Cơ cấu lại thị trường tài chính: Một số vấn đề đặt ra với hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính
PGS.TS. Chu Khánh Lân
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Email: lan.chukhanh@sbv.gov.vn
TS. Đỗ Thị Bích Hồng
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Email: hong.dobich@sbv.gov.vn
ThS. Nguyễn Bá Diệp
Học viện Ngân hàng; Email: diepland@gmail.com
Tóm tắt
Thực trạng cấu trúc thị trường tài chính tại Việt Nam hiện nay cho thấy sự mất cân đối nhất định giữa các cấu phần của thị trường. Bài viết phân tích thực trạng cấu trúc thị trường tài chính Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị chính sách để cơ cấu lại thị trường tài chính với đối tượng chính là hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính, hướng tới mục tiêu phát triển thị trường tài chính cân bằng, giảm thiểu áp lực cung ứng vốn cho nền kinh tế lên hệ thống ngân hàng.
Từ khóa: Cơ cấu lại thị trường tài chính, hệ thống ngân hàng, tổ chức tài chính
MỞ ĐẦU
Thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính chất thời đại, từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng để hình thành một trật tự thế giới mới. Những thay đổi bao gồm cả những biến động về chính trị, kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật, công nghệ... đang tạo ra cả thời cơ lẫn thách thức cho phát triển kinh tế của từng quốc gia, khu vực và toàn thế giới.
Việt Nam, đang bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, tiếp sau kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội và kỷ nguyên đổi mới. Để hiện thực hóa những mục tiêu này, việc tạo ra những đột phá mạnh mẽ và tạo ra những động lực mới cho tăng trưởng đòi hỏi phải khơi thông mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài, tăng cường hiệu quả phân bổ và sử dụng các nguồn lực cho phát triển kinh tế xã hội. Giữa bối cảnh và các mục tiêu đề ra như vậy, phát triển thị trường tài chính lành mạnh, bảo đảm giữ vững an ninh tài chính quốc gia, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế trở thành một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Văn kiện nhiều kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng đã nêu ra nhiệm vụ phải phát triển thị trường tài chính đồng bộ, phát huy vai trò của hệ thống ngân hàng và phát triển thị trường chứng khoán thành kênh huy động vốn dài hạn quan trọng cho nền kinh tế, từng bước giảm sự phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng. Xuất phát từ thực tiễn đó, bài viết tập trung đánh giá thực trạng thị trường tài chính Việt Nam, từ đó, đưa ra các khuyến nghị chính sách phù hợp cho việc cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính.
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM
Chiến lược tài chính đến năm 2030 được phê duyệt tại Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 21/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ đã đặt ra mục tiêu chung đến năm 2030 xây dựng nền tài chính quốc gia phát triển bền vững, hiện đại và hội nhập, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, tăng cường khả năng chống chịu của nền kinh tế, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia... Theo đó, phát triển đồng bộ, minh bạch và bền vững thị trường tài chính và dịch vụ tài chính được xác định là một trong những mục tiêu cụ thể chủ yếu của Chiến lược.
Cụ thể, Chiến lược đặt ra mục tiêu: Phát triển thị trường chứng khoán ổn định, hoạt động an toàn, hiệu quả, có cơ cấu hợp lý, cân đối giữa thị trường tiền tệ với thị trường vốn, giữa thị trường cổ phiếu với thị trường trái phiếu và thị trường chứng khoán phái sinh. Đến năm 2025, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 100% GDP; dư nợ thị trường trái phiếu đạt tối thiểu 47% GDP; trong đó, dư nợ thị trường trái phiếu doanh nghiệp đạt tối thiểu 20% GDP. Đến năm 2030, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 120% GDP, dư nợ thị trường trái phiếu đạt tối thiểu 58% GDP; trong đó, dư nợ thị trường trái phiếu doanh nghiệp đạt tối thiểu 25% GDP. Bên cạnh đó, phát triển toàn diện thị trường bảo hiểm đáp ứng nhu cầu bảo hiểm đa dạng của các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế. Doanh thu ngành bảo hiểm tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021-2025 là 15%/năm, đến năm 2025, quy mô đạt khoảng 3-3,3% GDP; tăng trưởng bình quân giai đoạn 2026-2030 là 10%/năm, đến năm 2030 quy mô đạt khoảng 3,3-3,5% GDP.”
