Ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số trong khu vực kinh tế hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam
Nguyễn Anh Quang
Lê Thị Thúy
Hồ Thị Hòa
Học viện Tài chính;
Email: nguyenanhquang@gmail.com
Summary
Empirical evidence indicates that the application of technology and digital transformation in the agricultural cooperative economy in recent years has exhibited many positive growth signals, while also revealing considerable potential for enhancing operational efficiency, governance capacity, and market participation. Notably, Resolution No. 20-NQ/TW has set out specific targets toward 2030, aiming for approximately 45,000 cooperatives nationwide with about 8 million members, of which at least 50% are expected to participate in value chains. This context presents numerous opportunities while simultaneously posing significant challenges for the agricultural cooperative sector. The study conducts a comprehensive assessment of several salient aspects of technology adoption and digital transformation in Viet Nam’s cooperative economy during the period 20222024. Based on an analysis of the implementation status, achieved outcomes, as well as the opportunities and challenges encountered, the study proposes several perspectives and strategic orientations to promote technology adoption and digital transformation in the cooperative economy in the coming period.
Keywords: Technology adoption, digital transformation, agricultural cooperative economy, Viet Nam
Đặt vấn đề
Khu vực kinh tế hợp tác xã (HTX), đặc biệt là HTX nông nghiệp, giữ vai trò quan trọng trong tổ chức sản xuất, cung ứng dịch vụ, liên kết tiêu thụ và tạo việc làm ổn định cho khu vực nông thôn, đồng thời là cầu nối giữa nông hộ và doanh nghiệp trong chuỗi giá trị nông nghiệp. Mặc dù, phải đối mặt với nhiều thách thức từ thị trường, cạnh tranh và biến đổi khí hậu, nông nghiệp tiếp tục là trụ cột của nền kinh tế Việt Nam, duy trì được sự tăng trưởng trong năm 2024 (tăng 18,5% so với cùng kỳ năm 2023) với kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt kỷ lục 62,4 tỷ USD (Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, 2024). Tuy nhiên, phần lớn HTX nông nghiệp hiện nay hoạt động với quy mô nhỏ, phân tán, năng lực quản trị còn hạn chế, trình độ ứng dụng công nghệ thấp, khả năng tiếp cận thị trường hiện đại và tiêu chuẩn chất lượng còn yếu. Những “điểm nghẽn” này khiến HTX khó tham gia sâu vào chuỗi giá trị, khó nâng cao năng lực cạnh tranh; đồng thời làm gia tăng chi phí giao dịch và giảm tính minh bạch trong điều hành. Trong bối cảnh đó, ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu, không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thường xuyên mà còn để tạo ra mô hình HTX kiểu mới, hoạt động dựa trên dữ liệu, công nghệ và tính kết nối. Bởi vậy, việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong khu vực kinh tế HTX nông nghiệp mang ý nghĩa cấp thiết, nhằm nhận diện rõ hiện trạng, thách thức, mức độ sẵn sàng và các yếu tố ảnh hưởng; từ đó đề xuất các giải pháp khả thi giúp HTX nông nghiệp phát triển hiệu quả trong kỷ nguyên số.
Thực trạng ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong khu vực kinh tế hợp tác, hợp tác xã ở việt nam
Tổng quan về HTX nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2022-2024
Giai đoạn 2022-2024, khu vực HTX nông nghiệp Việt Nam tiếp tục mở rộng về quy mô và số lượng, phản ánh xu hướng gia tăng vai trò của kinh tế hợp tác trong tổ chức lại sản xuất nông nghiệp. Theo số liệu của Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn - Bộ Nông nghiệp và Môi trường), tổng số HTX nông nghiệp tăng từ 19.431 đơn vị năm 2022 lên 20.789 đơn vị năm 2023 và đạt 21.731 đơn vị năm 2024, tương ứng mức tăng lần lượt 7,0% và 4,5% (Bảng 1).
