Xác lập mô hình tăng trưởng mới và vị trí, vai trò của các chủ thể tài chính
PGS. TS. Trần Kim Chung
Nguyên Phó Viện trưởng, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương;
PGS. TS. Bùi Văn Huyền
Viện trưởng, Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh;
Các cộng sự (Nhóm nghiên cứu Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các cộng tác viên).
Email: kimchungtranciem@gmail.com; huyenqlkt@gmail.com
Tóm tắt
Xác lập mô hình tăng trưởng mới là một chủ trương của Đảng trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Nghiên cứu này phát triển từ những nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, An Giang và Đồng Nai nhằm góp một tiếng nói về vấn đề xác lập mô hình tăng trưởng. Từ cách tiếp cận hệ thống, nghiên cứu này xây dựng mô hình tăng trưởng 6 thành tố cho kinh tế Việt Nam giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn 2045 trên cơ sở thực chứng từ các chủ trương, đường lối, cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời, kiến nghị nâng cao vai trò, vị trí của các chủ thể tài chính trong hiện thực hóa mô hình tăng trưởng mới.
Từ khóa: Tăng trưởng, tài chính, chủ thể tài chính
Summary
The establishment of a new growth model is a key policy of the Party of Viet Nam in the new era - the era of the national rise. The study builds upon previous research conducted in Lam Dong, An Giang and Dong Nai provinces, aiming to establish a systemsbased growth model. The study proposes a sixcomponent growth model for Viet Nam’s economy for the period 2026 -2030, with a vision toward 2045. The model is developed based on empirical evidence sourced from the Party’s and the State’s orientations, policies, mechanisms, and strategic directives. From this foundation, the study offers recommendations to enhance the role and position of financial actors in the realization of the new growth model.
Keywords: Growth, finance, financial actors
Bối cảnh quốc tế và trong nước Bối cảnh quốc tế đang cho thấy những xu hướng chính: (i) Tình hình thế giới hiện nay hội nhập và chia tách đan xen, mặc dù xu thế hội nhập vẫn là chủ đạo nhưng vẫn có những xung đột, chia tách, cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc diễn ra quyết liệt nên tình hình rất khó đoán định; (ii) Cách mạng công nghiệp 4.0 tác động sâu rộng đến mỗi quốc gia, cả thuận lợi và thách thức. Đặc biệt, tạo ra một không gian kinh tế mới ngoài không gian kinh tế thực hiện hữu – đó là không gian kinh tế số (ảo) với những tài sản mã hóa, đồng tiền ảo; (iii) Các chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất đang điều chỉnh chiến lược và địa bàn, hệ quả là vốn đầu tư dịch chuyển, tạo ra thách thức trong cạnh tranh thu hút vốn giữa các quốc gia; (iv) Vấn đề an ninh phi truyền thống khi xuất hiện các loại hình tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên biên giới… tạo ra những thách thức rất lớn đối với mọi nền kinh tế trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế số; (v) Biến đổi khí hậu tác động tiêu cực đến đời sống xã hội, con người và đòi hỏi chi phí khắc phục rất cao.
