Khơi thông nguồn lực, đổi cách tạo tăng trưởng 2 con số
![]() |
| Cần khơi thông nguồn lực cũng như đổi cách tạo tăng trưởng 2 con số. Ảnh AI minh họa. |
Năm 2026 mở đầu giai đoạn phát triển 2026-2030 với mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng. Sáu tháng đầu năm, GDP tăng 8,18%; quý III được dự báo tiếp tục tăng tốc. Kết quả này tạo nền tảng tích cực, song khoảng cách từ mức tăng hiện tại đến mục tiêu 2 con số cho thấy nền kinh tế cần một sức bật lớn hơn trong những tháng cuối năm và các năm tiếp theo.
Thách thức càng rõ khi mục tiêu tăng trưởng cao được đặt trong một chặng đường dài. Đại hội XIV xác định GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 tăng từ 10%/năm trở lên, đi cùng nâng năng suất lao động, tăng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thành những động lực chủ yếu.
Dồn nguồn lực để tạo sức bật cho tăng trưởng
Dư địa trước mắt nằm ở đầu tư. Theo số liệu của Bộ Tài chính, đến ngày 10/9/2026, giải ngân đầu tư công đạt 523.813,6 tỷ đồng, tương đương 51,2% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Với tổng nguồn lực hơn 1 triệu tỷ đồng, vẫn còn khoảng 480.000 tỷ đồng cần được đưa vào nền kinh tế trong thời gian còn lại.
Quy mô này cho thấy đầu tư công có thể tiếp tục tạo lực kéo lớn cho tổng cầu, đồng thời hình thành hạ tầng phục vụ tăng trưởng dài hạn. Tuy nhiên, cùng với yêu cầu đẩy nhanh tiến độ giải ngân, hiệu quả sử dụng vốn cần được đặt ở vị trí trung tâm. Như Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn từ nhiều lần nhấn mạnh: “Từng đồng đầu tư công, từng đồng chi tiêu của ngân sách đều phải tính đến hiệu quả”.
![]() |
| Kết quả giải ngân đầu tư công. Ảnh AI minh họa. |
Ở góc nhìn chính sách, ông Suan Teck Kin, Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) cho rằng, công cụ phù hợp hơn để hỗ trợ tăng trưởng hiện nay là chính sách tài khóa, gồm đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, cải cách thủ tục hành chính và nâng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, thay vì chủ yếu dựa vào tín dụng hoặc lãi suất.
Tuy nhiên, đầu tư công khó có thể một mình tạo ra tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài. TS. Chu Tuấn Linh, Trưởng khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi (NTU) nhận định, dư địa còn nằm ở khu vực tư nhân, thị trường vốn, đất đai, tri thức, dữ liệu và FDI. Vấn đề là chuyển những nguồn lực ấy thành năng lực sản xuất thực tế.
Cùng với đầu tư, thị trường nội địa hơn 100 triệu dân tạo ra một trụ đỡ quan trọng. TS. Trần Xuân Lượng, Viện trưởng Nghiên cứu Kinh tế và Bất động sản Việt Nam cho rằng tăng trưởng có thể được thúc đẩy từ bốn cấu phần chính gồm tiêu dùng, đầu tư, chi tiêu của Nhà nước và xuất khẩu ròng. Việc kích hoạt đồng thời các cấu phần sẽ tạo sức kéo rộng hơn.
Từ góc độ đó, yêu cầu khơi thông nguồn lực cần được hiểu theo nghĩa rộng. Vốn ngân sách phải dẫn dắt được đầu tư xã hội; thị trường vốn cần trở thành kênh cung ứng nguồn lực dài hạn; khu vực tư nhân cần có môi trường thuận lợi để mở rộng đầu tư; FDI cần bổ sung công nghệ, quản trị và kết nối nền kinh tế với chuỗi giá trị toàn cầu.
Thu hút FDI nhưng phải giữ lại nhiều giá trị hơn
Một điểm đáng chú ý trong cấu trúc kinh tế hiện nay là sự khác biệt giữa năng lực của doanh nghiệp trong nước và khu vực FDI. Doanh nghiệp nội địa tạo khoảng 68% tổng doanh thu của khu vực doanh nghiệp, trong khi FDI chiếm khoảng 80,1% kim ngạch xuất khẩu trong 8 tháng đầu năm 2026. Hai con số cho thấy dư địa liên kết giữa 2 khu vực còn rất lớn.