Về hiệu quả kinh doanh, doanh thu bình quân mỗi HTX nông nghiệp biến động khá mạnh. Sau khi đạt mức 2.860 triệu đồng/HTX năm 2022, doanh thu giảm xuống còn 2.500 triệu đồng/HTX năm 2023, tương ứng mức giảm 12,6% trước áp lực biến động thị trường và chi phí đầu vào tăng cao. Đến năm 2024, doanh thu phục hồi lên 2.700 triệu đồng/HTX, nhưng vẫn chưa lấy lại mức của năm 2022. Điều này cho thấy, khu vực HTX nông nghiệp còn dễ bị tổn thương trước các cú sốc thị trường và hiệu quả kinh doanh chưa ổn định. Từ thực trạng trên, có thể thấy nhu cầu tăng cường quản trị, mở rộng thị trường tiêu thụ và thúc đẩy ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong HTX nông nghiệp là hết sức cần thiết nhằm nâng cao năng suất, ổn định doanh thu và phát triển bền vững trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.
| BẢNG 1: SỐ HỢP TÁC XÃ, DOANH THU, THU NHẬP BÌNH QUÂN GIAI ĐOẠN 2022-2024 ĐVT: Triệu đồng
Nguồn: Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (2022-2024
|
Trong giai đoạn 2022-2024, tổng số lao động thường xuyên trong các HTX nông nghiệp có xu hướng gia tăng, phản ánh vai trò ngày càng rõ nét của khu vực này trong việc tạo việc làm và ổn định sinh kế cho lao động nông thôn. Song song với đó, tổng số thành viên tham gia HTX nông nghiệp tuy có biến động nhưng nhìn chung vẫn duy trì ở mức cao, cho thấy sức hấp dẫn và vai trò tổ chức của mô hình HTX nông nghiệp. Cụ thể, quy mô thành viên đạt khoảng 3,8 triệu người, tăng lên 4,81 triệu người, trước khi điều chỉnh về mức 4,55 triệu người. Diễn biến này cho thấy quá trình mở rộng về mặt tổ chức diễn ra đồng thời với việc tái cơ cấu và sàng lọc các HTX nông nghiệp hoạt động kém hiệu quả.
Bên cạnh đó, lao động thường xuyên trong HTX nông nghiệp chiếm tỷ trọng đáng kể, góp phần tạo việc làm ổn định cho khu vực nông thôn, khẳng định vai trò của HTX trong nền kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, quy mô lao động bình quân mỗi HTX còn thấp (75-80 người/HTX), phản ánh đặc điểm hoạt động nhỏ và phân tán. Điều này cho thấy, HTX nông nghiệp đang trong quá trình chuyển đổi, đặt ra yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ và nâng cao năng lực quản trị nhằm sử dụng lao động hiệu quả hơn và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị (Hình 1).
![]() |
Năm 2023, vốn sản xuất - kinh doanh bình quân của mỗi HTX nông nghiệp đạt khoảng 1,78 tỷ đồng, tăng 4,5% so với năm 2022 nhưng vẫn ở mức thấp, chưa đáp ứng yêu cầu mở rộng sản xuất và đổi mới công nghệ. Vốn góp của thành viên chiếm khoảng 40%, phản ánh vai trò nội lực, trong khi khả năng tiếp cận vốn bên ngoài, đặc biệt là tín dụng ưu đãi, còn hạn chế do rào cản về tài sản bảo đảm và năng lực quản trị tài chính. Dù có cải thiện, nguồn vốn hiện nay vẫn chưa đủ tạo dư địa tài chính để HTX nông nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Thực trạng ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong khu vực hợp tác xã nông nghiệp Việt
Nam giai đoạn 2022 - 2024 - Về áp dụng công nghệ cao trong sản xuất:
Giai đoạn 2022-2024, số lượng HTX nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (CNC) trên phạm vi cả nước có xu hướng gia tăng rõ nét. Cụ thể, năm 2022, cả nước có 1.913 HTX nông nghiệp ứng dụng CNC; đến năm 2023, con số này tăng lên khoảng 2.500 HTX và tiếp tục đạt 2.520 HTX vào năm 2024, tương ứng mức tăng xấp xỉ 30% so với năm 2022. Diễn biến này phản ánh những chuyển biến tích cực trong việc tiếp cận và ứng dụng khoa học - công nghệ của khu vực kinh tế hợp tác nông nghiệp.