- Đối với thị trường chứng khoán, với mục tiêu cơ cấu lại toàn diện thị trường chứng khoán Việt Nam trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn chủ yếu của nền kinh tế, từ năm 2019, Quốc hội đã thông qua Luật Chứng khoán năm 2019; Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án thành lập Sở giao dịch chứng khoán (GDCK) Việt Nam và Đề án cơ cấu lại thị trường chứng khoán và bảo hiểm đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025; tổng kết đánh giá việc triển khai thực hiện Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và triển khai Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2030.
Theo đó, tại Quyết định số 1726/QĐ-TTg ngày 29/12/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2030 đã đặt ra mục tiêu cụ thể là: “Quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 100% GDP vào năm 2025 và đạt 120% GDP vào năm 2030. Dư nợ thị trường trái phiếu đạt tối thiểu 47% GDP (trong đó dư nợ trái phiếu doanh nghiệp đạt tối thiểu 20% GDP) vào năm 2025 và đạt tối thiểu 58% GDP (trong đó dư nợ trái phiếu doanh nghiệp đạt tối thiểu 25% GDP) vào năm 2030”. Khi hoàn thành các mục tiêu cụ thể này, thị trường chứng khoán được kỳ vọng sẽ đảm bảo chức năng cung ứng vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế, giảm tải áp lực cho hệ thống ngân hàng và cũng giảm rủi ro cho hệ thống tài chính nói chung, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
- Đối với thị trường bảo hiểm, Chính phủ đã trình Quốc hội ban hành Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của quá trình quản lý, cùng với hệ thống các nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ đã tạo lập hành lang pháp lý, góp phần thúc đẩy thị trường bảo hiểm phát triển. Công tác quản lý, giám sát nhà nước về kinh doanh bảo hiểm được thực hiện kết hợp giữa quản lý, giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ. Bên cạnh đó, Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam đến năm 2030 (Quyết định số 07/QĐ-TTg ngày 05/01/2023) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm mục tiêu “phát triển thị trường bảo hiểm theo hướng hiện đại, tiếp cận các tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế tốt nhất, phù hợp với yêu cầu từ thực tiễn, đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên tham gia bảo hiểm”.
- Về phía ngành Ngân hàng, Đề án Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021- 2025 (Quyết định 689/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025” - Đề án 689) xác định tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng là nhiệm vụ quan trọng của hệ thống ngân hàng nhằm không ngừng củng cố và phát triển các tổ chức tín dụng.
Mục tiêu tổng quát đến năm 2025 là: (i) Tạo bước chuyển rõ rệt, thực chất trong cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu; phấn đấu đến năm 2025 giảm số lượng các TCTD, xử lý cơ bản các ngân hàng yếu kém, không để phát sinh những ngân hàng yếu kém mới, hệ thống các TCTD lành mạnh và phát triển bền vững; (ii) Phát triển hệ thống các TCTD theo hướng các TCTD trong nước đóng vai trò chủ lực, hoạt động lành mạnh, chất lượng, hiệu quả, công khai, minh bạch, đáp ứng các chuẩn mực về an toàn hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật và tiệm cận với thông lệ quốc tế, hướng tới đạt trình độ phát triển của Nhóm 4 nước dẫn đầu khu vực ASEAN; (iii) Đẩy mạnh xử lý nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng, ngăn ngừa, hạn chế tối đa nợ xấu mới phát sinh; nâng cao năng lực tài chính của TCTD; ngăn ngừa tình trạng đầu tư chéo, sở hữu chéo và sở hữu có tính chất thao túng, chi phối trong các TCTD có liên quan”.
Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã xác định rất rõ quan điểm phát triển “Hệ thống tiền tệ, ngân hàng và hoạt động các tổ chức tín dụng là huyết mạch của nền kinh tế, tiếp tục giữ vai trò trọng yếu trong tổng thể hệ thống tài chính Việt Nam. Ổn định hoạt động của hệ thống tổ chức tín dụng đóng vai trò chủ chốt trong ổn định tiền tệ và ổn định tài chính, là điều kiện tiên quyết để ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng bền vững, và phải được bảo đảm bằng sự phối hợp đồng bộ, hiệu quả giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác, cùng sự phát triển hài hòa, cân đối giữa khu vực ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm.
