aa

Đổi mới mô hình phát triển kinh tế dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo: Vấn đề huy động và sử dụng nguồn lực tài chính

22:21 | 11/09/2026
Trong những năm gần đây, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã trở thành động lực trung tâm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, được khẳng định trong nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Ba trụ cột này không chỉ góp phần nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng mà còn thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng hiện đại và bền vững. Gần đây nhất, Nghị quyết số 19 - NQ/TW ngày 28/7/2026 đặt ra mục tiêu Việt Nam cần xây dựng mô hình kinh tế hiệu quả cao, chuyển mạnh từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, lao động, tài nguyên và gia công sang tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất lao động cao. Do vậy, bài toán huy động nguồn lực tài chính cho quá trình chuyển đổi mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành một trong những thách thức lớn cần được giải.

PGS.,TS.Vũ Sỹ Cường

Học viện Tài chính

Email: [email protected]

ĐẶT VẤN ĐỀ

Để hiện thực hoá khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045; xác lập nền tảng cho tầm nhìn 100 năm phát triển tiếp theo của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng (2030 - 2130), Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển đất nước với mục tiêu đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển kinh tế kể từ sau cải cách năm 1986. Mô hình mới được yêu cầu chuyển mạnh từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, lao động, tài nguyên và gia công sang tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất lao động cao. Đây được xem là bước chuyển mạnh mẽ trong chiến lược phát triển, đánh dấu bước ngoặt chiến lược, chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng dựa vào vốn, lao động giá rẻ sang mô hình dựa trên năng suất, khoa học công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo (ĐMST). Mô hình mới đòi hỏi phải giải quyết 3 bài toán lớn cho phát triển khoa học công nghệ là nguồn lực tài chính, nguồn nhân lực và cải cách thể chế. Các vấn đề này đã từng được hiện thực hóa về mặt chủ trương chính sách qua Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về phát triển KHCN, ĐMST và chuyển đổi số quốc gia. Bài viết này nhìn lại thực trạng, phân tích một số thách thức đặt ra với huy động và sử dụng nguồn lực tài chính cho mục tiêu đổi mới mô hình phát triển kinh tế trong bối cảnh hiện nay.

CÁC MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ DỰA TRÊN KHCN, ĐMST VÀ CĐS

Trên thế giới, các mô hình tăng trưởng kinh tế cho tăng KHCN, ĐMST và gần đây là CĐS được coi là những động lực chính cho tăng trưởng về dài hạn của một quốc gia.

Mô hình tăng trưởng nội sinh (Endogenous growth model) phát triển bởi Paul Romer (1990), nhấn mạnh vai trò của đầu tư vào giáo dục, nghiên cứu và phát triển (R&D), và ĐMST trong tăng trưởng kinh tế dài hạn. Các yếu tố này tạo ra hiệu ứng lan tỏa tri thức, giúp tăng năng suất liên tục mà không bị giới hạn bởi quy luật lợi suất giảm dần (Solow, 1957). Mô hình tăng trưởng nội sinh nhấn mạnh vai trò của chính sách nhà nước trong việc thúc đẩy giáo dục, KHCN và thể chế.

Mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức (Knowledge - based economy) được phát triển và thúc đẩy bởi Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và Ngân hàng thế giới (World Bank) vào thập nhiên 1990, với trọng tâm coi tri thức, công nghệ, ĐMST và nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố cốt lõi tạo ra tăng trưởng, thay vì tài nguyên hay lao động giản đơn. Mô hình này được ứng dụng tại nhiều quốc gia và tạo ra tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Mô hình kinh tế dựa trên ĐMST (Innovation -driven growth) gắn với lý thuyết về ĐMST của Joseph Schumpeter (1942) và được phát triển sâu hơn trong kinh tế học hiện đại bởi Paul Romer. Mô hình này coi ĐMST, công nghệ và tri thức là động lực cốt lõi của tăng trưởng dài hạn, giúp nâng cao năng suất, tạo ra ngành nghề mới và tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.

Tóm lại, các mô hình tăng trưởng kinh tế đều khẳng định vai trò quan trọng của KHCN, ĐMST để đạt được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế dài hạn. Nguồn lực tài chính là đòn bẩy để chuyển các ý tưởng KHCN thành giá trị kinh tế thực tế, qua đó thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững. Các nguồn tài chính cho KHCN, ĐMST và CĐS có thể chia thành: Ngân sách nhà nước (NSNN), từ bản thân doanh nghiệp và từ nguồn các tổ chức tài chính.

THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CHO KHCN VÀ ĐMST Ở VIỆT NAM

Việc huy động các nguồn lực tài chính cho KHCN và ĐMST ở Việt Nam được thực hiện bằng nhiều công cụ chính sách khác nhau. Thứ nhất, NSNN tài trợ trực tiếp cho các đề tài và nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. Thứ hai, NSNN hỗ trợ gián tiếp các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động NCKH và ĐMST qua chính sách thuế và các quỹ hỗ trợ liên quan (gần đây nhất là quy định tại Nghị định số 264/2025/NĐ-CP về Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và quỹ đầu tư mạo hiểm của địa phương). Thứ ba, Việt Nam cũng thực hiện các chính sách hỗ trợ gián tiếp khác nhằm khuyến khích các tổ chức tài chính đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu khoa học và ĐMST trong các doanh nghiệp. Phân tích kết quả thực hiện các chính sách này có thể được thấy một phần qua quy mô và cơ cấu chi tiêu cho nghiên cứu KHCN và ĐMST của cả khu vực công và tư.

Trong những năm vừa qua, nguồn vốn cho nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam vẫn còn khá hạn chế về quy mô, nhưng có xu hướng cải thiện. Theo số liệu báo cáo từ các tổ chức và của Bộ KHCN, chi cho R&D ở Việt Nam chỉ đạt hơn 0,4% GDP, bằng ¼ so với mục tiêu 2% GDP của chiến lược phát triển KHCN đến 2030. Trong khi đó mức chi cho R&D của thế giới năm 2021 là 2,62% GDP, gấp hơn 5 lần Việt Nam (World Bank, 2025). So sánh với dữ liệu các quốc gia trong khu vực như Singapore, Thái Lan và Malaysia, có thể thấy mức chi của Việt Nam khá thấp, dao động bằng ¼ tới ½ của các quốc gia (Hình 1).

Bảng 1 cho thấy cơ cấu chi cho R&D theo loại hình kinh tế, khu vực nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất với các khu vực còn lại nhưng có xu hướng giảm đi (còn 48,94% vào năm 2023). Khu vực ngoài nhà nước tăng nhanh và chiếm một vai trò khá quan trọng (40,99% năm 2023), song việc huy động vốn từ khu vực nước ngoài còn khá khiêm tốn và tỷ trọng có xu hướng giảm qua các năm.

Xét theo nguồn đầu tư cho R&D, khu vực doanh nghiệp có đầu tư vào R&D, lớn nhất, chiếm khoảng 58% tổng nguồn vốn R&D của quốc gia (năm 2023). Tuy nhiên, khi so với giá trị GDP, chi tiêu của doanh nghiệp cho R&D ở Việt Nam chỉ đạt 0,2% GDP, thấp hơn nhiều so với mức 1,7%GDP ở Trung Quốc và 3,6% GDP ở Hàn Quốc Nguồn chi từ NSNN cho R&D tăng qua các năm, chiếm 33% tổng nguồn vốn R&D của quốc gia (năm 2023). Chi cho R&D từ cơ sở giáo dục đại học vẫn chiếm một tỉ lệ rất khiêm tốn so với vai trò của khu vực này trong các hoạt động KHCN, ĐMST và chuyển đổi số (nguồn chi của các cơ sở giáo dục đại học cũng có phần lớn là từ NSNN).

Doanh nghiệp là đơn vị dành nhiều nguồn vốn đầu tư cho R&D nhất, tập trung phần lớn ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước, tiếp đến là doanh nghiệp nhà nước. Nguồn vốn của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dành cho R&D còn rất khiêm tốn.

Số liệu cho thấy quy mô chi cho KHCN và ĐMST của doanh nghiệp đã có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây.

ĐÁNH GIÁ VỀ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CHO KHCN VÀ ĐMST

Mặc dù nguồn lực cho R&D của Việt Nam còn hạn chế nhưng kết quả về R&D đã có sự cải thiện (năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam theo xếp hạng của WIPO (2025) thì các yếu tố đầu vào xếp hạng 50 nhưng các yếu tố đầu ra được xếp hạng 37. Việt Nam đã có chính sách yêu cầu chi NSNN tối thiểu 2% (mới đây là 3%) cho hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ bao gồm cả chi cho đầu tư cho cơ sở hạ tầng và chi thường xuyên cho nghiên cứu. Và gần đây là quy định tăng quy mô chi NSNN cho KHCN và ĐMST lên 3% tổng chi NSNN. Việc tăng quy mô đầu tư cho KHCN và ĐMST từ ngân sách sẽ tạo cơ hội để dẫn dắt sự tham gia của các khu vực kinh tế khác cũng như hỗ trợ cho các nghiên cứu cơ bản, điều rất cần thiết cho việc tạo ra nền tảng KHCN và ĐMST của quốc gia.