![]() |
| Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả trên cơ sở các bài của Bùi Văn Huyền (2025) và Trần Kim Chung (2025) |
Trong khi đó, bối cảnh trong nước cho thấy: (i) Việt Nam có môi trường chính trị - kinh tế - xã hội ổn định. Con người Việt Nam được đánh giá là thông minh, cần cù, muốn vươn lên. Vì vậy, các nhà đầu tư chiến lược, công nghệ cao lựa chọn dịch chuyển vốn đầu tư đến Việt Nam; (ii) Nền kinh tế có mức tăng trưởng khá tốt nhưng còn thách thức về xu hướng chuyển đổi mô hình phát triển. Việt Nam đã và đang có mức tăng trưởng tích cực trong suốt 40 đổi mới cải cách và Việt Nam đang đặt ra mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số. Tuy nhiên, quá trình phát triển còn đối mặt với nhiều thách thức: năng suất lao động thấp, chất lượng nhân lực hạn chế, sản xuất phụ thuộc vào gia công - lắp ráp, FDI chiếm tỷ trọng lớn. Xuất nhập khẩu còn phụ thuộc vào một số ít đối tác chủ yếu. Doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là nhỏ và vừa...; (iii) Việt Nam đang trong công cuộc tổ chức lại bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực hiệu quả. Đồng thời, hệ thống chính quyền địa phương 2 cấp với quy mô về không gian mới, đủ lớn để phát triển kinh tế trong bối cảnh mới; (iv) Bộ tứ trụ cột để quốc gia, dân tộc bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc đã được xác lập (Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 59-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị); (v) Biến đổi khí hậu và các vấn đề an ninh phi truyền thống diễn ra rất phức tạp, diễn biến khó lường, gây những hậu quả lớn. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng đạt mục tiêu tăng trưởng GRDP hai con số Trong giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn 2030, để phát huy thế mạnh và những lợi thế, khắc phục được những hạn chế, thách thức, việc xác lập mô hình tăng trưởng phải dựa trên hướng tiếp cận hệ thống: Mô hình tăng trưởng Việt Nam là 1 hệ thống gồm 6 thành tố, từ đó, tạo ra tính trồi hệ thống là tăng trưởng GDP của cả nước.
Một mục tiêu
Tăng trưởng GDP 2 con số. Cả nước đang trong tiến trình phấn đấu phát triển 2 con số cho kỷ nguyên mới, vì vậy, cần phát huy tất cả các điểm mạnh – cơ hội và khắc phục, vượt qua tất cả các điểm yếu, thách thức để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số, góp phần phát triển địa phương và cùng cả nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc (GS. TS. Tô Lâm, 2024).
Hai động lực
Đầu tư: Trong giai đoạn 2026-2030, đầu tư là một trong những động lực cho tăng trưởng. Đầu tư công tập trung phát triển hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, từ đó, tạo ra tiềm năng tăng trưởng lâu dài cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, đầu tư của kinh tế tư nhân, đầu tư nước ngoài được xác định là rất quan trọng đối với Việt Nam. Đặc biệt, cùng với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và quá trình hội nhập quốc tế thế hệ mới, nếu thu hút được các nhà đầu tư chiến lược, các nhà đầu tư công nghệ cao trong giai đoạn tới, việc đạt được tăng trưởng 2 con số trong một giai đoạn dài là rất hiện thực.
Chuyển đổi số: Chuyển đổi số đã được coi là một động lực của phát triển. Đặc biệt, tại địa bàn trọng điểm như Thành phố Hồ Chí Minh, chuyển đổi số được chú trọng và tăng cường, góp phần thúc đẩy phát triển của một đầu kéo của nền kinh tế. Hà Nội cũng đang tăng cường đẩy mạnh chuyển đổi số. Mục tiêu tỷ trọng kinh tế số đến năm 2030 của Việt Nam được xác định là 30%.
Ba đột phá
- Quy hoạch: Cùng với việc sắp xếp, sáp nhập các tỉnh từ 64 xuống còn 34 đơn vị và việc sáp nhập các tỉnh Tây Nguyên với Duyên hải Nam Trung bộ, việc rà soát quy hoạch được đặt ra. Đặc biệt, một số tỉnh được nhập từ 3 tỉnh trước đây trở thành các địa phương có diện tích lớn (chẳng hạn Lâm Đồng) hay quy mô kinh tế lớn (như Thành phố Hồ Chí Minh), vì vậy, vấn đề rà soát quy hoạch với 23 đơn vị sáp nhập cũng như quy hoạch 2 vùng Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung cần được cập nhật.
- Hạ tầng: Hạ tầng luôn được coi là một đột phá, hay trọng yếu cho phát triển. Việt Nam đang tập trung phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng: Hệ thống đường cao tốc, hệ thống san bay, đặc biệt là sân bay quốc tế tầm cơ Đông nam Á - Long Thành; hệ thống cảng biển; Đường sắt tốc độ cao. Bên cạnh đó, hạ tầng các đô thị cũng được chú trọng đầu tư. Có thể thấy, trong giai đoạn 2026-2030, hạ tầng là một điểm nhấn của phát triển.
- Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là một đột phá chiến lược. Nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ lãnh đạo của các đơn vị cấp tỉnh, cấp xã hiện nay. Trong đó, đội ngũ lãnh đạo của các đơn vị mới sáp nhập là nguồn lực rất quan trọng trong phát triển. Hơn nữa, trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ, nhất là các nhân tài sẽ là chìa khóa thành công của cải cách, đổi mới, phát triển.
Bốn trụ cột
- Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Đây là một trụ cột, đồng thời là đột phá, chiến lược hàng đầu theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW. Trước hết là hệ thống chính phủ số. Sau sáp nhập, quy mô các tỉnh lớn hơn, dân số đông hơn, kinh tế đa dạng hơn, hợp tác quốc tế rộng lớn, đòi hỏi công cuộc chuyển đổi số một trụ cột rất quan trọng. Trong công cuộc phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, việc trước hết cần làm là tạo lập chính phủ số. Thứ đến là thu hút các doanh nghiệp công nghệ 4.0. Việc có được 1 chính phủ số và 1 nền sản xuất dựa trên nền tảng công nghệ 4.0 là hết sức cấp bách đối với nước ta giai đoạn 2026-2030.
- Phát triển kinh tế tư nhân, đặc biệt là thu hút các nhà đầu tư chiến lược. Việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, nhất là các nhà đầu tư chiến lược, các nhà đầu tư công nghệ cao thực sự là một trụ cột có vai trò then chốt trong công cuộc phát triển nước ta trong giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn 2045.
- Hội nhập thế hệ mới. Hội nhập quốc tế trong bối cảnh mới là một trụ cột của phát triển theo tinh thần Nghị quyết 59-NQ/TW. Đặc biệt trong bối cảnh mới, việc thu hút được các doanh nghiệp công nghệ cao, các nhà đầu tư chiến lược đòi hỏi Việt Nam phải có một chương trình hành động thích hợp, một đội ngũ cán bộ ngang tầm, một hệ thống cơ sở đáp ứng được yêu cầu, đặc biệt là vấn đề thủ tục hành chính.
- Hoàn thiện thể chế, thí điểm cơ chế vượt trội. Việc hoàn thiện hệ thống chính sách và tổ chức thực hiện đã được quán triệt như là một trụ cột bởi Nghị quyết 66-NQ/TW. Việc vận dụng trong thực tiễn giai đoạn 2026-2030 rất cần những cơ chế, chính sách vượt trội nhất là với Khu đô thị dịch vụ tổng hợp Sân bay Long Thành; đặc khu Phú Quốc; hệ thống đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam; cũng như để hoàn thành hệ thống hạ tầng, nhất là đường cao tốc trên địa bàn; để thu hút được những nhà đầu tư chiến lược, nhà đầu tư công nghệ cao trong giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn 2045.
Năm trọng điểm
- Trọng điểm địa bàn Vùng Hà Nội. Cần có những cơ chế, chính sách phù hợp để khai thác hết những đặc thù của Hà Nội. Một là, Hà Nội là Thủ đô của cả nước, nơi tập trung các cơ quan Trung ương của Đảng và Nhà nước, đồng thời là nơi tập trung các cơ quan đầu não của các doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước. Hai là, Hà Nội là trung tâm giao thông khu vực phía Bắc và là trung tâm của Vùng Đồng bằng Sông Hồng. Ba là, Hà Nội là một trong những địa phương tập trung rất nhiều di tích văn hóa, lịch sử và xã hội.
