Đổi mới mô hình phát triển kinh tế dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo: Vấn đề huy động và sử dụng nguồn lực tài chính
PGS.,TS.Vũ Sỹ Cường
Học viện Tài chính
Email: [email protected]
ĐẶT VẤN ĐỀ
Để hiện thực hoá khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045; xác lập nền tảng cho tầm nhìn 100 năm phát triển tiếp theo của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng (2030 - 2130), Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển đất nước với mục tiêu đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển kinh tế kể từ sau cải cách năm 1986. Mô hình mới được yêu cầu chuyển mạnh từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, lao động, tài nguyên và gia công sang tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất lao động cao. Đây được xem là bước chuyển mạnh mẽ trong chiến lược phát triển, đánh dấu bước ngoặt chiến lược, chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng dựa vào vốn, lao động giá rẻ sang mô hình dựa trên năng suất, khoa học công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo (ĐMST). Mô hình mới đòi hỏi phải giải quyết 3 bài toán lớn cho phát triển khoa học công nghệ là nguồn lực tài chính, nguồn nhân lực và cải cách thể chế. Các vấn đề này đã từng được hiện thực hóa về mặt chủ trương chính sách qua Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về phát triển KHCN, ĐMST và chuyển đổi số quốc gia. Bài viết này nhìn lại thực trạng, phân tích một số thách thức đặt ra với huy động và sử dụng nguồn lực tài chính cho mục tiêu đổi mới mô hình phát triển kinh tế trong bối cảnh hiện nay.
CÁC MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ DỰA TRÊN KHCN, ĐMST VÀ CĐS
Trên thế giới, các mô hình tăng trưởng kinh tế cho tăng KHCN, ĐMST và gần đây là CĐS được coi là những động lực chính cho tăng trưởng về dài hạn của một quốc gia.
Mô hình tăng trưởng nội sinh (Endogenous growth model) phát triển bởi Paul Romer (1990), nhấn mạnh vai trò của đầu tư vào giáo dục, nghiên cứu và phát triển (R&D), và ĐMST trong tăng trưởng kinh tế dài hạn. Các yếu tố này tạo ra hiệu ứng lan tỏa tri thức, giúp tăng năng suất liên tục mà không bị giới hạn bởi quy luật lợi suất giảm dần (Solow, 1957). Mô hình tăng trưởng nội sinh nhấn mạnh vai trò của chính sách nhà nước trong việc thúc đẩy giáo dục, KHCN và thể chế.
Mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức (Knowledge - based economy) được phát triển và thúc đẩy bởi Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và Ngân hàng thế giới (World Bank) vào thập nhiên 1990, với trọng tâm coi tri thức, công nghệ, ĐMST và nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố cốt lõi tạo ra tăng trưởng, thay vì tài nguyên hay lao động giản đơn. Mô hình này được ứng dụng tại nhiều quốc gia và tạo ra tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Mô hình kinh tế dựa trên ĐMST (Innovation -driven growth) gắn với lý thuyết về ĐMST của Joseph Schumpeter (1942) và được phát triển sâu hơn trong kinh tế học hiện đại bởi Paul Romer. Mô hình này coi ĐMST, công nghệ và tri thức là động lực cốt lõi của tăng trưởng dài hạn, giúp nâng cao năng suất, tạo ra ngành nghề mới và tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.
Tóm lại, các mô hình tăng trưởng kinh tế đều khẳng định vai trò quan trọng của KHCN, ĐMST để đạt được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế dài hạn. Nguồn lực tài chính là đòn bẩy để chuyển các ý tưởng KHCN thành giá trị kinh tế thực tế, qua đó thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững. Các nguồn tài chính cho KHCN, ĐMST và CĐS có thể chia thành: Ngân sách nhà nước (NSNN), từ bản thân doanh nghiệp và từ nguồn các tổ chức tài chính.
THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CHO KHCN VÀ ĐMST Ở VIỆT NAM
Việc huy động các nguồn lực tài chính cho KHCN và ĐMST ở Việt Nam được thực hiện bằng nhiều công cụ chính sách khác nhau. Thứ nhất, NSNN tài trợ trực tiếp cho các đề tài và nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. Thứ hai, NSNN hỗ trợ gián tiếp các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động NCKH và ĐMST qua chính sách thuế và các quỹ hỗ trợ liên quan (gần đây nhất là quy định tại Nghị định số 264/2025/NĐ-CP về Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và quỹ đầu tư mạo hiểm của địa phương). Thứ ba, Việt Nam cũng thực hiện các chính sách hỗ trợ gián tiếp khác nhằm khuyến khích các tổ chức tài chính đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu khoa học và ĐMST trong các doanh nghiệp. Phân tích kết quả thực hiện các chính sách này có thể được thấy một phần qua quy mô và cơ cấu chi tiêu cho nghiên cứu KHCN và ĐMST của cả khu vực công và tư.
Trong những năm vừa qua, nguồn vốn cho nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam vẫn còn khá hạn chế về quy mô, nhưng có xu hướng cải thiện. Theo số liệu báo cáo từ các tổ chức và của Bộ KHCN, chi cho R&D ở Việt Nam chỉ đạt hơn 0,4% GDP, bằng ¼ so với mục tiêu 2% GDP của chiến lược phát triển KHCN đến 2030. Trong khi đó mức chi cho R&D của thế giới năm 2021 là 2,62% GDP, gấp hơn 5 lần Việt Nam (World Bank, 2025). So sánh với dữ liệu các quốc gia trong khu vực như Singapore, Thái Lan và Malaysia, có thể thấy mức chi của Việt Nam khá thấp, dao động bằng ¼ tới ½ của các quốc gia (Hình 1).

Bảng 1 cho thấy cơ cấu chi cho R&D theo loại hình kinh tế, khu vực nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất với các khu vực còn lại nhưng có xu hướng giảm đi (còn 48,94% vào năm 2023). Khu vực ngoài nhà nước tăng nhanh và chiếm một vai trò khá quan trọng (40,99% năm 2023), song việc huy động vốn từ khu vực nước ngoài còn khá khiêm tốn và tỷ trọng có xu hướng giảm qua các năm.
Xét theo nguồn đầu tư cho R&D, khu vực doanh nghiệp có đầu tư vào R&D, lớn nhất, chiếm khoảng 58% tổng nguồn vốn R&D của quốc gia (năm 2023). Tuy nhiên, khi so với giá trị GDP, chi tiêu của doanh nghiệp cho R&D ở Việt Nam chỉ đạt 0,2% GDP, thấp hơn nhiều so với mức 1,7%GDP ở Trung Quốc và 3,6% GDP ở Hàn Quốc Nguồn chi từ NSNN cho R&D tăng qua các năm, chiếm 33% tổng nguồn vốn R&D của quốc gia (năm 2023). Chi cho R&D từ cơ sở giáo dục đại học vẫn chiếm một tỉ lệ rất khiêm tốn so với vai trò của khu vực này trong các hoạt động KHCN, ĐMST và chuyển đổi số (nguồn chi của các cơ sở giáo dục đại học cũng có phần lớn là từ NSNN).
Doanh nghiệp là đơn vị dành nhiều nguồn vốn đầu tư cho R&D nhất, tập trung phần lớn ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước, tiếp đến là doanh nghiệp nhà nước. Nguồn vốn của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dành cho R&D còn rất khiêm tốn.
Số liệu cho thấy quy mô chi cho KHCN và ĐMST của doanh nghiệp đã có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây.