THỰC TRẠNG CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ
Thị trường tài chính Việt Nam có thể được phân chia theo 3 lĩnh vực sau: ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm, trong đó, lĩnh vực ngân hàng (hệ thống các tổ chức tín dụng) đóng vai trò chủ chốt. Từ đầu thế kỷ XXI tới nay, tỷ trọng cấu phần trong hệ thống tài chính đã có sự thay đổi đáng kể theo xu hướng tăng dần tỷ trọng vốn hóa và thanh khoản của thị trường chứng khoán và bảo hiểm, nhưng lĩnh vực ngân hàng vẫn đóng vai trò chủ chốt trong hệ thống tài chính. Cụ thể:
Tính đến cuối năm 2025, quy mô tổng tài sản của hệ thống ngân hàng đạt gần 27,06 triệu tỷ đồng, tăng gần 93% so với năm 2020, cung ứng gần 2/3 tổng số vốn cung ứng của nền kinh tế. Tổng tài sản của hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) chiếm tỷ trọng cao so với GDP (khoảng 199,13% năm 2024). Bên cạnh đó, các mục tiêu tại Đề án án Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025 đã đạt được những kết quả tích cực, đóng góp quan trọng vào kết quả thực hiện Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021-2025. Đặc biệt, cuối năm 2024 và tháng 01/2025, NHNN đã hoàn thành chuyển giao bắt buộc 04 ngân hàng yếu kém; giữ vững ổn định hệ thống các TCTD, củng cố niềm tin người dân, doanh nghiệp. Hệ thống các TCTD phát triển đa dạng về loại hình sở hữu; quy mô được tăng cường, năng lực tài chính, chất lượng quản trị, điều hành từng bước được củng cố, nâng cao, tiệm cận thông lệ quốc tế; phát huy tốt vai trò cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế.
Đến cuối quý II/2025, giá trị vốn hóa toàn thị trường cổ phiếu đạt 7,690 triệu tỷ đồng, tương đương 66,8% GDP năm 2024 (62,3% GDP vào cuối năm 2024). Trong khi đó, quy mô thị trường trái phiếu chính phủ ở mức 21,8% vào cuối quý II/2025 (21,9% vào cuối năm 2024). Quy mô trái phiếu doanh nghiệp của Việt Nam đạt gần 9,5% vào cuối quý II/2025, (9,3% vào cuối năm 2024). Trong khi đó, dư nợ tín dụng đến cuối quý II/2025 đạt khoảng 17,2 triệu tỷ đồng, tương đương mức 142,5%. Tỷ lệ tín dụng/GDP bình quân (tính trong giai đoạn 2020-2024) của Việt Nam thuộc top cao nhất khi so với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc nhóm thu nhập trung bình thấp và chỉ đứng sau một vài quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc nhóm thu nhập cao.
Các con số trên cho thấy, khả năng hoàn thành mục tiêu của thị trường cổ phiếu và trái phiếu vào năm 2030 còn phải đối mặt với nhiều thách thức và do vậy, áp lực cung ứng vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn sẽ tiếp tục dồn lên hệ thống ngân hàng.
Như vậy, cấu trúc thị trường tài chính Việt Nam vẫn còn sự mất cân đối nhất định giữa thị trường chứng khoán và hệ thống ngân hàng, tiềm ẩn nhiều rủi ro cho từng cấu phần và thị trường tài chính. Đặc biệt, quy mô thị trường trái phiếu và cổ phiếu vẫn thấp hơn so với các nước trong khu vực; cơ cấu nhà đầu tư và kỳ hạn trên thị trường trái phiếu chính phủ còn thiếu đa dạng; cơ cấu doanh nghiệp phát hành và kỳ hạn trái phiếu doanh nghiệp tập trung vào phát hành riêng lẻ và kỳ hạn chưa dài, tổ chức phát hành là các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp bất động sản. Sự gia tăng của tỷ lệ tín dụng/GDP song song với sự gia tăng quy mô và tỷ trọng tín dụng vào một số lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, sự tăng giá đột biến trên thị trường cổ phiếu và thị trường bất động sản, sự gia tăng đòn bẩy tại các doanh nghiệp sẽ tạo ra những rủi ro cho hệ thống tài chính nói chung và nền kinh tế nói riêng.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đặt ra mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển về kinh tế như: Phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước bình quân cho giai đoạn 2026-2030 từ 10%/lên và tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm khoảng 40% GDP. Đảng đã chỉ rõ các nhiệm vụ và giải pháp cấp bách như: Đổi mới tư duy và đẩy mạnh cơ cấu lại toàn bộ nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng trên cơ sở bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế. Hiện đại hoá hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng, nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng, giữ vững ổn định, an toàn hệ thống; phát triển các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán. Theo đó, để cơ cấu lại thị trường tài chính đảm bảo hài hòa giữa 2 cấu phần chủ chốt là thị trường chứng khoán và hệ thống ngân hàng, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp sau:
Thứ nhất, mỗi cấu phần của thị trường tài chính cần tiếp tục thực hiện tốt vai trò và chức năng của riêng mình, đảm bảo là kênh huy động và phân bổ vốn hiệu quả cho nền kinh tế.
