Đổi cách tạo ra tăng trưởng, mở đường cho Việt Nam bứt phá đến năm 2045
![]() |
| Hội thảo xác lập mô hình tăng trưởng mới gắn với mục tiêu tăng trưởng 2 con số. |
Một nền kinh tế muốn đi xa cần nhiều hơn những con số tăng trưởng trong từng năm. Khi dư địa từ lao động giá rẻ, khai thác nguồn lực theo chiều rộng dần thu hẹp, yêu cầu đặt ra là phải tìm được động lực mới, tạo ra giá trị cao hơn từ cùng một lượng vốn, nhân lực và tài nguyên. Đây đang là bài toán lớn của Việt Nam trong chặng đường phát triển mới.
Sáng ngày 8/9, tại Hà Nội, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính tổ chức Hội thảo “Xác lập mô hình tăng trưởng mới gắn với mục tiêu tăng trưởng 2 con số, đổi mới mô hình phát triển kinh tế dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở Việt Nam giai đoạn 2026-2030”. Hội thảo tiếp nối các cuộc thảo luận tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
Trọng tâm của hội thảo là nhìn lại quá trình cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021-2025, nhận diện những điểm nghẽn còn tồn tại, đồng thời xác định hướng đi cho giai đoạn mới. Trong đó, mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên giai đoạn 2026-2030 tạo sức ép lớn đối với năng lực điều hành, phân bổ nguồn lực và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Chuyển từ chạy theo tốc độ sang nâng chất lượng tăng trưởng
Phát biểu tại Hội thảo, ông Nguyễn Quốc Anh, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, cho biết mục tiêu tăng trưởng 2 con số đặt ra yêu cầu thay đổi cách thức tạo ra tăng trưởng. Nền kinh tế cần chuyển dần từ việc phụ thuộc nhiều vào gia tăng đầu vào sang dựa vào năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Đây là sự thay đổi có ý nghĩa nền tảng. Khi vốn, đất đai, lao động hay tài nguyên đều có giới hạn, dư địa tăng trưởng bền vững phải đến từ khả năng nâng cao hiệu quả. Một doanh nghiệp sản xuất được nhiều sản phẩm hơn với cùng lượng nguyên liệu, một dây chuyền vận hành hiệu quả hơn nhờ công nghệ hay một dịch vụ tạo thêm giá trị nhờ dữ liệu đều góp phần thay đổi chất lượng tăng trưởng.
Theo ông Nguyễn Quốc Anh, Việt Nam cần làm mới các động lực truyền thống, đồng thời khai thác những không gian phát triển mới như kinh tế tư nhân, FDI chất lượng cao, hạ tầng, kinh tế số, kinh tế xanh và các ngành có năng suất, giá trị gia tăng cao. Đây là những khu vực có khả năng tạo thêm dư địa cho nền kinh tế trong bối cảnh mô hình cũ dần bộc lộ giới hạn.
Một vấn đề được đặt ra là làm thế nào để khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực của tăng trưởng. Việc ứng dụng công nghệ, kể cả trí tuệ nhân tạo, cần gắn với năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh. Giá trị cuối cùng phải được thể hiện trong hoạt động của doanh nghiệp và sức mạnh của nền kinh tế.
“Yêu cầu xuyên suốt là xử lý hài hòa giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng, giữa huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực, giữa yêu cầu trước mắt với năng lực phát triển lâu dài. Đây cũng là bài toán khó nhất khi Việt Nam vừa phải duy trì nhịp tăng trưởng cao, vừa phải xây dựng nền tảng đủ chắc cho các mục tiêu xa hơn”, ông Nguyễn Quốc Anh nhấn mạnh.
![]() |
| TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV chia sẻ tại Hội thảo. |
TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV và Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia, nhận định mô hình tăng trưởng giai đoạn 2026-2030 không thể tiếp tục dựa vào thâm dụng vốn hay lao động giá rẻ. Theo ông, Việt Nam cần chuyển sang mô hình dựa nhiều hơn vào năng suất nhân tố tổng hợp, khoa học công nghệ, thể chế hiện đại và phát triển xanh.
