, sử dụng lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước gồm: (i) Tuyển dụng công chức vượt quá chỉ tiêu biên chế theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; tuyển dụng sai đối tượng, không đúng quy định hoặc thẩm quyền; (ii) Tuyển dụng vào biên chế, ký hợp đồng lao động xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động không xác định thời hạn đối với những công việc có thể áp dụng hình thức hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng hoặc tuyển dụng theo hình thức ngược lại; (iii) Tuyển dụng viên chức không căn cứ vào yêu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập; (iv) Bố trí, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức không căn cứ vào yêu cầu công việc, trình độ đào tạo, năng lực chuyên môn, ngạch, chức danh theo quy định; (v) Đào tạo, bồi dưỡng không đúng kế hoạch, không căn cứ vào yêu cầu cập nhật kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và năng lực của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; (vi) Sử dụng thời gian lao động vào việc riêng, sử dụng thời gian lao động không hiệu quả; (vii) Giao biên chế cao hơn so với nhu cầu thực tế, không phù hợp với tiến bộ khoa học, trình độ tay nghề của người lao động.
Một số khuyến nghị
Để ngăn chặn, xử lý triệt để các hành vi gây lãng phí đã và đang phát sinh trên thực tiễn với các biểu hiện cụ thể như trên, Bộ Tài chính và các bộ, ngành, địa phương cần nghiên cứu thực hiện đồng bộ một số giải pháp quan trọng sau:
Một là, Bộ Tài chính sớm báo cáo Chính phủ, trình Quốc hội sửa đổi toàn diện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (2013), trong đó, bổ sung các quy định để nhận diện đầy đủ các hành vi gây lãng phí đã và đang phát sinh trên thực tiễn thời gian qua, kịp thời thể chế hóa các hành vi gây lãng phí cần tập trung xử lý mà Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã xác định tại Hướng dẫn số 63-HD/BCĐTW.
Hai là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên và liên tục. Cần phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương để rà soát, kịp thời nắm bắt các hành vi lãng phí mới, đồng thời xử lý nghiêm minh các vụ vi phạm lớn theo tinh thần "xử lý một vụ, cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực".
Ba là, rà soát lại các quy định pháp luật hiện hành về chế tài xử lý, đảm bảo tính răn đe phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, xác định đây là biện pháp phòng, chống hữu hiệu, quan trọng, góp phần ngăn chặn trước khi các chủ thể có ý định thực hiện hành vi gây lãng phí.
Bôn là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật để nâng cao nhận thức và trách nhiệm về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, trong đó đề cao sự nêu gương của người đứng đầu tại từng cơ quan, tổ chức, cá nhân khu vực công, khu vực tư về ý nghĩa, tầm quan trọng và trách nhiệm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (2025). Hướng dẫn số 63-HD/BCĐTW ngày 28/4/2025 hướng dẫn một số nội dung trọng tâm về công tác phòng, chống lãng phí.
2. Quốc hội (2013). Luật số 44/2013/QH13: Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
3. Tổng Bí thư Tô Lâm (2024). Bài viết "Chống lãng phí".
4. Tổng Bí thư Tô Lâm (2025). Bài viết "Thực hành tiết kiệm"
| Ngày nhận bài: 27/6/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 7/7/2025; Ngày duyệt đăng: 14/7/2025. |
Tin tức khác
Loạt chính sách kinh tế mới có hiệu lực từ tháng 9/2026
Thuốc lá lậu trên không gian số: Bài toán cần tính đến trong chính sách kiểm soát thuốc lá
Việt Nam tạo thêm “điểm cộng” để hút dòng vốn quốc tế
Giảm áp lực chi phí đất đai, tăng khả năng dự liệu cho doanh nghiệp
Bộ Tài chính hướng dẫn kế toán các khoản vay, trả nợ của Chính phủ
Đầu tư của sinh viên ngành Tài chính: Hiện tượng FOMO tài chính và một số khuyến nghị
Kịp thời ngăn chặn vụ lừa đảo, giả danh cán bộ cơ quan bảo hiểm xã hội
PODCAST: Bộ Tài chính đề xuất siết chi tiền mặt và mở rộng thanh toán qua tài khoản qua Kho bạc
VIDEO: Cải cách quản lý thuế hải quan: Bước tiến thực chất từ Nghị định 252 và Thông tư 86
VIDEO: Bất ngờ thành chủ doanh nghiệp ma: Cảnh báo bẫy lừa từ lộ thông tin cá nhân
PODCAST: Bộ Tài chính ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 19 về đổi mới mô hình phát triển
PODCAST: Kỳ họp không thường lệ thứ nhất: Khơi thông nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng
Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi Luật Đấu thầu thuận lợi hóa quy trình, thủ tục lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư
Điều chỉnh cơ chế vốn cho các dự án phục vụ APEC 2027 tại Phú Quốc
Thủ tướng yêu cầu gỡ vướng, đẩy nhanh tiến độ các cao tốc phía Bắc
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Lễ kỷ niệm 81 năm Quốc khánh 2/9
Từ chính sách giảm thuế đến động lực tăng trưởng bền vững
Bộ Tài chính triển khai Phần mềm theo dõi, xử lý nhà, đất dôi dư trên toàn quốc
Không để chậm ban hành văn bản hướng dẫn luật, nghị quyết mới
Giảm thuế tiếp sức cho hộ kinh doanh và doanh nghiệp, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế
Đảng bộ Bộ Tài chính ghi dấu ấn tại Hội thi Báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi toàn quốc năm 2026
TP. Hồ Chí Minh chọn mô hình nào để phát triển trung tâm outlet?
Mở rộng không gian tăng trưởng từ tài nguyên văn hóa
Khoa học, công nghệ và dữ liệu: Nền tảng để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh
Xuất khẩu Hà Nội 8 tháng tăng 8%, nhập khẩu tăng mạnh phục vụ sản xuất
“Đánh thức” kinh tế Cà Mau bằng số vốn đầu tư trên 439.000 tỷ đồng
Kiến tạo thương hiệu quốc gia từ sức mạnh kinh tế tư nhân
Gỡ điểm nghẽn đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng hơn 10 tỷ USD vốn đầu tư
Toyota Việt Nam mở rộng đầu tư dự án hiện đại hóa nhà máy sản xuất ô tô tại Phú Thọ