- Đối với thị trường chứng khoán, cần phát triển thị trường ổn định, an toàn, lành mạnh, hiệu quả, bền vững, hội nhập; trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng, chủ yếu cho nền kinh tế; duy trì tăng trưởng về quy mô, duy trì cơ cấu hợp lý giữa các cấu phần, mở rộng, đa dạng đối tượng phát hành, chú trọng nâng cao chất lượng và tăng cường năng lực chống chịu rủi ro
- Đối với phát triển hệ thống ngân hàng, cần thúc đẩy hệ thống ngân hàng hoạt động minh bạch, cạnh tranh, an toàn, hiệu quả và bền vững; phát triển dựa trên nền tảng quản trị, công nghệ tiên tiến, phù hợp với chuẩn mực, thông lệ quốc tế; đa dạng về sở hữu, quy mô và loại hình; đáp ứng nhu cầu về vốn và dịch vụ tài chính, ngân hàng của nền kinh tế, đóng góp tích cực cho sự phát triển của nền kinh tế. Cơ quan quản lý nhà nước triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển thị trường vốn, giảm bớt sự phụ thuộc của nền kinh tế vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng để đảm bảo hệ thống tài chính cân bằng hơn và phát triển bền vững trong trung và dài hạn.
Thứ hai, tập trung phát triển các khía cạnh thanh khoản và hiệu quả của cả 2 cấu phần thị trường chứng khoán và hệ thống ngân hàng.
- Đối với thị trường cổ phiếu, khuyến khích các loại hình doanh nghiệp thực hiện chào bán gắn với niêm yết, đăng ký giao dịch; áp dụng quản trị công ty theo thông lệ quốc tế để nâng cao chất lượng doanh nghiệp niêm yết. Đối với thị trường trái phiếu, tiếp tục phát triển trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế; nâng cao tính công khai, minh bạch. Phát triển thị trường trái phiếu chính phủ cần tập trung vào thị trường thứ cấp để tăng tính thanh khoản, đa dạng hóa sản phẩm và phát triển cơ sở nhà đầu tư. Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp bao gồm cả phát hành ra công chúng và phát hành riêng lẻ gắn với tăng cường công bố thông tin và thúc đẩy hoạt động của dịch vụ xếp hạng tín nhiệm.
- Hệ thống ngân hàng cần tiếp tục nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động và áp dụng các chuẩn mực, thông lệ quốc tế trong quản trị và hoạt động, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Đẩy mạnh quá trình hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, phát triển sản phẩm, dịch vụ tài chính, ngân hàng dựa trên ứng dụng các thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy quá trình chuyển đổi số để ứng dụng hiệu quả và an toàn vào hoạt động kinh doanh. Tăng cường phối hợp với các tổ chức công nghệ, công nghệ tài chính để mở rộng phạm vi hoạt động, tiếp cận khách hàng nhưng vẫn tiết giảm chi phí về mạng lưới, nhân sự, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động và kinh doanh của ngân hàng
Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý về thị trường tài chính, hỗ trợ tiến trình phát triển thị trường chứng khoán và cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, gắn với xử lý nợ xấu.
- Đối với thị trường chứng khoán, cần khẩn trương rà soát, tổng kết thi hành Luật Chứng khoán và các nghị định hướng dẫn, từ đó đề xuất sửa đổi, bổ sung để kịp thời khắc phục những bất cập đã và đang phát sinh trong thực tiễn, từ đó giải phóng các nguồn lực đang bị tắc nghẽn. Hoàn thiện quy định pháp luật về giám sát, thanh tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư, giám sát và hạn chế rủi ro trên thị trường, tăng cường tính răn đe, đảm bảo trật tự, an toàn và minh bạch thị trường.
- Về phía hệ thống ngân hàng, tiếp tục nghiên cứu, ban hành các văn bản hướng dẫn Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 và Luật Các tổ chức dụng sửa đổi năm 2025, hướng tới phát triển hệ thống tổ chức tín dụng hoạt động lành mạnh, chất lượng, hiệu quả, công khai, minh bạch, đáp ứng các chuẩn mực về an toàn hoạt động ngân hàng. Ngoài ra, cần nghiên cứu, đánh giá sự cần thiết và xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về ổn định hệ thống tài chính. Hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý mô hình kinh doanh mới trên nền tảng công nghệ theo hướng tạo điều kiện song vẫn bảo đảm kiểm soát rủi ro. Hoàn thiện các quy định pháp luật đối với công tác can thiệp của Nhà nước đối với thị trường tài chính trong các trường hợp khẩn cấp, cần thiết. Song song với đó là tạo điều kiện để các công cụ phòng ngừa rủi ro phát triển, cho phép các tổ chức tài chính và các chủ thể tài chính tăng cường năng lực quản lý rủi ro, chủ động phòng ngừa, ứng phó với rủi ro thay vì bị động chờ đợi Nhà nước can thiệp để ổn định thị trường.