Định hướng này gắn trực tiếp với mục tiêu vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Khi năng suất trở thành yếu tố quyết định, câu chuyện tăng trưởng sẽ chuyển từ việc tìm thêm nguồn lực sang cách sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn. Mỗi đồng vốn, mỗi giờ lao động, mỗi dự án hạ tầng cần tạo ra giá trị tương xứng, qua đó cải thiện sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế.
Để hướng tới mức tăng trưởng bình quân 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, TS. Cấn Văn Lực cho rằng cần phát huy đồng thời các động lực truyền thống cùng những động lực mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đổi mới sáng tạo và năng suất lao động. Tăng trưởng cao cũng phải song hành với ổn định kinh tế vĩ mô và hiệu quả sử dụng vốn.
Công nghệ, dữ liệu và doanh nghiệp trở thành nền tảng mới
Các tham luận tại hội thảo cho thấy mục tiêu nâng đóng góp của TFP lên trên 55%, cùng yêu cầu cải thiện hệ số ICOR, đang đặt trọng tâm vào hiệu quả. Nền kinh tế cần tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một lượng nguồn lực. Điều này đòi hỏi thay đổi từ chính sách, thể chế tới cách doanh nghiệp đầu tư, sản xuất và tham gia chuỗi giá trị.
Vai trò của Nhà nước vì thế cũng cần được đặt trong một cách tiếp cận mới. Nhà nước có nhiệm vụ bảo đảm ổn định vĩ mô, hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng, nâng chất lượng nguồn nhân lực, khơi thông các thị trường yếu tố sản xuất và tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp đổi mới. Hiệu quả của chính sách sẽ quyết định tốc độ chuyển hóa nguồn lực thành năng lực phát triển.
Theo định hướng được bàn thảo, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo cần nằm ở trung tâm mô hình tăng trưởng mới. Đáng chú ý, dữ liệu được nhìn nhận như một nguồn lực sản xuất mới. Hạ tầng dữ liệu, cơ chế chia sẻ, khai thác dữ liệu cùng khả năng ứng dụng AI, tự động hóa vào sản xuất, logistics, tài chính và dịch vụ sẽ mở ra những không gian giá trị mới.
![]() |
| Bà Lê Thị Mai Liên, Trưởng ban Kinh tế vĩ mô và Dự báo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính chia sẻ tại Hội thảo. |
Khu vực tư nhân cũng được xác định là một động lực quan trọng. Chính sách cần hướng tới nâng chất lượng doanh nghiệp, thúc đẩy nghiên cứu và phát triển, đổi mới công nghệ, tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn dài hạn và nâng năng lực tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Khi doanh nghiệp trong nước đủ sức lớn, sức chống chịu và năng lực tự chủ của nền kinh tế sẽ được củng cố.
Với FDI, trọng tâm được đặt vào chất lượng dự án. Khả năng đưa công nghệ mới vào Việt Nam, tạo giá trị gia tăng, kết nối với doanh nghiệp trong nước và mở rộng năng lực sản xuất sẽ có ý nghĩa lớn hơn việc thu hút vốn theo quy mô đơn thuần. Đây cũng là hướng giúp Việt Nam tăng khả năng tiếp nhận tri thức, công nghệ và phương thức quản trị tiên tiến.
Theo bà Lê Thị Mai Liên, Trưởng ban Kinh tế vĩ mô và Dự báo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, các mục tiêu đến năm 2030 gồm tỷ trọng kinh tế số khoảng 30% GDP, công nghiệp chế biến, chế tạo khoảng 28%, tốc độ tăng năng suất lao động khoảng 8,5%/năm và đóng góp của TFP vượt 55%. Những con số này cho thấy yêu cầu chuyển đổi mô hình đã được cụ thể hóa thành các chỉ tiêu rõ ràng.
Để đạt được những mục tiêu trên, yêu cầu cải cách cần diễn ra đồng bộ. Thể chế phải theo hướng kiến tạo; cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cần được mở rộng cho công nghệ và mô hình kinh doanh mới; nguồn lực cần được phân bổ theo hiệu quả và năng suất. Cùng với đó là phát triển doanh nghiệp tư nhân có khả năng dẫn dắt, xây dựng dữ liệu và AI thành hạ tầng sản xuất mới.