Chính sách tài chính hỗ trợ hoạt động R&D, KHCN của doanh nghiệp cũng đã có một số kết quả nhất định. Một tỷ lệ nhất định các doanh nghiệp tiếp cận được chính sách hỗ trợ, bao gồm hỗ trợ từ NSNN cho đổi mới công nghệ, tín dụng, hỗ trợ kỹ thuật và hỗ trợ dự án. Các chính sách của Chính phủ đã động viên được các doanh nghiệp dành nguồn vốn cho R&D, nguồn vốn từ khu vực này chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng chi R&D trên cả nước và có xu hướng tăng lên. Việt Nam đã có một số chủ trương và chính sách mang tính chiến lược với những thay đổi mạnh về cơ chế huy động và sử dụng nguồn lực cho R&D và ĐMST, nhất sau khi Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Tuy nhiên, cần có các chính sách cụ thể để hiện thực hóa các chủ trương mang tính chiến lược này.

Bên cạnh các kết quả đạt được, vẫn còn một số thách thức trong chính sách nhằm huy động nguồn lực cho KHCN, ĐMST ở Việt Nam. Phân tích ở trên cho thấy mức độ đầu tư cho R&D của Việt Nam và phân bổ theo nguồn vốn của Nhà nước và tư nhân đều thấp hơn so sánh với các quốc gia có thu nhập trung bình khác trong khu vực.

Hơn nữa, những năm qua, dù có quy định phải chi tối thiểu 2% tổng chi ngân sách cho KHCN nhưng trên thực tế con số này chưa được đảm bảo. Số liệu của Bộ Tài chính (2025) cho thấy tỷ lệ chi ngân sách cho KHCN cao nhất là năm 2024 thì cũng chỉ đạt 1,97% (Nhân dân, 2025). Ngân sách hạn chế nhưng lại được phân bổ cho nhiều đề tài khác nhau là nguyên nhân khiến quy mô trung bình của các khoản tài trợ cho đề tài khá nhỏ. Thêm vào đó, phần lớn chi tiêu công cho KHCN được phân bổ thông qua các bộ, ngành và kéo theo chi phí quản lý đáng kể, đặc biệt liên quan đến các thủ tục hành chính hay “giấy tờ rườm rà”, dù đã có những cải thiện hơn nhờ các nỗ lực gần đây.

Chi tiêu công cho R&D thấp, trong đó chi đầu tư công cho R&D chỉ chiếm chưa đầy 50% nên cơ sở hạ tầng cho các hoạt động R&D rất hạn chế. Việc thiếu cơ sở hạ tầng để tạo nguyên mẫu và mở rộng quy mô trong nước khiến nhiều sáng kiến ĐMST thường chỉ dừng lại ở khâu phòng thí nghiệm, trong khi các nhà nghiên cứu không được tiếp cận với quy trình ĐMST đầy đủ. Điều này không chỉ cản trở nỗ lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu, mà còn làm giảm sức hấp dẫn Việt Nam đối với các dự án công nghệ cao, vốn đòi hỏi có cả một hệ sinh thái bao gồm các nhà cung cấp, các phòng thí nghiệm, cơ sở kiểm thử (Ngân hàng thế giới, 2025).

Doanh nghiệp thiếu động lực để đầu tư cho KHCN và ĐMST do những hạn chế cả về phía cung và phía cầu. Về phía cung, doanh nghiệp thiếu nguồn lực cả về vốn và lao động để triển khai các hoạt động KHCN và ĐMST. Mức đầu tư hạn chế cho R&D của cả khu vực công và tư nhân ở Việt Nam dẫn đến không đáp ứng đủ nhu cầu phát triển hạ tầng đào tạo, R&D trong các ngành, nhất là các ngành công nghệ cao. Thực tế, khu vực tư nhân ở Việt Nam chưa thực sự trở thành động lực lớn cho hoạt động ĐMST, vì hầu hết các doanh nghiệp vẫn dựa vào công nghệ nhập khẩu hoặc chỉ chỉnh lý nhỏ về công nghệ, thay vì kết quả R&D gốc. Sự thiếu hụt cơ sở hạ tầng nghiên cứu cũng làm cho các doanh nghiệp không thể trông cậy vào sự hỗ trợ thí nghiệm của khu vực công trong hoạt động ĐMST.

