Nông lâm nghiệp Việt Nam: Từ lợi thế sản xuất đến làm chủ luật chơi toàn cầu
![]() |
| Việt Nam hiện nằm trong nhóm 5 quốc gia xuất khẩu đồ gỗ và nội thất lớn nhất thế giới, đứng đầu Đông Nam Á và thứ hai châu Á. Ảnh: Ánh Dương |
Từ trung tâm sản xuất đến trung tâm giá trị
Thực tế, Việt Nam đang sở hữu những lợi thế quan trọng trong chuỗi cung ứng nông lâm nghiệp toàn cầu. Gỗ, cà phê và cao su là những ngành hàng không chỉ tạo nguồn thu xuất khẩu lớn mà còn hình thành hệ sinh thái sản xuất, chế biến, logistics và việc làm ở quy mô rộng. Song, nghịch lý đang đặt ra cho các ngành hàng này khi năng lực sản xuất ngày càng được nâng cao, nhưng quyền thương lượng và khả năng tham gia định hình luật chơi quốc tế vẫn chưa tương xứng.
Trong bối cảnh thương mại toàn cầu hiện nay, thì lợi thế sản lượng thay vì yếu tố quyết định đang dần chuyển thành điều kiện cần trong khi nguồn gốc, phát triển bền vững, giảm phát thải, trách nhiệm môi trường – xã hội, chất lượng và minh bạch dữ liệu ngày càng được các thị trường đặt ra yêu cầu cao. Vì vậy, Việt Nam cần phải thay đổi cách tiếp cận không chỉ làm tốt để đáp ứng tiêu chuẩn mà còn phải từng bước tham gia xây dựng, đóng góp và nâng cao khả năng định hình tiêu chuẩn.
Đơn cử rõ nhất là ngành gỗ với quá trình phát triển từ sản xuất đến hình thành một chuỗi cung ứng quy mô lớn. Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), khoảng 20 năm qua, kim ngạch xuất khẩu của ngành đã tăng từ khoảng 300 triệu USD lên 17,2 tỷ USD năm 2025, với mức xuất siêu gần 12 tỷ USD.
Việt Nam hiện nằm trong nhóm 5 quốc gia xuất khẩu đồ gỗ và nội thất lớn nhất thế giới, đứng đầu Đông Nam Á và thứ hai châu Á. Ngành chế biến gỗ tạo việc làm cho khoảng 1 triệu lao động, đồng thời hình thành hệ sinh thái tương đối hoàn chỉnh từ nguyên liệu, chế biến, thiết kế đến logistics.
Những con số này cho thấy năng lực sản xuất đã trở thành lợi thế cạnh tranh quan trọng của Việt Nam. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp vẫn tham gia ở những công đoạn cuối của chuỗi giá trị toàn cầu và chủ yếu theo mô hình OEM, tức sản xuất theo đơn đặt hàng của đối tác. Trong khi đó, năng lực ODM, bao gồm tự thiết kế và phát triển sản phẩm, vẫn còn hạn chế.
Từ những phân tích này các chuyên gia trong ngành gỗ cho rằng, đây chính là khoảng trống về giá trị mà ngành gỗ cần từng bước lấp đầy. Một quốc gia có thể xuất khẩu lượng lớn sản phẩm nhưng nếu thiết kế, thương hiệu, công nghệ và hệ thống phân phối vẫn thuộc về đối tác nước ngoài thì phần giá trị giữ lại trong nước sẽ bị giới hạn.
Vì vậy, bước chuyển tiếp theo của ngành gỗ không chỉ là tăng công suất mà phải tiếp tục nâng cao năng lực thiết kế, phát triển sản phẩm, xây dựng thương hiệu và tiếp cận trực tiếp thị trường. Cùng với đó, sản xuất bền vững và truy xuất nguồn gốc cần trở thành một phần trong năng lực cạnh tranh. Trong bối cảnh, tiêu chuẩn xanh ngày càng trở thành điều kiện tiếp cận thị trường, doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu về nguồn nguyên liệu hợp pháp, phát thải, môi trường và minh bạch dữ liệu sẽ có nhiều lợi thế hơn trong chuỗi cung ứng.
Không chỉ vậy, tư duy phát triển cũng cần chuyển từ giải quyết vấn đề trước mắt sang dự báo thị trường trong 5-10 năm. Với quy mô thị trường Đông Nam Á khoảng 750-800 triệu dân, Việt Nam có thể tăng cường liên kết xuyên quốc gia, hình thành các chuỗi cung ứng khu vực và mở rộng không gian cho doanh nghiệp nội thất.