Một chương trình thống nhất cho đổi mới mô hình tăng trưởng giai đoạn 2026-2030 vì thế đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Ba nhóm đột phá được đặt cạnh nhau gồm thể chế để giải phóng nguồn lực; khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu và AI để nâng năng suất; hạ tầng, nhân lực và doanh nghiệp để tạo năng lực sản xuất mới.
Tăng trưởng 2 con số đòi hỏi sự cộng hưởng giữa thể chế, vốn dài hạn, hạ tầng hiện đại, doanh nghiệp cạnh tranh, nhân lực chất lượng cao và khoa học công nghệ. Giai đoạn 2026-2030 cần tạo bước chuyển trong phân bổ nguồn lực, nâng năng suất, thúc đẩy đổi mới, qua đó tạo nền tảng để Việt Nam hướng tới nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Tin tức khác
Du lịch trở thành động lực tăng trưởng mới, hướng tới đóng góp 10-12% GDP vào năm 2030
Tạo điều kiện để Việt Nam tham gia các siêu dự án về bán dẫn, AI của Hàn Quốc
Hai tân Phó Tổng Thanh tra Chính phủ nhận nhiệm vụ mới
Việt Nam - Myanmar: Củng cố tin cậy, mở rộng hợp tác trong giai đoạn phát triển mới
Hợp tác nghị viện chặt chẽ, thúc đẩy triển khai tầm nhìn chiến lược về liên kết kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
Hỗ trợ sinh kế, tái định cư cho người dân bị thu hồi đất thực hiện dự án điện hạt nhân
Hôm nay, Hà Nội lấy ý kiến về Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng
PODCAST: Làm sạch mã số thuế năm 2026: Đòn bẩy giúp hơn 3.000 doanh nghiệp tái gia nhập thị trường
VIDEO: Bộ Tài chính tiếp tục thực hiện hiệu quả cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính
PODCAST: Chủ động điều hành giá, giữ ổn định cuối năm
PODCAST: Vốn hóa thị trường chứng khoán tương đương 78,7% GDP
PODCAST: Bộ Tài chính đề xuất siết chi tiền mặt và mở rộng thanh toán qua tài khoản qua Kho bạc
Điện Biên phấn đấu giải ngân 100% vốn đầu tư công trong năm 2026
Du lịch trở thành động lực tăng trưởng mới, hướng tới đóng góp 10-12% GDP vào năm 2030
Đổi cách tạo ra tăng trưởng, mở đường cho Việt Nam bứt phá đến năm 2045
Tạo điều kiện để Việt Nam tham gia các siêu dự án về bán dẫn, AI của Hàn Quốc
Hai tân Phó Tổng Thanh tra Chính phủ nhận nhiệm vụ mới
Việt Nam - Myanmar: Củng cố tin cậy, mở rộng hợp tác trong giai đoạn phát triển mới
Hợp tác nghị viện chặt chẽ, thúc đẩy triển khai tầm nhìn chiến lược về liên kết kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
Hỗ trợ sinh kế, tái định cư cho người dân bị thu hồi đất thực hiện dự án điện hạt nhân
Hôm nay, Hà Nội lấy ý kiến về Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tiến sát 50 tỷ USD, sức chống chịu là then chốt
Thu hút mạnh vốn đầu tư: Cách làm quyết liệt từ Lâm Đồng
Doanh nghiệp Ba Lan tìm kiếm đối tác, mở rộng cơ hội hợp tác tại Việt Nam
Nhà đầu tư châu Âu sẽ đồng hành, hiện thực hóa mục tiêu táo bạo của Nghị quyết 10-NQ/TW
Mở cơ chế, khơi nguồn lực cho doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt tăng trưởng
TP. Hồ Chí Minh hoàn thiện cơ chế ưu đãi cho Khu thương mại tự do và logistics tích hợp
Kích hoạt nguồn lực tư nhân từ “vốn mồi” ngân sách
Xuất khẩu thủy sản Việt Nam: Đa dạng thị trường để giữ đà tăng trưởng