ĐÁNH GIÁ VỀ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CHO KHCN VÀ ĐMST
Mặc dù nguồn lực cho R&D của Việt Nam còn hạn chế nhưng kết quả về R&D đã có sự cải thiện (năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam theo xếp hạng của WIPO (2025) thì các yếu tố đầu vào xếp hạng 50 nhưng các yếu tố đầu ra được xếp hạng 37. Việt Nam đã có chính sách yêu cầu chi NSNN tối thiểu 2% (mới đây là 3%) cho hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ bao gồm cả chi cho đầu tư cho cơ sở hạ tầng và chi thường xuyên cho nghiên cứu. Và gần đây là quy định tăng quy mô chi NSNN cho KHCN và ĐMST lên 3% tổng chi NSNN. Việc tăng quy mô đầu tư cho KHCN và ĐMST từ ngân sách sẽ tạo cơ hội để dẫn dắt sự tham gia của các khu vực kinh tế khác cũng như hỗ trợ cho các nghiên cứu cơ bản, điều rất cần thiết cho việc tạo ra nền tảng KHCN và ĐMST của quốc gia.
Chính sách tài chính hỗ trợ hoạt động R&D, KHCN của doanh nghiệp cũng đã có một số kết quả nhất định. Một tỷ lệ nhất định các doanh nghiệp tiếp cận được chính sách hỗ trợ, bao gồm hỗ trợ từ NSNN cho đổi mới công nghệ, tín dụng, hỗ trợ kỹ thuật và hỗ trợ dự án. Các chính sách của Chính phủ đã động viên được các doanh nghiệp dành nguồn vốn cho R&D, nguồn vốn từ khu vực này chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng chi R&D trên cả nước và có xu hướng tăng lên. Việt Nam đã có một số chủ trương và chính sách mang tính chiến lược với những thay đổi mạnh về cơ chế huy động và sử dụng nguồn lực cho R&D và ĐMST, nhất sau khi Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Tuy nhiên, cần có các chính sách cụ thể để hiện thực hóa các chủ trương mang tính chiến lược này.
Bên cạnh các kết quả đạt được, vẫn còn một số thách thức trong chính sách nhằm huy động nguồn lực cho KHCN, ĐMST ở Việt Nam. Phân tích ở trên cho thấy mức độ đầu tư cho R&D của Việt Nam và phân bổ theo nguồn vốn của Nhà nước và tư nhân đều thấp hơn so sánh với các quốc gia có thu nhập trung bình khác trong khu vực.
Hơn nữa, những năm qua, dù có quy định phải chi tối thiểu 2% tổng chi ngân sách cho KHCN nhưng trên thực tế con số này chưa được đảm bảo. Số liệu của Bộ Tài chính (2025) cho thấy tỷ lệ chi ngân sách cho KHCN cao nhất là năm 2024 thì cũng chỉ đạt 1,97% (Nhân dân, 2025). Ngân sách hạn chế nhưng lại được phân bổ cho nhiều đề tài khác nhau là nguyên nhân khiến quy mô trung bình của các khoản tài trợ cho đề tài khá nhỏ. Thêm vào đó, phần lớn chi tiêu công cho KHCN được phân bổ thông qua các bộ, ngành và kéo theo chi phí quản lý đáng kể, đặc biệt liên quan đến các thủ tục hành chính hay “giấy tờ rườm rà”, dù đã có những cải thiện hơn nhờ các nỗ lực gần đây.
Chi tiêu công cho R&D thấp, trong đó chi đầu tư công cho R&D chỉ chiếm chưa đầy 50% nên cơ sở hạ tầng cho các hoạt động R&D rất hạn chế. Việc thiếu cơ sở hạ tầng để tạo nguyên mẫu và mở rộng quy mô trong nước khiến nhiều sáng kiến ĐMST thường chỉ dừng lại ở khâu phòng thí nghiệm, trong khi các nhà nghiên cứu không được tiếp cận với quy trình ĐMST đầy đủ. Điều này không chỉ cản trở nỗ lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu, mà còn làm giảm sức hấp dẫn Việt Nam đối với các dự án công nghệ cao, vốn đòi hỏi có cả một hệ sinh thái bao gồm các nhà cung cấp, các phòng thí nghiệm, cơ sở kiểm thử (Ngân hàng thế giới, 2025).