Cùng với đó, thị trường Hoa Kỳ cần được nhìn nhận không chỉ là nơi tiêu thụ mà còn là không gian để doanh nghiệp Việt Nam tăng cường hiện diện, nắm bắt thông tin và đối thoại trực tiếp với đối tác. Hoa Kỳ hiện chiếm khoảng 55% thị trường xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam, việc tăng năng lực tiếp cận trực tiếp thị trường sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng chủ động của ngành.
Đưa tiêu chuẩn xanh thành lợi thế cạnh tranh
Đối với cà phê, Việt Nam có lợi thế nổi bật về sản lượng, đặc biệt là Robusta. Tuy nhiên, vị thế về nguồn cung và khả năng làm chủ giá trị cho thấy Việt Nam vẫn chủ yếu mạnh ở xuất khẩu cà phê nhân, trong khi chế biến sâu, thương hiệu và các khâu có giá trị gia tăng cao chưa phát huy hết tiềm năng.
Vì thế vấn đề đặt ra cho ngành không chỉ là nâng chất lượng hạt cà phê mà còn phải đưa chất lượng, nguồn gốc và dữ liệu trở thành những yếu tố tạo nên vị thế thương mại. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt khi chuỗi cà phê liên quan đến sinh kế.
Hiện, các yêu cầu mới từ thị trường quốc tế, trong đó có Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), cùng các yêu cầu về giảm phát thải khí nhà kính, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững đang tạo sức ép lớn lên toàn chuỗi.
Khi đáp ứng tốt các yêu cầu này cũng sẽ là động lực để tái cấu trúc ngành, Việt Nam có thể nâng cấp toàn bộ chuỗi giá trị từ vật tư đầu vào, vùng nguyên liệu, sản xuất, chế biến đến thương mại.
Điểm quan trọng là xây dựng hệ thống dữ liệu đồng bộ và minh bạch. Khi dữ liệu về vùng trồng, nguồn gốc, chất lượng và phát thải được chuẩn hóa, doanh nghiệp không chỉ đáp ứng yêu cầu của từng thị trường mà còn có cơ sở để chứng minh chất lượng và gia tăng giá trị sản phẩm.
Bên cạnh đó, liên kết giữa các doanh nghiệp cần được củng cố. Chỉ khi người sản xuất, doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu, hiệp hội và các đối tác cùng chia sẻ thông tin, thống nhất tiêu chuẩn, khả năng cạnh tranh của cả ngành sẽ được nâng lên.
![]() |
| Cà phê Việt Nam có lợi thế nổi bật về sản lượng, đặc biệt là Robusta. Ảnh minh họa có sự hỗ trợ của AI |
Trong khi đó, ngành cao su cũng đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi tương tự. Việt Nam có lợi thế về sản lượng và vùng nguyên liệu nhưng sản xuất còn phân tán, điều này khiến việc áp dụng đồng bộ các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, ESG, giảm phát thải carbon và các chứng nhận quốc tế gặp không ít khó khăn.
Một số doanh nghiệp đã hỗ trợ hộ tiếp cận các tiêu chuẩn như FSC, PEFC, ESG và yêu cầu giảm phát thải, song quy mô này chưa đủ lớn. Do đó vẫn cần các chính sách đồng bộ hơn về dữ liệu, truy xuất nguồn gốc, tổ chức sản xuất và tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế.
Với Hiệp hội Cao su Việt Nam, việc nâng cao tiêu chuẩn của Nhãn hiệu chứng nhận Cao su Việt Nam, hướng tới xây dựng khung tiêu chuẩn quốc gia và tham gia sâu hơn vào quá trình xây dựng tiêu chuẩn quốc tế sẽ góp phần nâng cao vị thế của ngành.
Về phía doanh nghiệp, yêu cầu quan trọng là chuyển từ “bán nguyên liệu” sang “bán giá trị”. Điều này đòi hỏi tăng hàm lượng công nghệ, tri thức và thiết kế trong sản phẩm; đồng thời phát triển kinh tế tuần hoàn, tái chế sản phẩm cao su sau sử dụng..
Có thể thấy cả ba ngành gỗ, cà phê và cao su đều có điểm chung là Việt Nam đã có vị trí nhất định trong chuỗi cung ứng và tham gia nhiều thiết chế quốc tế, như Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO), Tổ chức Gỗ nhiệt đới Quốc tế (ITTO) và Hiệp hội các nước sản xuất cao su thiên nhiên (ANRPC). Song, tham gia vào các thiết chế mới chỉ là bước đầu; điều quan trọng hơn là cần nâng cao năng lực đóng góp, đề xuất và tham gia xây dựng những tiêu chuẩn có tác động trực tiếp tới lợi ích của Việt Nam.