Xét về cơ cấu, HTX nông nghiệp ứng dụng CNC chiếm khoảng 9,86% tổng số HTX nông nghiệp cả nước năm 2022, tăng lên khoảng 12% vào năm 2023, trước khi điều chỉnh nhẹ xuống mức 11,6% vào năm 2024. Mặc dù, cơ cấu chưa thực sự ổn định và còn ở mức tương đối thấp, song xu hướng chung cho thấy vai trò ngày càng gia tăng của CNC trong hoạt động sản xuất - kinh doanh của các HTX nông nghiệp; đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng ứng dụng công nghệ trong khu vực này (Hình 2).
![]() |
Năm 2024, cơ cấu HTX nông nghiệp ứng dụng CNC phân bố không đồng đều giữa các vùng kinh tế. Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long chiếm tỷ trọng cao nhất (khoảng 21% mỗi vùng), phản ánh lợi thế về quy mô sản xuất, hạ tầng và thị trường. Tây Nguyên đạt khoảng 17%, gắn với phát triển nông nghiệp hàng hóa chủ lực. Trung du và miền núi phía Bắc cùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung chiếm khoảng 16%, cho thấy nỗ lực ứng dụng công nghệ trong điều kiện còn hạn chế. Đông Nam Bộ có tỷ trọng thấp nhất (khoảng 9%), cho thấy dư địa lớn để mở rộng HTX nông nghiệp ứng dụng CNC trong thời gian tới (Hình 3).
![]() |
Nhiều HTX nông nghiệp đã ứng dụng CNC trong sản xuất - kinh doanh mang lại hiệu quả nhất định.
Năm 2022, các lĩnh vực ứng dụng CNC trong HTX nông nghiệp tập trung chủ yếu vào kỹ thuật canh tác, nuôi trồng và bảo quản (chiếm 84,6%), tiếp đến là công nghệ thông tin trong quản lý và kinh doanh (40,4%), công nghệ tự động hóa (29,1%) và công nghệ sinh học trong nông nghiệp (20,6%). Cơ cấu này cho thấy CNC được ưu tiên áp dụng trước hết ở các khâu trực tiếp nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất. Tuy nhiên, tỷ lệ HTX nông nghiệp ứng dụng CNC còn thấp do nhiều rào cản, chủ yếu là thiếu vốn đầu tư, hạn chế liên kết tiêu thụ sản phẩm, chi phí CNC, năng lực nhân sự chưa đáp ứng và điều kiện sản xuất chưa phù hợp.
Hợp tác liên kết trong sản xuất, tiêu thụ và giảm phát thải:
Mục đích chính của HTX nông nghiệp là đáp ứng nhu cầu của các hộ nông dân thành viên thông qua cung cấp vật tư, dịch vụ sản xuất, tiêu thụ nông sản và hỗ trợ áp dụng khoa học công nghệ. Giai đoạn 2022-2024, HTX nông nghiệp đẩy mạnh liên kết sản xuất - tiêu thụ theo chuỗi giá trị nhằm nâng cao năng lực sản xuất, ổn định thị trường và thu nhập cho nông dân. Theo Nghị định số 98/2018/NĐ-CP, giai đoạn 2018-2022 có 2.038 chuỗi liên kết được hình thành, với 1.250 HTX tham gia và 67% HTX nông nghiệp giữ vai trò chủ trì liên kết.
Hiện nay, ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong liên kết sản xuất của HTX nông nghiệp chủ yếu tập trung vào giám sát và kiểm soát quy trình sản xuất thông qua nhật ký điện tử, IoT, GPS, drone và phần mềm canh tác, nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng và an toàn thực phẩm trong mô hình liên kết chuỗi. Việc chuẩn hóa và chia sẻ dữ liệu sản xuất giúp HTX giảm rủi ro hợp đồng và nâng cao uy tín trong chuỗi giá trị. Thông qua nhật ký sản xuất điện tử, cảm biến IoT (kết hợp với bón phân đến vùng rễ cây đảm bảo hiệu quả nhất thông qua IoT;…); phần mềm quản lý canh tác và truy xuất nguồn gốc; HTX kiểm soát hiệu quả việc sử dụng nước, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, qua đó giảm phát thải và hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường, hướng tới mục tiêu kinh tế xanh như: Tưới ngập - khô xen kẽ trong sản xuất lúa (AWD): Giúp giảm lượng nước sử dụng 28-30% so với thông thường và giảm khí thải mê tan (CH4) lên tới 48%, giúp cây lúa ít bệnh, chống đổ ngã; Tưới nhỏ giọt: Giảm lượng nước tưới 40-60% so với phương pháp tưới truyền thống.