- Trọng điểm địa bàn Vùng Thành phố Hồ Chí Minh. Trước hết, cần rà soát, cập nhật quy hoạch cho địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh sau sáp nhập. Thứ đến, địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cần được tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết 98/2023/ QH15 ngày 24/6/2023 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh cho địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh sau sáp nhập. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu, cho áp dụng cơ chế theo Nghị quyết 98/2023/QH15 cho cả địa bàn tỉnh Tây Ninh và Đồng Nai (sau sáp nhập). Ngoài ra, cần có những cơ chế, chính sách để khai thác lợi thế từ việc mở rộng địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trên ít nhất ba bình diện: (i) Các khu công nghiệp; (ii) thu hút các doanh nghiệp chiến lược và doanh nghiệp công nghệ 4.0; (iii) Kinh tế biển…
- Trọng điểm địa bàn Hải Phòng - Quảng Ninh. Tập trung hoàn thiện hệ thống cảng biển và hạ tầng kết nối cảng biển với hệ thống hạ tầng khu vực phía Bắc và các tỉnh phía Nam Trung Quốc. Phát triển một cách đồng bộ hệ thống các khu công nghiệp trên địa bàn Hải Phòng - Quảng Ninh kết nối với Hà Nội trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, kết nối Quảng Ninh, Hải Phòng với Hà Nội, Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.
- Trọng điểm địa bàn Huế - Đà Nẵng. Phát huy thế mạnh của trung tâm tài chính quốc tế; Khu thương mại tự do Đà Nẵng. Khai thác sự kết nối Huế - Đà Nẵng với Hành lang kinh tế Đông Tây, tạo điểm nhấn trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.
- Trọng điểm địa bàn Vùng Cần Thơ (Tây Nam bộ). Kết nối Cần Thơ với Tứ giác Long Xuyên - Cảng Trần Đề; Tạo điểm nhấn Vùng kinh tế trọng điểm Tây Nam bộ. Đặc biệt chú trọng phát triển Đặc khu Phú Quốc đúng với tiềm năng, lợi thế của Phú Quốc trong chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam.
Sáu trọng tâm
- Đề án rà soát đồng bộ quy hoạch: Đây là một trong những đề án quan trọng, cần triển khai thực hiện trước nhất. Cần đảm bảo quy hoạch thống nhất, khoa học, đồng bộ giữa quy hoạch tỉnh, quy hoạch phát triển đô thị, nông thôn, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch vùng, quy hoạch ngành một cách khoa học, khả thi và chế tài.
- Danh mục các công trình hạ tầng giao thông: Trong đó: (i) Tiếp tục triển khai Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam. (ii) Tập trung nâng cấp hệ thống sân bay theo đúng quy hoạch và chủ trương của Đảng và Nhà nước giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn 2045. (iii) Tập trung triển khai đầu tư Danh mục các đường cao tốc. Tập trung hoàn thành các hạng mục công trình tạo ra đường kết nối các địa bàn trọng điểm. (iv) Triển khai phát triển các cảng biển trên địa bàn và đường sông giai đoạn mới. (v) Triển khai đầu tư phát triển tổng thể phát triển các khu công nghiệp giai đoạn mới. Đồng thời có các chương trình hành động thu hút các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư chiến lược và nhà đầu tư công nghệ cao. (vi) Triển khai các công trình hạ tầng đô thị, đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Danh mục Đề án cơ chế, chính sách đặc thù: (i) Đề án phát triển các địa bàn kinh tế đặc thù: Đặc khu kinh tế Phú Quốc; Vùng Đô thị kinh tế dịch vụ tổng hợp Sân bay Long Thành; Các Khu kinh tế cửa khẩu; Các Khu kinh tế ven biển; các Khu thương mại tự do... (ii) Đề án cơ chế chính sách phát triển các đô thị TOD. (iii) Đề án phát triển nhà ở xã hội, đặc biệt nhà cho lao động các khu công nghiệp.
- Danh mục đề án phát triển các lĩnh vực: (i) Đề án phát triển các công cụ tài chính phái sinh để phát triển thị trường bất động sản. (ii) Đề án khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đặc biệt là chính phủ số. (iii) Đề án phát triển kinh tế tư nhân theo hướng thu hút các doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài nước, đặc biệt là các nhà đầu tư chiến lược và đầu tư công nghệ cao.