Điều này đã cho thấy sự thay đổi căn bản về tư duy phát triển. Từ chỗ coi tiêu chuẩn là điều kiện phải đáp ứng để xuất khẩu, Việt Nam cần coi tiêu chuẩn là công cụ nâng cấp ngành hàng và tạo lợi thế cạnh tranh. Doanh nghiệp Việt Nam không chỉ bán sản lượng, mà còn phải hướng tới bán thương hiệu, chất lượng, thiết kế, công nghệ và câu chuyện về tính bền vững.
Cùng với đó là chuỗi giá trị ngày càng có sự liên kết chặt chẽ giữa người sản xuất, doanh nghiệp, hiệp hội, cơ quan quản lý và thị trường thì càng có khả năng tạo ra giá trị lớn. Và khi dữ liệu được chuẩn hóa, tiêu chuẩn được nâng lên, công nghệ được ứng dụng và thương hiệu được xây dựng, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có cơ sở để cải thiện được quyền thương lượng.
Nông lâm nghiệp Việt Nam từ lợi thế sản xuất đến làm chủ luật chơi toàn cầu là một bước chuyển cần có quá trình để nâng cấp toàn bộ chuỗi giá trị, từ sản xuất nguyên liệu đến tiêu chuẩn, dữ liệu, công nghệ, thiết kế và thương hiệu. Khi các doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng luật chơi và từng bước tham gia xây dựng luật chơi, thì những lợi thế của ngành gỗ, cà phê và cao su mới có thể được chuyển hóa thành giá trị và vị thế bền vững trên thị trường toàn cầu.
Tin tức khác
Dự án CSAT và IFIA: Tạo sinh kế cho bà con nông dân
Khơi thông nguồn lực, đổi cách tạo tăng trưởng 2 con số
Việt Nam - Canada: Mở rộng không gian hợp tác thương mại, đầu tư
Chuyên gia ADB: Từ nâng hạng đến hút vốn, phải tạo dựng thị trường “có niềm tin”
Năng lực thực chất tạo sức mạnh cho thương hiệu Việt
ADB: Nguồn vốn cho tăng trưởng cần tạo thêm năng suất
Kiến tạo không gian phát triển mới, mở dư địa cho tăng trưởng
PODCAST: Việt Nam: Thông điệp của hòa bình, trách nhiệm và khát vọng phát triển
PODCAST: Trợ lý ảo Chatbot đồng hành cùng hộ kinh doanh trên eTax Mobile
VIDEO: Dấu mốc mới với thị trường chứng khoán Việt Nam
PODCAST: Bộ Tài chính gắn hoàn thiện thể chế, điều hành tài khóa với mục tiêu tăng trưởng
VIDEO: Tham gia vào chỉ số thị trường mới nổi của FTSE GEIS - Dấu mốc lịch sử với thị trường tài chính Việt Nam
Chuyển từ bảo hộ sang tài sản hóa, thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ, thích ứng AI
Đề xuất cắt giảm 18 thủ tục, 5 điều kiện kinh doanh về sở hữu trí tuệ
Chấm dứt hiệu lực kế hoạch phân loại đô thị toàn quốc giai đoạn 2021-2030
Việt Nam - Canada: Mở rộng không gian hợp tác thương mại, đầu tư
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hiệp hội Chính sách Đối ngoại Hoa Kỳ
Đẩy nhanh tiến độ xây dựng pháp luật, bảo đảm các luật mới được triển khai đồng bộ
Đổi mới Ngày Văn hóa Việt Nam, lấy người dân làm trung tâm thụ hưởng
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trả lời phỏng vấn kênh truyền hình Bloomberg TV
Thái Nguyên mở rộng không gian đầu tư, hướng tới dòng vốn chất lượng
Nông lâm nghiệp Việt Nam: Từ lợi thế sản xuất đến làm chủ luật chơi toàn cầu
Dự án CSAT và IFIA: Tạo sinh kế cho bà con nông dân
Khơi thông nguồn lực, đổi cách tạo tăng trưởng 2 con số
Việt Nam - Canada: Mở rộng không gian hợp tác thương mại, đầu tư
Chuyên gia ADB: Từ nâng hạng đến hút vốn, phải tạo dựng thị trường “có niềm tin”
Năng lực thực chất tạo sức mạnh cho thương hiệu Việt
ADB: Nguồn vốn cho tăng trưởng cần tạo thêm năng suất