Tuy nhiên, theo Cục Kinh tế Hợp tác và Phát triển nông thôn (2023), chuyển đổi số của HTX vẫn thiên về quản trị hành chính, với tỷ lệ cao ở phần mềm kế toán (79%), hóa đơn điện tử (75%) và chữ ký số (80%). Các ứng dụng gắn trực tiếp với quản lý sản xuất và chuỗi giá trị còn hạn chế, như quản lý nhân sự (29%), kho hàng (21%), nhật ký sản xuất (21%), drone/GPS (24%) và mã vùng trồng (15%). Hoạt động thương mại điện tử (35%) và truy xuất nguồn gốc QR (43%) mới ở mức bước đầu, cho thấy dư địa lớn để đẩy mạnh chuyển đổi số theo chiều sâu trong HTX nông nghiệp.
Hợp tác xã có sản phẩm OCOP được công nhận từ 3 sao trở lên:
Giai đoạn 2022-2024, số lượng HTX nông nghiệp có sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên tăng rõ rệt, cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của HTX trong Chương trình OCOP. Năm 2022, HTX chiếm khoảng 38% chủ thể OCOP và sở hữu gần 40% số sản phẩm được công nhận. Năm 2023, số sản phẩm OCOP đạt 3 sao trở lên tăng mạnh, trong đó HTX tiếp tục là nhóm chủ thể nòng cốt. Đến năm 2024, số HTX nông nghiệp là chủ thể OCOP tăng lên 2.169 HTX, khẳng định vai trò trung tâm của khu vực kinh tế hợp tác trong nâng cao giá trị nông sản và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn bền vững.
Xem xét cơ cấu số lượng HTX nông nghiệp có sản phẩm OCOP được công nhận từ 3 sao trở lên theo vùng cho thấy: trong năm 2024, Đồng bằng sông Hồng chiếm tỷ trọng cao nhất (35%), phản ánh lợi thế về quy mô HTX, năng lực tổ chức sản xuất và thị trường. Trung du và miền núi phía Bắc (23%) và Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (20%) có mức tham gia tương đối cao, chủ yếu gắn với khai thác sản phẩm đặc sản và lợi thế địa phương. Ngược lại, Đồng bằng sông Cửu Long (10%) và Tây Nguyên (8%) có tỷ trọng còn khiêm tốn so với tiềm năng nông nghiệp, trong khi Đông Nam Bộ thấp nhất (4%), do đặc điểm cơ cấu kinh tế thiên về công nghiệp - dịch vụ. Nhìn chung, kết quả này cho thấy cần có chính sách OCOP theo vùng nhằm phát huy lợi thế so sánh và nâng cao vai trò của HTX nông nghiệp (Hình 4).
![]() |
Thực tế cho thấy, công nghệ được áp dụng chủ yếu ở các khâu hỗ trợ nâng cao giá trị sản phẩm, bao gồm: ứng dụng công nghệ chế biến, bảo quản sau thu hoạch, truy xuất nguồn gốc bằng mã QR, bao bì - nhãn mác thông minh, tiêu chuẩn hóa chất lượng (VietGAP, GlobalGAP, HACCP, ISO) và thương mại điện tử, marketing số. Những ứng dụng này giúp sản phẩm OCOP đáp ứng yêu cầu xếp hạng từ 3 sao trở lên, nâng cao khả năng tiếp cận thị trường và niềm tin của người tiêu dùng. Tuy nhiên, phần lớn sản phẩm OCOP hiện nay mới dừng ở mức ứng dụng công nghệ ở khâu cuối của chuỗi giá trị, trong khi việc áp dụng công nghệ số, CNC trong sản xuất còn hạn chế, đặc biệt đối với các HTX nông nghiệp có quy mô nhỏ.