Vì vậy, bài toán không nằm ở lựa chọn FDI hay doanh nghiệp trong nước. Điều quan trọng là làm sao để dòng vốn nước ngoài tạo sức lan tỏa lớn hơn, giúp doanh nghiệp Việt tham gia sâu vào chuỗi cung ứng, tăng tỷ lệ nội địa hóa, tiếp nhận công nghệ, kỹ năng quản trị và từng bước tiến tới những khâu có giá trị gia tăng cao hơn.
| Việc thị trường chứng khoán Việt Nam được FTSE Russell nâng hạng mới đây cũng mở thêm cơ hội thu hút vốn quốc tế. TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia cho rằng đây là thời điểm Việt Nam cần tận dụng cơ hội để tạo cú bứt phá mới. |
TS. Trần Xuân Lượng cho rằng, phần lớn doanh nghiệp trong nước vẫn có quy mô nhỏ, năng lực tham gia công nghiệp hỗ trợ còn hạn chế. Để FDI tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh hơn, Việt Nam cần nâng năng lực sản xuất của doanh nghiệp nội địa, tăng liên kết giữa hai khu vực, tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt tham gia sâu vào các công đoạn có giá trị cao.
Điều này cũng đặt ra yêu cầu thay đổi cách đánh giá hiệu quả thu hút FDI. Bên cạnh lượng vốn đăng ký và giải ngân, cần quan tâm dự án tạo ra bao nhiêu nhà cung ứng Việt Nam, mức độ chuyển giao công nghệ ra sao, tỷ lệ nội địa hóa thế nào, doanh nghiệp trong nước tham gia được những công đoạn nào và lao động Việt Nam đảm nhiệm được vị trí kỹ thuật, quản lý nào.
Sự thay đổi ấy đặc biệt quan trọng khi Việt Nam muốn nâng năng suất. Mở rộng vốn, lao động và đất đai có giới hạn, trong khi năng suất có thể tạo dư địa tăng trưởng dài hơn. Muốn duy trì tốc độ cao, nền kinh tế cần giữ lại nhiều giá trị hơn từ hoạt động sản xuất, xuất khẩu, đồng thời nâng khả năng làm chủ công nghệ và năng lực của doanh nghiệp nội địa.
Muốn đi đường dài phải đổi cách tạo ra tăng trưởng
Khơi thông thêm vốn có thể tạo sức bật trước mắt, song tăng trưởng 2 con số trong cả giai đoạn đòi hỏi thay đổi sâu hơn về chất lượng. Ông Nguyễn Quốc Anh, Phó Viện trưởng Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) nhận định, dư địa của một số động lực truyền thống đang thu hẹp trong khi cạnh tranh quốc tế ngày càng phụ thuộc vào công nghệ và năng suất.
Theo ông Nguyễn Quốc Anh, nền kinh tế cần từng bước chuyển từ mô hình dựa nhiều vào gia tăng đầu vào sang dựa nhiều hơn vào năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng bình quân trên 10% giai đoạn 2026-2030, cần cơ cấu lại đầu tư, hệ thống tài chính và khu vực doanh nghiệp.
![]() |
| Theo ông Nguyễn Quốc Anh, để tăng trưởng 10% giai đoạn 2026-2030, cần cơ cấu lại đầu tư, hệ thống tài chính và khu vực doanh nghiệp. |
Cùng với đó là yêu cầu phát huy mạnh hơn vai trò của kinh tế tư nhân, nâng chất lượng FDI và tăng liên kết giữa doanh nghiệp nước ngoài với doanh nghiệp Việt Nam. Đây là quá trình chuyển từ huy động thật nhiều nguồn lực sang sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, tạo ra năng suất cao hơn và hình thành năng lực cạnh tranh có thể duy trì trong dài hạn.
Trong khi đó, TS. Cấn Văn Lực cho rằng Việt Nam cần tập trung vào 5 nhóm giải pháp, gồm hoàn thiện thể chế cho các động lực mới; khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng; củng cố ổn định những thị trường nền tảng; nâng chất lượng tăng trưởng; tăng cường an ninh năng lượng, lương thực, chuỗi cung ứng và an ninh mạng - dữ liệu.