Trong quá trình tái cơ cấu hệ thống NHTM và các tổ chức tài chính, cần đảm bảo nguyên tắc thận trọng, đảm bảo sự ổn định của hệ thống ngân hàng và tận dụng nguồn lực của nền kinh tế. Bên cạnh đó, cần tăng cường vai trò và năng lực của cơ quan giám sát trong việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, cảnh báo và yêu cầu chấn chỉnh hoạt động đối với các tổ chức tài chính nói chung và các ngân hàng nói riêng; đồng thời, tăng cường vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi tham gia tái cơ cấu và xử lý nợ xấu.
Tài liệu tham khảo:
1. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định 689/QĐ-TTg ngày 8/6/2022 phê duyệt Đề án án Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025.
2. Thủ tướng Chính phủ (2018). Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
3. Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 1726/QĐ-TTg ngày 29/12/2023 phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2030.
4. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 21/3/2022 phê duyệt Chiến lược tài chính đến năm 2030.
| Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in Kỳ 1 - Tháng 3/2026 |
Tin tức khác
Để FDI không còn là “ốc đảo”, cần tiêu chí đo hiệu quả đầu tư
Tăng trưởng 2 con số: Chủ trương đã rõ, vấn đề là thực thi
Nâng hạng tạo cơ hội nâng cao năng lực huy động, phân bổ nguồn lực của thị trường
Dữ liệu thống kê chính xác - "trợ lực" cho Vĩnh Long thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Nâng hạng thị trường, dòng vốn vẫn tìm hàng hóa chất lượng
Mô hình phát triển mới: Mở thêm “biên giới tăng trưởng” cho nền kinh tế
TS.KTS. Đào Ngọc Nghiêm: Quy hoạch mới tạo dư địa để Hà Nội nâng tầm vị thế
PODCAST: Làm sạch mã số thuế năm 2026: Đòn bẩy giúp hơn 3.000 doanh nghiệp tái gia nhập thị trường
VIDEO: Bộ Tài chính tiếp tục thực hiện hiệu quả cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính
PODCAST: Chủ động điều hành giá, giữ ổn định cuối năm
PODCAST: Vốn hóa thị trường chứng khoán tương đương 78,7% GDP
PODCAST: Bộ Tài chính đề xuất siết chi tiền mặt và mở rộng thanh toán qua tài khoản qua Kho bạc
Tạo điều kiện để Việt Nam tham gia các siêu dự án về bán dẫn, AI của Hàn Quốc
Hai tân Phó Tổng Thanh tra Chính phủ nhận nhiệm vụ mới
Việt Nam - Myanmar: Củng cố tin cậy, mở rộng hợp tác trong giai đoạn phát triển mới
Hợp tác nghị viện chặt chẽ, thúc đẩy triển khai tầm nhìn chiến lược về liên kết kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
Hỗ trợ sinh kế, tái định cư cho người dân bị thu hồi đất thực hiện dự án điện hạt nhân
Hôm nay, Hà Nội lấy ý kiến về Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng
Đồng bộ các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu, đưa mục tiêu tăng trưởng về đích sớm năm 2026
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn gặp mặt Mạng lưới Đổi mới sáng tạo và chuyên gia Việt Nam tại Hàn Quốc
Thủ tướng: Chuyển mạnh quan hệ đầu tư Việt - Nhật sang "đối tác cùng phát triển và kiến tạo"
Nhà đầu tư châu Âu sẽ đồng hành, hiện thực hóa mục tiêu táo bạo của Nghị quyết 10-NQ/TW
Mở cơ chế, khơi nguồn lực cho doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt tăng trưởng
TP. Hồ Chí Minh hoàn thiện cơ chế ưu đãi cho Khu thương mại tự do và logistics tích hợp
Kích hoạt nguồn lực tư nhân từ “vốn mồi” ngân sách
Xuất khẩu thủy sản Việt Nam: Đa dạng thị trường để giữ đà tăng trưởng
Kết nối dữ liệu thời gian thực trong hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch
Huế thúc đẩy kinh tế đêm tại Đại Nội theo phương thức PPP
Để FDI không còn là “ốc đảo”, cần tiêu chí đo hiệu quả đầu tư