Các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa hầu như không thể tiếp cận với nguồn vốn từ các quỹ hỗ trợ của nhà nước do nhiều lý như: thủ tục phức tạp, tốn chi phí, lãi suất và thời hạn vay của Quỹ không hấp dẫn đối với doanh nghiệp, ít thông tin về các chính sách hỗ trợ của nhà nước. Cơ chế để các doanh nghiệp tham gia vào các dự án/đề án/đề tài/chương trình KHCN của khu vực công còn hạn chế (Lưu H. Trang, 2025). Chính sách thuế hỗ trợ các hoạt động ĐMST còn ít tác động đến doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có chi cho ĐMST, NC&PT, tuy nhiên không ghi nhận chi phí để được ưu đãi thuế.

Thị trường vốn cho KHCN kém phát triển cùng với sự hạn chế của các quỹ đầu tư mạo hiểm cũng làm giảm đi nguồn cung vốn cho hoạt động KHCN và ĐMST của doanh nghiệp Việt Nam.

Về phía cầu, với vị trí địa lý ở cạnh một quốc gia là công xưởng của cả thế giới cũng tạo ra sức ép rất lớn làm giảm nhu cầu R&D và ĐMST của doanh nghiệp Việt Nam khi mọi sản phẩm đều luôn có thể được cung cấp với quy mô và giá rất cạnh tranh từ Trung Quốc. Hơn nữa, do cấu trúc của nền kinh tế với tỷ suất lợi nhuận khá lớn từ các hoạt động bất động sản cũng gây ra hiệu ứng chèn lấn với các doanh nghiệp sản xuất và làm giảm nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp cho KHCN và ĐMST.

Ngoài ra, còn khá nhiều hạn chế về cơ chế quản lý các hoạt động R&D và năng lực đội ngũ nghiên cứu. Các chính sách huy động nguồn lực khác chỉ mới được triển khai và chưa có những hướng dẫn cụ thể.

Đổi mới mô hình phát triển kinh tế dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo: Vấn đề huy động và sử dụng nguồn lực tài chính

KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Để đẩy mạnh mô hình tăng trưởng kinh tế dựa trên KHCN, ĐMST và CĐS tại Việt Nam, cần cải cách mạnh mẽ chính sách để huy động nguồn lực tài chính, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách như sau:

Thứ nhất, bảo đảm quy mô chi NSNN đủ 3% cho KHCN và ĐMST, đồng thời đổi mới quản lý chi tiêu công cho lĩnh vực này. Cơ chế quản lý cần chuyển từ cấp kinh phí theo đầu vào sang tài trợ theo kết quả đầu ra và tác động, ưu tiên ngân sách cho các công nghệ chiến lược, R&D nền tảng, hạ tầng nghiên cứu và nhân lực chất lượng cao. Chính sách cần phải sử dụng NSNN như vốn mồi để thu hút các nguồn vốn ngoài ngân sách. Với chi tiêu công cần xem xét triển khai cơ chế nhằm đồng tài trợ R&D cho doanh nghiệp, Nhà nước tài trợ 30-70% kinh phí, doanh nghiệp đối ứng phần còn lại, giúp chia sẻ rủi ro và tăng khả năng thử nghiệm công nghệ mới tại DNNVV. Thay đổi cơ chế quản lý tài chính nhằm chấp nhận rủi ro trong hỗ trợ hoạt động KHCN và ĐMST.

Thứ hai, xây dựng cơ chế về chính sách ưu đãi cụ thể, khả thi để doanh nghiệp tăng đầu tư cho KHCN và ĐMST. Việt Nam hiện đã đi theo hướng này với chính sách cho phép doanh nghiệp trích tối đa 20% thu nhập tính thuế TNDN để lập quỹ phát triển KHCN và ĐMST, đồng thời áp dụng cơ chế tính 200% chi phí R&D vào chi phí được trừ theo quy định. Tuy nhiên, cần cụ thể hóa các chính sách này để có thể có hiệu quả trong thực tế. Nghiên cứu mở rộng ưu đãi thuế với hoạt động R&D phù hợp với chủ trương chấp nhận rủi ro trong đầu tư cho KHCN, ĐMST và CĐS. Đơn giản hóa thủ tục để doanh nghiệp tiếp cận với các ưu đãi về chính sách.