- Đề án nguồn nhân lực chất lượng cao. Đặc biệt là nhân lực đáp ứng công nghiệp 4.0. và đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh và cấp xã. Đây là vấn đề vừa lớn, vừa cấp thiết để có được một đội ngũ cán bộ ngang tầm với nhiệm vụ giai đoạn mới.
- Đề án kết nối vùng, kết nối liên vùng và hội nhập quốc tế. Đề án tạo lập các cơ chế về liên kết vùng, liên kết liên vùng. Hình thành đề án hội nhập quốc tế theo hướng hội nhập đa tuyến, đa tầng. Đặc biệt là mở ra các địa bàn hợp tác quốc tế mới.
Nâng cao vai trò, vị trí của các chủ thể tài chính trong hiện thực hóa mô hình tăng trưởng mới
Để thực hiện các thành tố xác lập mô hình tăng trưởng mới, có 7 nhóm chủ thể và đối tượng tham gia: (1) Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. (2) Kinh tế; (3) Khoa học công nghệ. (4) Văn hóa - Xã hội - Con người. (5) Môi trường; (6) Quốc phòng, An ninh, Đối ngoại; (7) Người dân. Một bộ phận trong các chủ thể Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị để vận hành mô hình tăng trưởng giai đoạn 2026-2030 là các chủ thể tài chính, trong đó Bộ Tài chính là đơn vị nòng cốt.
Chức năng nhiệm vụ của Bộ Tài chính được quy định tại Nghị định số 29/2025/NĐ-CP ngày 24/02/2025 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính và Nghị định 166/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ sửa đổi bổ sung Nghị định 29/2025/NĐ-CP, với hơn 20 nhiệm vụ có liên quan đến nghiệp vụ tài chính. Để mô hình tăng trưởng đạt được mục tiêu, có rất nhiều nội dung, rất nhiều hoạt động cần được triển khai và có sự nỗ lực đồng bộ của các bên hữu quan. Tựu trung lại, có một số nội dung liên quan đến vị trí, vai trò của các chủ thể tài chính cần quán triệt:
Thứ nhất, định hướng tăng cường hiệu quả đầu tư – tài chính. Trong giai đoạn 2026-2030, gắn liền với việc tổ chức triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV, theo hướng tăng trưởng dựa vào hiệu quả và năng suất. Chú trọng công nghệ, số hóa, R&D; Cải cách thể chế (giảm chi phí giao dịch, minh bạch hóa); Chất lượng nguồn nhân lực. Chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu, thay vì mở rộng sản xuất, tập trung vào đổi mới sản phẩm, chuỗi giá trị cao hơn, kinh tế số, xanh, tuần hoàn. Tài chính phải dùng để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Chuyển đầu tư công sang đầu tư thông minh, gắn với chuyển đổi số, hạ tầng mềm. Khuyến khích tài chính tư nhân vào các lĩnh vực có năng suất cao. Cơ cấu lại chi tiêu công: giảm chi thường xuyên, tăng chi đầu tư có lan tỏa lớn. Thúc đẩy chính sách thuế và tín dụng khuyến khích đổi mới sáng tạo.
Thứ hai, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến tài chính: (i) Tổ chức rà soát quy hoạch tổng thể, đồng bộ và phê duyệt quy hoạch rà soát tổng hợp cho tất cả các tỉnh được sáp nhập; quy hoạch vùng Tây Nguyên (cũ) và Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung (cũ). (ii) Nghiên cứu trình ban hành các cơ chế vượt trội để phát triển các dự án đặc thù, khai thác được nhiều nhất những lợi thế. (iii) Hoàn thiện quy trình, môi trường đầu tư, kinh doanh để thu hút doanh nghiệp tư nhân và nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư chiến lược. (iv) Hoàn thiện quy trình, thủ tục thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân tài và nhân lực công nghệ 4.0. (v) Nghiên cứu, trình ban hành cơ chế, chính sách liên kết vùng, đặc biệt là cơ chế đầu tư các trục kết nối các tỉnh với các hạ tầng trọng điểm theo hướng thuận lợi nhất cho các tỉnh có điều kiện ngân sách đầu tư công trình hạ tầng kết nối vùng.