Doanh nghiệp thiếu động lực để đầu tư cho KHCN và ĐMST do những hạn chế cả về phía cung và phía cầu. Về phía cung, doanh nghiệp thiếu nguồn lực cả về vốn và lao động để triển khai các hoạt động KHCN và ĐMST. Mức đầu tư hạn chế cho R&D của cả khu vực công và tư nhân ở Việt Nam dẫn đến không đáp ứng đủ nhu cầu phát triển hạ tầng đào tạo, R&D trong các ngành, nhất là các ngành công nghệ cao. Thực tế, khu vực tư nhân ở Việt Nam chưa thực sự trở thành động lực lớn cho hoạt động ĐMST, vì hầu hết các doanh nghiệp vẫn dựa vào công nghệ nhập khẩu hoặc chỉ chỉnh lý nhỏ về công nghệ, thay vì kết quả R&D gốc. Sự thiếu hụt cơ sở hạ tầng nghiên cứu cũng làm cho các doanh nghiệp không thể trông cậy vào sự hỗ trợ thí nghiệm của khu vực công trong hoạt động ĐMST.
Các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa hầu như không thể tiếp cận với nguồn vốn từ các quỹ hỗ trợ của nhà nước do nhiều lý như: thủ tục phức tạp, tốn chi phí, lãi suất và thời hạn vay của Quỹ không hấp dẫn đối với doanh nghiệp, ít thông tin về các chính sách hỗ trợ của nhà nước. Cơ chế để các doanh nghiệp tham gia vào các dự án/đề án/đề tài/chương trình KHCN của khu vực công còn hạn chế (Lưu H. Trang, 2025). Chính sách thuế hỗ trợ các hoạt động ĐMST còn ít tác động đến doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có chi cho ĐMST, NC&PT, tuy nhiên không ghi nhận chi phí để được ưu đãi thuế.
Thị trường vốn cho KHCN kém phát triển cùng với sự hạn chế của các quỹ đầu tư mạo hiểm cũng làm giảm đi nguồn cung vốn cho hoạt động KHCN và ĐMST của doanh nghiệp Việt Nam.
Về phía cầu, với vị trí địa lý ở cạnh một quốc gia là công xưởng của cả thế giới cũng tạo ra sức ép rất lớn làm giảm nhu cầu R&D và ĐMST của doanh nghiệp Việt Nam khi mọi sản phẩm đều luôn có thể được cung cấp với quy mô và giá rất cạnh tranh từ Trung Quốc. Hơn nữa, do cấu trúc của nền kinh tế với tỷ suất lợi nhuận khá lớn từ các hoạt động bất động sản cũng gây ra hiệu ứng chèn lấn với các doanh nghiệp sản xuất và làm giảm nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp cho KHCN và ĐMST.
Ngoài ra, còn khá nhiều hạn chế về cơ chế quản lý các hoạt động R&D và năng lực đội ngũ nghiên cứu. Các chính sách huy động nguồn lực khác chỉ mới được triển khai và chưa có những hướng dẫn cụ thể.