Đặc biệt, TS. Cấn Văn Lực đặt vấn đề đưa hệ số ICOR về khoảng 4 lần và nâng tỷ trọng đóng góp của TFP vào tăng trưởng lên trên 55%. Đây là những chỉ dấu quan trọng bởi nếu cùng một lượng vốn tạo ra nhiều giá trị hơn, tăng trưởng sẽ bớt phụ thuộc vào việc liên tục mở rộng quy mô đầu tư và giảm áp lực huy động nguồn lực.
Nhìn từ yêu cầu ấy, mục tiêu 2 con số thực chất là bài toán đổi mới mô hình tăng trưởng. Đầu tư công cần tạo năng lực phát triển mới, FDI cần lan tỏa sâu hơn, khu vực tư nhân cần lớn mạnh, thị trường vốn phải cung cấp nguồn lực dài hạn, còn khoa học - công nghệ và năng suất phải trở thành động lực ngày càng rõ nét.
Đó cũng là nền tảng để nối đà tăng trưởng từ năm 2026 sang những năm tiếp theo. Khi các nguồn lực được khơi thông đồng thời với cải thiện hiệu quả sử dụng, Việt Nam có thêm dư địa theo đuổi tốc độ tăng trưởng cao. Quan trọng hơn, tăng trưởng ấy cần chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh, thu nhập, việc làm và nền tảng đủ vững chắc cho mục tiêu phát triển đến năm 2045.
Tin tức khác
Việt Nam - Canada: Mở rộng không gian hợp tác thương mại, đầu tư
Chuyên gia ADB: Từ nâng hạng đến hút vốn, phải tạo dựng thị trường “có niềm tin”
Năng lực thực chất tạo sức mạnh cho thương hiệu Việt
ADB: Nguồn vốn cho tăng trưởng cần tạo thêm năng suất
Kiến tạo không gian phát triển mới, mở dư địa cho tăng trưởng
Tasco rót 500.000 USD vào nền tảng chăm sóc ô tô Bonbon
Quỹ Bình ổn giá xăng dầu: Chủ động nguồn lực, linh hoạt điều hành giá
PODCAST: Trợ lý ảo Chatbot đồng hành cùng hộ kinh doanh trên eTax Mobile
VIDEO: Dấu mốc mới với thị trường chứng khoán Việt Nam
PODCAST: Bộ Tài chính gắn hoàn thiện thể chế, điều hành tài khóa với mục tiêu tăng trưởng
VIDEO: Tham gia vào chỉ số thị trường mới nổi của FTSE GEIS - Dấu mốc lịch sử với thị trường tài chính Việt Nam
PODCAST: Thị trường chứng khoán Việt Nam tuần 14-18/9/2026
Việt Nam - Canada: Mở rộng không gian hợp tác thương mại, đầu tư
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hiệp hội Chính sách Đối ngoại Hoa Kỳ
Đẩy nhanh tiến độ xây dựng pháp luật, bảo đảm các luật mới được triển khai đồng bộ
Đổi mới Ngày Văn hóa Việt Nam, lấy người dân làm trung tâm thụ hưởng
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trả lời phỏng vấn kênh truyền hình Bloomberg TV
Tiếp tục cùng những người bạn Hoa Kỳ vun đắp tình bạn, kiến tạo giá trị phát triển
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp Trưởng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ
Luật riêng về giao dịch hàng hóa phái sinh: Phát triển thị trường, phòng ngừa rủi ro
Dự án CSAT và IFIA: Tạo sinh kế cho bà con nông dân
Khơi thông nguồn lực, đổi cách tạo tăng trưởng 2 con số
Việt Nam - Canada: Mở rộng không gian hợp tác thương mại, đầu tư
Chuyên gia ADB: Từ nâng hạng đến hút vốn, phải tạo dựng thị trường “có niềm tin”
Năng lực thực chất tạo sức mạnh cho thương hiệu Việt
ADB: Nguồn vốn cho tăng trưởng cần tạo thêm năng suất
Kiến tạo không gian phát triển mới, mở dư địa cho tăng trưởng
Tasco rót 500.000 USD vào nền tảng chăm sóc ô tô Bonbon