Thứ ba, tổ chức thực hiện. (i) Triển khai các công trình hạ tầng trên địa bàn cả nước, đặc biệt lưu các công trình hạ tầng trọng điểm, các dự án công trình trọng điểm; các trục kết nối liên vùng. (ii) Khẩn trương chuyển đổi số trên địa bàn cả nước, đặc biệt là hoàn thiện chính quyền số. (iii) Tập trung rà soát, đánh giá nguồn lực văn hóa, hình thành nền văn hóa bản địa. (iv) Xây dựng đề án phát triển vận tải và kinh tế đường sông. (v) Xây dựng đề án phát triển du lịch trên địa bàn các tỉnh mới sáp nhập, chú trọng các địa điểm du lịch gắn với lịch sử và văn hóa bản địa. (vi) Xây dựng đề án phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng xanh, đảm bảo đa dạng sinh học và phát triển bền vững…
Thứ tư, thực hiện chức năng của cơ quan chủ quản các nguồn tài chính, đặc biệt là nguồn tài chính công: (i) Bố trí nguồn vốn đúng, đủ, kịp thời cho hệ thống các công trình hạ tầng. (ii) Đồng hành với các cơ quan hữu quan cả nước trong thu hút các nhà đầu tư chiến lược, các nhà đầu tư công nghệ 4.0 vào Việt Nam. (iii) Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, rút kinh nghiệm, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách, tổ chức thực hiện, chế tài để đảm bảo các chính sách, các chương trình, các dự án được thực hiện hướng tới đạt được những kết quả là tính trồi của hệ thống - tăng trưởng 2 con số.
Thứ năm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tài chính. Cùng với quá trình xếp lại các cơ quan trung ương, trong đó có cơ quan Bộ Tài chính, đội ngũ những cán bộ Tài chính và Kế hoạch đầu tư được sắp xếp, kiện toàn. Bộ Tài chính hiện nay được coi là xương sống, nòng cốt, nền tảng cho sự phát triển của đất nước. Vì vậy, nâng cao chất lượng đội ngũ của ngành Tài chính nói chung là một việc rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay.
Tóm lại
Mô hình tăng trưởng Việt Nam giai đoạn 2026- 2030, tầm nhìn 2045 được cấu thành bởi 6 thành tố. Các chủ thể tài chính, đặc biệt là ngành Tài chính, cụ thể là Bộ Tài chính, với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan thực hiện chức năng đảm bảo hệ thống pháp luật, đồng thời cũng là cơ quan đảm bảo tài chính cho nền kinh tế vận hành, có rất nhiều nội dung cần thực hiện. Đồng thời, cần phối hợp đồng bộ với các cơ quan, các cấp chính quyền để mô hình vận hành đồng bộ, đầy đủ, thông suốt, từ đó sẽ tạo nên tính trồi hệ thống của mô hình - đó chính là tăng trưởng 2 con số.
Tài liệu tham khảo:
1. Báo Điện tử Chính phủ, 2025. Tổng Bí thư Tô Lâm: Bốn Nghị quyết đột phá là “Bộ tứ trụ cột” đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. https://baochinhphu.vn
2. Báo Điện tử Chính phủ, 2025. Thủ tướng: Xác định mục tiêu tăng trưởng 2 con số, phát triển nhanh, xanh, bền vững. https://baochinhphu.vn
3. Báo điện tử Chính phủ, 2025. Bộ Tài chính là “xương sống”, “nòng cốt của nòng cốt”, nền tảng cho sự phát triển kinh tế đất nước. https:// xaydungchinhsach.chinhphu.vn
4. Bộ Chính trị, Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết 59-NQ/TW; Nghị quyết số 66-NQ/ TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về “Hội nhập quốc tế trong tình hình mới”
5. Bùi Văn Huyền, 2025. Định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh An Giang đến năm 2030. Kỷ yếu Hội thảo Định hướng phát triển kinh tế - xã hội và góp ý Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh An Giang nhiệm kỳ 2025-2030.