![]() |
KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Để đẩy mạnh mô hình tăng trưởng kinh tế dựa trên KHCN, ĐMST và CĐS tại Việt Nam, cần cải cách mạnh mẽ chính sách để huy động nguồn lực tài chính, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách như sau:
Thứ nhất, bảo đảm quy mô chi NSNN đủ 3% cho KHCN và ĐMST, đồng thời đổi mới quản lý chi tiêu công cho lĩnh vực này. Cơ chế quản lý cần chuyển từ cấp kinh phí theo đầu vào sang tài trợ theo kết quả đầu ra và tác động, ưu tiên ngân sách cho các công nghệ chiến lược, R&D nền tảng, hạ tầng nghiên cứu và nhân lực chất lượng cao. Chính sách cần phải sử dụng NSNN như vốn mồi để thu hút các nguồn vốn ngoài ngân sách. Với chi tiêu công cần xem xét triển khai cơ chế nhằm đồng tài trợ R&D cho doanh nghiệp, Nhà nước tài trợ 30-70% kinh phí, doanh nghiệp đối ứng phần còn lại, giúp chia sẻ rủi ro và tăng khả năng thử nghiệm công nghệ mới tại DNNVV. Thay đổi cơ chế quản lý tài chính nhằm chấp nhận rủi ro trong hỗ trợ hoạt động KHCN và ĐMST.
Thứ hai, xây dựng cơ chế về chính sách ưu đãi cụ thể, khả thi để doanh nghiệp tăng đầu tư cho KHCN và ĐMST. Việt Nam hiện đã đi theo hướng này với chính sách cho phép doanh nghiệp trích tối đa 20% thu nhập tính thuế TNDN để lập quỹ phát triển KHCN và ĐMST, đồng thời áp dụng cơ chế tính 200% chi phí R&D vào chi phí được trừ theo quy định. Tuy nhiên, cần cụ thể hóa các chính sách này để có thể có hiệu quả trong thực tế. Nghiên cứu mở rộng ưu đãi thuế với hoạt động R&D phù hợp với chủ trương chấp nhận rủi ro trong đầu tư cho KHCN, ĐMST và CĐS. Đơn giản hóa thủ tục để doanh nghiệp tiếp cận với các ưu đãi về chính sách.
Ngoài ra, Nhà nước có thể nghiên cứu thử nghiệm cơ chế đặt hàng hoặc mua sản phẩm ĐMST của doanh nghiệp, tạo thị trường đầu ra cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Cần tiếp tục hoàn thiện và đơn giản hóa các thủ tục giải ngân tại các Quỹ tài chính hỗ trợ DNNVV, áp dụng mức lãi suất ưu đãi thấp khoảng 2-3% và thời hạn cho vay dài.
Thứ ba, cần có các cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp tham gia vào các chuỗi giá trị (cả trong và ngoài nước), nhằm tạo cầu cho hoạt động KHCN và ĐMST. Ngoài ra, cần có chính sách nhằm thay đổi cấu trúc nền kinh tế để doanh nghiệp có động lực đầu tư cho KHCN và ĐMST thay vì tìm kiếm lợi ích từ hoạt động đầu cơ bất động sản.
Thứ tư, phát triển thị trường vốn cho đổi mới sáng tạo.
Các hoạt động KHCN và ĐMST có đặc điểm rủi ro cao, tài sản hữu hình thấp, thời gian hoàn vốn dài, nên không thể chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng. Vì vậy, cần phát triển mạnh các quỹ đầu tư mạo hiểm. Đồng thời, cần phát triển thị trường vốn cho startup và doanh nghiệp công nghệ và tạo cơ chế thoái vốn rõ ràng cho nhà đầu tư.
Thứ năm, huy động nguồn lực từ FDI gắn với R&D và chuyển giao công nghệ.
Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vốn cần nhanh chóng được cụ thể hóa thành các chính sách và quy định cụ thể trong thực thi.
Thứ sáu, Việt Nam cần tiếp tục cải thiện các chính sách khác như thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm KHCN, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đầu tư cho đào tạo nhân lực…
Tài liệu tham khảo:
- Báo Nhân Dân (2025). Chi tiêu hiệu quả cho khoa học - công nghệ. https://nhandan.vn/chi-tieu-hieu-qua-cho-khoa-hoc-cong-nghe-post880988.html
- Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
- Bộ Khoa học và Công nghệ (2024). Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam 2024. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật.
- Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam 2025. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Nghị quyết số 19-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
- Lưu H. Trang và cộng sự. (2025). Đánh giá tác động của chính sách tài chính đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam (Báo cáo tổng hợp đề tài NCKH cấp Bộ, mã số ĐT/2025-48).
- OECD & World Bank. (2014). Science, technology and innovation in Viet Nam: OECD Reviews of Innovation Policy. OECD Publishing.
- Romer, P. M. (1990). Endogenous technical change. Journal of Political Economy, 98(5), S71–S101. https://doi. org/10.1086/261725
- Schumpeter, J. A. (2014). Capitalism, socialism and democracy (2nd ed.). Impact Books. (Original work published 1942).
- Solow, R. M. (1957). Technical change and the aggregate production function. The Review of Economics and Statistics, 39(3), 312–320. https://doi.org/10.2307/1926047
- WIPO. (2025). Global innovation index 2025: Vietnam country profile. https://www.wipo.int/edocs/gii-ranking/2025/vn.pdf
- World Bank (2021). Vietnam: Science, technology, and innovation report 2020. World Bank Group.
- World Bank (2025). Nurturing Viet Nam’s High-tech Talents. World Bank Group.
| Bài đã đăng Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in số kỳ 1 tháng 9/2026 |
Tin tức khác
Việt Nam - Ba Lan: Hiện thực hóa quan hệ Đối tác chiến lược bằng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư
Đổi mới thể chế: Năng lực thực thi quyết định sức bật phát triển
Hà Nội tạo động lực tăng trưởng mới, nâng tầm du lịch văn hóa, di sản và sự kiện quốc tế
Giải bài toán tăng trưởng 2 con số: GDP cần được tạo ra từ đâu?
Lãnh đạo các tập đoàn kinh tế hiến kế hút vốn cho các dự án hạ tầng
Vốn ngoại vượt 50 tỷ USD, VIFC-HCMC cần điều hướng vào ngành giá trị cao
TP. Hồ Chí Minh sẵn sàng đón dòng vốn thế hệ mới
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
VIDEO: Thu ngân sách gần 400.000 tỷ đồng: Ngành Hải quan tăng tốc số hóa cho chặng nước rút 2026
Việt Nam - Ba Lan: Hiện thực hóa quan hệ Đối tác chiến lược bằng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn sẽ trả lời chất vấn trước Quốc hội
Bài 1: Tăng trưởng thực chất - Sức bật phía sau những con số ấn tượng
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Bỏ giấy phép nhưng không được bỏ trống trách nhiệm quản lý
Tổ chức, cá nhân kinh doanh phải chủ động hoàn tiền thu thừa do đo lường sai
Ngăn tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi” trong kiểm định đo lường
Đề xuất phạt vi phạm hành chính tới 3 tỷ đồng, bổ sung nhiều biện pháp cưỡng chế
Việt Nam - EU và Bỉ: Dấu ấn chuyến thăm, mở rộng không gian hợp tác phát triển
Bộ Tài chính và loạt nhiệm vụ trọng tâm: Bảo đảm nguồn lực cho các mục tiêu phát triển
Bài 1: Khai mở không gian tăng trưởng 2 con số
Việt Nam - Ba Lan: Hiện thực hóa quan hệ Đối tác chiến lược bằng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư
Đổi mới thể chế: Năng lực thực thi quyết định sức bật phát triển
Hà Nội tạo động lực tăng trưởng mới, nâng tầm du lịch văn hóa, di sản và sự kiện quốc tế
Giải bài toán tăng trưởng 2 con số: GDP cần được tạo ra từ đâu?
Lãnh đạo các tập đoàn kinh tế hiến kế hút vốn cho các dự án hạ tầng
Vốn ngoại vượt 50 tỷ USD, VIFC-HCMC cần điều hướng vào ngành giá trị cao
TP. Hồ Chí Minh sẵn sàng đón dòng vốn thế hệ mới