Kết luận và hàm ý chính sách
Kết luận
Quá trình ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong khu vực HTX nông nghiệp ở Việt Nam đang diễn ra trong bối cảnh vừa có thuận lợi, vừa không ít thách thức. Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ HTX nông nghiệp nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, tiêu biểu như Luật Hợp tác xã (2023), cùng các chương trình, đề án về chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số nông nghiệp và hỗ trợ liên kết chuỗi giá trị, tạo khung pháp lý và nguồn lực thúc đẩy HTX hiện đại hóa và phát triển bền vững. Thực tiễn cũng cho thấy việc này đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, quản trị, mở rộng thị trường, tăng cường khả năng liên kết chuỗi giá trị, hướng tới mục tiêu kinh tế xanh, giảm phát thải và cải thiện vị thế của HTX trong nền kinh tế nông thôn.
Tuy nhiên, quá trình này vẫn đối mặt với những rào cản đáng kể, bao gồm hạn chế về nguồn lực tài chính, chất lượng nguồn nhân lực, mức độ sẵn sàng công nghệ, cũng như nhận thức và năng lực quản trị của nhiều HTX chưa theo kịp yêu cầu chuyển đổi. Sự thiếu đồng bộ về hạ tầng số, dữ liệu và cơ chế hỗ trợ cũng làm gia tăng khoảng cách giữa mục tiêu và khả năng triển khai trên thực tế. Ngoài ra, rủi ro về an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu và sự phụ thuộc vào các nền tảng bên ngoài cũng đặt ra những thách thức mới cho các HTX nông nghiệp trong quá trình số hóa.
Hàm ý chính sách
Thứ nhất, cần hoàn thiện khung thể chế và chiến lược chuyển đổi số riêng cho khu vực kinh tế hợp tác. Các chính sách, chương trình chuyển đổi số quốc gia và ngành nông nghiệp cần được cụ thể hóa theo đặc thù của HTX nông nghiệp, bảo đảm tính phù hợp về quy mô, trình độ phát triển và khả năng tiếp cận nguồn lực. Nhà nước cần tăng cường hỗ trợ về tài chính và hạ tầng số cho các HTX nông nghiệp. Cụ thể, cần mở rộng các chương trình hỗ trợ đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin, phần mềm quản lý, nền tảng số dùng chung cho HTX; đồng thời có cơ chế tín dụng ưu đãi, hỗ trợ lãi suất hoặc quỹ hỗ trợ chuyển đổi số nhằm giảm chi phí đầu tư ban đầu - vốn là rào cản lớn đối với các HTX quy mô nhỏ.
Thứ hai, cần phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực quản trị số trong HTX. Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cần tập trung vào đội ngũ cán bộ quản lý, ban giám đốc và thành viên nòng cốt của HTX, với nội dung gắn với kỹ năng số, quản trị dữ liệu, thương mại điện tử và tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị. Đồng thời, khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp công nghệ, các tổ chức trung gian và cơ sở đào tạo trong việc đồng hành, tư vấn và chuyển giao giải pháp số cho HTX.
Thứ ba, cần thúc đẩy liên kết và hình thành hệ sinh thái số cho khu vực kinh tế hợp tác. Chính sách nên khuyến khích sự kết nối giữa HTX với doanh nghiệp, ngân hàng, tổ chức khoa học - công nghệ và các nền tảng số, qua đó hỗ trợ HTX tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị nông sản, chuỗi cung ứng và thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước. Việc phát triển các nền tảng số dùng chung, sàn giao dịch nông sản và hệ thống truy xuất nguồn gốc thống nhất sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch và năng lực cạnh tranh của HTX.
Thứ tư, cần triển khai chính sách theo lộ trình và phân loại HTX. Đối với chuyển đổi số, không thể áp dụng đồng loạt, mà cần được thiết kế theo từng giai đoạn, mức độ sẵn sàng và điều kiện cụ thể của từng nhóm HTX.n
Tài liệu tham khảo
1. CEF (2025). Tài liệu diễn đàn kinh tế hợp tác, hợp tác xã năm 2025: Liên kết hiệu quả giữa hợp tác xã và doanh nghiệp, Hà Nội 2025.
2. Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (2022). Toàn cảnh Hợp tác xã nông nghiệp Việt Nam 2022, thực hiện bởi Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
3. Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (2023). Toàn cảnh Hợp tác xã nông nghiệp Việt Nam 2023, Ấn phẩm chào mừng 78 năm ngày Hợp tác xã Việt Nam (11/4/1946-11/4/2024), thực hiện bởi Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
4. Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (2024). Tập bản đồ Hợp tác xã nông nghiệp tham gia các chuỗi sản phẩm nông sản chủ lực, Ipsard và Agrp Info.
5. Cục Phát triển doanh nghiệp (2024). Chuyển đổi số hoạt động doanh nghiệp, Dự án Tăng cường năng lực cạnh tranh khu vực tư nhân Việt Nam (USAID IPSC).
6. Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (2024). Báo cáo thường niên.
7. Quốc hội (2023). Luật Hợp tác xã.
Tin tức khác
Nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Bố trí kinh phí thực hiện công tác cai nghiện ma túy trong dự toán chi thường xuyên hằng năm
Phát hiện, thu giữ hàng nghìn bánh trung thu, thuốc lá nhập lậu
Bộ Tài chính yêu cầu thu đúng, thu đủ, công khai chi phí cung cấp thông tin
Đưa bất động sản chưa đủ điều kiện vào kinh doanh, sàn giao dịch bị phạt tới 600 triệu đồng
Gấp rút xử lý 396 văn bản quy phạm pháp luật trước ngày 1/3/2027
Tổng rà soát hệ thống pháp luật: Nhận diện những điểm nghẽn cần tháo gỡ
PODCAST: Làm sạch mã số thuế năm 2026: Đòn bẩy giúp hơn 3.000 doanh nghiệp tái gia nhập thị trường
VIDEO: Bộ Tài chính tiếp tục thực hiện hiệu quả cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính
PODCAST: Chủ động điều hành giá, giữ ổn định cuối năm
PODCAST: Vốn hóa thị trường chứng khoán tương đương 78,7% GDP
PODCAST: Bộ Tài chính đề xuất siết chi tiền mặt và mở rộng thanh toán qua tài khoản qua Kho bạc
Siết kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng và ban hành văn bản pháp luật
Việt Nam - Mông Cổ: Tạo xung lực mới cho quan hệ đối tác toàn diện
Gấp rút hoàn thiện 3 luật để tháo điểm nghẽn đất đai, nhà ở, bất động sản
Bộ Tài chính chịu trách nhiệm xác định kinh phí hỗ trợ xây khu tái định cư tại Lai Châu
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội kiến Chủ tịch Đảng Nước Nga Thống nhất, Phó Chủ tịch Hội đồng An ninh Liên bang Nga Dmitry Medvedev
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp Trợ lý Tổng thống, Chủ tịch Hội đồng Biển Liên bang Nga
Điện Biên phấn đấu giải ngân 100% vốn đầu tư công trong năm 2026
Du lịch trở thành động lực tăng trưởng mới, hướng tới đóng góp 10-12% GDP vào năm 2030
Đổi cách tạo ra tăng trưởng, mở đường cho Việt Nam bứt phá đến năm 2045
Nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Hồi sinh sông Nhuệ, kiến tạo Thủ đô
Cần các giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số và R&D của doanh nghiệp
INFOGRAPHIC: Chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2030 của 6 vùng kinh tế-xã hội
TP. Hồ Chí Minh liên kết thế mạnh, tạo động lực tăng trưởng 2 con số
Vĩnh Long sẽ trở thành Trung tâm xuất khẩu năng lượng tái tạo của cả nước
Phát hiện, thu giữ hàng nghìn bánh trung thu, thuốc lá nhập lậu
Sầu riêng gần chạm mốc 2 tỷ USD, hướng tới phát triển chuyên nghiệp và bền vững