6. Chính phủ, 2025. Nghị định số 29/2025/NĐ-CP ngày 24/02/2025 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính.
7. Quốc hội, 2023. Nghị quyết số 98/2023/QH15ngày 24/6/2023 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh.
8. Tổng Bí thư Tô Lâm, 2024. Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mìnhcủa dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nướcbước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. https://www.tapchicongsan.org.vn/
9. Trần Kim Chung, 2025. Phát huy lợi thế và tiềm năng của tỉnh Đồng Nai, đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đạt mục tiêu tăng trưởng GRDP hai con số. Kỷ yếu hội thảo khoa học: Định hướng phát triển kinh tế - xã hội với mục tiêu tăng trưởng hai con số và góp ý Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Đồng Nai, nhiệm kỳ 2025-2030. Tỉnh ủy Đồng Nai. Ngày 01/8/2025.
| Ngày nhận bài: 8/7/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 15/7/2025, Ngày duyệt đăng: 22/7/2025 |
Tin tức khác
Loạt chính sách kinh tế mới có hiệu lực từ tháng 9/2026
Thuốc lá lậu trên không gian số: Bài toán cần tính đến trong chính sách kiểm soát thuốc lá
Việt Nam tạo thêm “điểm cộng” để hút dòng vốn quốc tế
Giảm áp lực chi phí đất đai, tăng khả năng dự liệu cho doanh nghiệp
Bộ Tài chính hướng dẫn kế toán các khoản vay, trả nợ của Chính phủ
Đầu tư của sinh viên ngành Tài chính: Hiện tượng FOMO tài chính và một số khuyến nghị
Kịp thời ngăn chặn vụ lừa đảo, giả danh cán bộ cơ quan bảo hiểm xã hội
PODCAST: Bộ Tài chính đề xuất siết chi tiền mặt và mở rộng thanh toán qua tài khoản qua Kho bạc
VIDEO: Cải cách quản lý thuế hải quan: Bước tiến thực chất từ Nghị định 252 và Thông tư 86
VIDEO: Bất ngờ thành chủ doanh nghiệp ma: Cảnh báo bẫy lừa từ lộ thông tin cá nhân
PODCAST: Bộ Tài chính ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 19 về đổi mới mô hình phát triển
PODCAST: Kỳ họp không thường lệ thứ nhất: Khơi thông nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng
Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi Luật Đấu thầu thuận lợi hóa quy trình, thủ tục lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư
Điều chỉnh cơ chế vốn cho các dự án phục vụ APEC 2027 tại Phú Quốc
Thủ tướng yêu cầu gỡ vướng, đẩy nhanh tiến độ các cao tốc phía Bắc
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Lễ kỷ niệm 81 năm Quốc khánh 2/9
Từ chính sách giảm thuế đến động lực tăng trưởng bền vững
Bộ Tài chính triển khai Phần mềm theo dõi, xử lý nhà, đất dôi dư trên toàn quốc
Không để chậm ban hành văn bản hướng dẫn luật, nghị quyết mới
Giảm thuế tiếp sức cho hộ kinh doanh và doanh nghiệp, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế
Đảng bộ Bộ Tài chính ghi dấu ấn tại Hội thi Báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi toàn quốc năm 2026
TP. Hồ Chí Minh chọn mô hình nào để phát triển trung tâm outlet?
Mở rộng không gian tăng trưởng từ tài nguyên văn hóa
Khoa học, công nghệ và dữ liệu: Nền tảng để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh
Xuất khẩu Hà Nội 8 tháng tăng 8%, nhập khẩu tăng mạnh phục vụ sản xuất
“Đánh thức” kinh tế Cà Mau bằng số vốn đầu tư trên 439.000 tỷ đồng
Kiến tạo thương hiệu quốc gia từ sức mạnh kinh tế tư nhân
Gỡ điểm nghẽn đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng hơn 10 tỷ USD vốn đầu tư
Toyota Việt Nam mở rộng đầu tư dự án hiện đại hóa nhà máy sản xuất ô tô tại Phú Thọ