Ngoài ra, Nhà nước có thể nghiên cứu thử nghiệm cơ chế đặt hàng hoặc mua sản phẩm ĐMST của doanh nghiệp, tạo thị trường đầu ra cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Cần tiếp tục hoàn thiện và đơn giản hóa các thủ tục giải ngân tại các Quỹ tài chính hỗ trợ DNNVV, áp dụng mức lãi suất ưu đãi thấp khoảng 2-3% và thời hạn cho vay dài.

Thứ ba, cần có các cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp tham gia vào các chuỗi giá trị (cả trong và ngoài nước), nhằm tạo cầu cho hoạt động KHCN và ĐMST. Ngoài ra, cần có chính sách nhằm thay đổi cấu trúc nền kinh tế để doanh nghiệp có động lực đầu tư cho KHCN và ĐMST thay vì tìm kiếm lợi ích từ hoạt động đầu cơ bất động sản.

Thứ tư, phát triển thị trường vốn cho đổi mới sáng tạo.

Các hoạt động KHCN và ĐMST có đặc điểm rủi ro cao, tài sản hữu hình thấp, thời gian hoàn vốn dài, nên không thể chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng. Vì vậy, cần phát triển mạnh các quỹ đầu tư mạo hiểm. Đồng thời, cần phát triển thị trường vốn cho startup và doanh nghiệp công nghệ và tạo cơ chế thoái vốn rõ ràng cho nhà đầu tư.

Thứ năm, huy động nguồn lực từ FDI gắn với R&D và chuyển giao công nghệ.

Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vốn cần nhanh chóng được cụ thể hóa thành các chính sách và quy định cụ thể trong thực thi.

Thứ sáu, Việt Nam cần tiếp tục cải thiện các chính sách khác như thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm KHCN, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đầu tư cho đào tạo nhân lực…

Tài liệu tham khảo:

  1. Báo Nhân Dân (2025). Chi tiêu hiệu quả cho khoa học - công nghệ. https://nhandan.vn/chi-tieu-hieu-qua-cho-khoa-hoc-cong-nghe-post880988.html
  2. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
  3. Bộ Khoa học và Công nghệ (2024). Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam 2024. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật.
  4. Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam 2025. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật.
  5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Nghị quyết số 19-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
  6. Lưu H. Trang và cộng sự. (2025). Đánh giá tác động của chính sách tài chính đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam (Báo cáo tổng hợp đề tài NCKH cấp Bộ, mã số ĐT/2025-48).
  7. OECD & World Bank. (2014). Science, technology and innovation in Viet Nam: OECD Reviews of Innovation Policy. OECD Publishing.
  8. Romer, P. M. (1990). Endogenous technical change. Journal of Political Economy, 98(5), S71–S101. https://doi. org/10.1086/261725
  9. Schumpeter, J. A. (2014). Capitalism, socialism and democracy (2nd ed.). Impact Books. (Original work published 1942).
  10. Solow, R. M. (1957). Technical change and the aggregate production function. The Review of Economics and Statistics, 39(3), 312–320. https://doi.org/10.2307/1926047
  11. WIPO. (2025). Global innovation index 2025: Vietnam country profile. https://www.wipo.int/edocs/gii-ranking/2025/vn.pdf
  12. World Bank (2021). Vietnam: Science, technology, and innovation report 2020. World Bank Group.
  13. World Bank (2025). Nurturing Viet Nam’s High-tech Talents. World Bank Group.
Bài đã đăng Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in số kỳ 1 tháng 9/2026

Tin tức khác

Bài 1: Khai mở không gian tăng trưởng 2 con số

Bài 1: Khai mở không gian tăng trưởng 2 con số

Mục tiêu tăng trưởng 2 con số không chỉ cần thêm vốn hay mở rộng sản xuất, mà đòi hỏi Thành phố mở ra các không gian kinh tế mới dựa trên tri thức, công nghệ và dịch vụ giá trị cao.
Việt Nam - Ba Lan: Hiện thực hóa quan hệ Đối tác chiến lược bằng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư

Việt Nam - Ba Lan: Hiện thực hóa quan hệ Đối tác chiến lược bằng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư

Việc Việt Nam và Ba Lan nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược mở ra cơ hội thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư.
Đổi mới thể chế: Năng lực thực thi quyết định sức bật phát triển

Đổi mới thể chế: Năng lực thực thi quyết định sức bật phát triển

Theo GS.TS. Hoàng Văn Cường, chính sách cần môi trường thể chế đồng bộ, vì điểm nghẽn đang dịch chuyển từ thể chế, chính sách sang năng lực tổ chức thực thi.
Hà Nội tạo động lực tăng trưởng mới, nâng tầm du lịch văn hóa, di sản và sự kiện quốc tế

Hà Nội tạo động lực tăng trưởng mới, nâng tầm du lịch văn hóa, di sản và sự kiện quốc tế

Hà Nội từng bước định hình phát triển du lịch dựa trên giá trị văn hóa, di sản, công nghiệp sáng tạo, công nghệ số và đến năm 2030 đón 47-50,5 triệu lượt khách.
Giải bài toán tăng trưởng 2 con số: GDP cần được tạo ra từ đâu?

Giải bài toán tăng trưởng 2 con số: GDP cần được tạo ra từ đâu?

GDP tăng 9,01% trong 9 tháng đầu năm 2026, tiến gần hơn mục tiêu tăng trưởng 2 con số, song bước nhảy tiếp theo đòi hỏi nhiều hơn việc bổ sung vốn.
Lãnh đạo các tập đoàn kinh tế hiến kế hút vốn cho các dự án hạ tầng

Lãnh đạo các tập đoàn kinh tế hiến kế hút vốn cho các dự án hạ tầng

Lãnh đạo các tập đoàn kinh tế trong và ngoài nước đã chia sẻ nhiều giải pháp, sáng kiến để TP. Hồ Chí Minh thu hút nguồn vốn cho các dự án.
Vốn ngoại vượt 50 tỷ USD, VIFC-HCMC cần điều hướng vào ngành giá trị cao

Vốn ngoại vượt 50 tỷ USD, VIFC-HCMC cần điều hướng vào ngành giá trị cao

Vốn ngoại đăng ký 9 tháng đạt 50,36 tỷ USD nhưng khu vực FDI chiếm 80,7% xuất khẩu, đặt yêu cầu VIFC-HCMC điều hướng dòng vốn vào ngành giá trị gia tăng cao.
TP. Hồ Chí Minh sẵn sàng đón dòng vốn thế hệ mới

TP. Hồ Chí Minh sẵn sàng đón dòng vốn thế hệ mới

TP. Hồ Chí Minh xác định ưu tiên các dòng vốn chất lượng cao, tập trung vào tài chính, công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế xanh, phát triển bền vững và đổi mới sáng tạo.
Xem thêm
pocast dong tien chung khoan dang tim den nhung nhom nganh nao

POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?

Sau 4 tuần giảm liên tiếp, VN-Index vừa có tuần tăng 4%, đóng cửa phiên ngày 23/10 ở 1.774 điểm. Thị trường chứng khoán đã hồi phục, nhưng câu hỏi nhiều nhà đầu tư vẫn đặt ra là: tiền đang chảy vào đâu? Câu trả lời không nằm hết ở chỉ số chung. Phía sau mỗi nhịp tăng, giảm là lựa chọn của dòng vốn, dựa trên lợi nhuận và câu chuyện riêng của từng doanh nghiệp. --------------------------------- Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
podcast tai khoa nam 2027 truoc yeu cau tang truong cao va bao dam an ninh tai chinh quoc gia

PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia

Bộ Tài chính vừa công khai Báo cáo dự toán ngân sách nhà nước năm 2027 Chính phủ trình Quốc hội. Trong đó, định hướng điều hành tài chính - ngân sách tiếp tục tập trung giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao hiệu quả phân bổ, sử dụng nguồn lực, tạo động lực thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
video giai ngan von dau tu cong dat 64 6

VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%

Theo báo cáo mới nhất từ Bộ Tài chính, tính đến hết ngày 15/10/2026, lũy kế giải ngân vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước trên toàn quốc đã đạt 660.739,5 tỷ đồng, tương đương 64,6% kế hoạch do Thủ tướng Chính phủ giao. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
video hanh trinh 30 nam nganh chung khoan viet nam

VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam

Ngày 28 tháng 11 năm 1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 75/CP, thành lập Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Một cơ quan quản lý nhà nước ra đời để chuẩn bị cho một thị trường còn chưa hiện hữu tại Việt Nam. 30 năm sau, thị trường đã kết nối nguồn vốn với nhu cầu đầu tư, đồng hành cùng doanh nghiệp và mở rộng cơ hội tham gia cho hàng triệu nhà đầu tư. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: / www.financeplus.vn TikTok: / tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: / @kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày. --------------------------------------
video thu ngan sach gan 400 000 ty dong nganh hai quan tang toc so hoa cho chang nuoc rut 2026

VIDEO: Thu ngân sách gần 400.000 tỷ đồng: Ngành Hải quan tăng tốc số hóa cho chặng nước rút 2026

Ngành Hải quan vừa ghi nhận những kết quả vô cùng ấn tượng trong 9 tháng năm 2026 khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt mốc 888,03 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước. ---------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
Việt Nam - Ba Lan: Hiện thực hóa quan hệ Đối tác chiến lược bằng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư

Việt Nam - Ba Lan: Hiện thực hóa quan hệ Đối tác chiến lược bằng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư

Việc Việt Nam và Ba Lan nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược mở ra cơ hội thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn sẽ trả lời chất vấn trước Quốc hội

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn sẽ trả lời chất vấn trước Quốc hội

Theo chương trình dự kiến, ngày 12/11/2026, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn sẽ trả lời chất vấn trước Quốc hội.
Bài 1: Tăng trưởng thực chất - Sức bật phía sau những con số ấn tượng

Bài 1: Tăng trưởng thực chất - Sức bật phía sau những con số ấn tượng

Nguyên tắc tăng trưởng thực chất, không đánh đổi chất lượng và tính bền vững lấy tốc độ được Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh tại Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV chính là “kim chỉ nam” để hiện thực hóa mục tiêu của Đảng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Bỏ giấy phép nhưng không được bỏ trống trách nhiệm quản lý

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Bỏ giấy phép nhưng không được bỏ trống trách nhiệm quản lý

Thảo luận về 2 dự án luật liên quan đến an ninh quốc gia, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu cắt giảm thủ tục hành chính phải đi đôi với nâng cao khả năng kiểm soát an toàn.
Tổ chức, cá nhân kinh doanh phải chủ động hoàn tiền thu thừa do đo lường sai

Tổ chức, cá nhân kinh doanh phải chủ động hoàn tiền thu thừa do đo lường sai

Đại biểu Quốc hội đề nghị quy định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc chủ động hoàn trả khoản tiền thu vượt khi xác định có sai phạm về đo lường.
Ngăn tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi” trong kiểm định đo lường

Ngăn tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi” trong kiểm định đo lường

Giải trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cho biết, dự thảo đã bổ sung yêu cầu kiểm soát xung đột lợi ích đối với tổ chức được chỉ định kiểm định.
Đề xuất phạt vi phạm hành chính tới 3 tỷ đồng, bổ sung nhiều biện pháp cưỡng chế

Đề xuất phạt vi phạm hành chính tới 3 tỷ đồng, bổ sung nhiều biện pháp cưỡng chế

Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) đề xuất nâng mức phạt tiền tối đa lên 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân, 3 tỷ đồng đối với tổ chức, đồng thời bổ sung nhiều biện pháp cưỡng chế.
Việt Nam - EU và Bỉ: Dấu ấn chuyến thăm, mở rộng không gian hợp tác phát triển

Việt Nam - EU và Bỉ: Dấu ấn chuyến thăm, mở rộng không gian hợp tác phát triển

Chuyến thăm chính thức EU và Bỉ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã kết thúc tốt đẹp, ghi dấu những kết quả quan trọng về chính trị, ngoại giao, kinh tế.
Bộ Tài chính và loạt nhiệm vụ trọng tâm: Bảo đảm nguồn lực cho các mục tiêu phát triển

Bộ Tài chính và loạt nhiệm vụ trọng tâm: Bảo đảm nguồn lực cho các mục tiêu phát triển

Trong tuần qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục giao Bộ Tài chính nhiều nhiệm vụ quan trọng, tập trung vào bố trí nguồn lực thực hiện các quy hoạch, chương trình phát triển, xây dựng cơ chế tài chính thu hút nhân tài và bảo đảm kinh phí cho những
Bài 1: Khai mở không gian tăng trưởng 2 con số

Bài 1: Khai mở không gian tăng trưởng 2 con số

Mục tiêu tăng trưởng 2 con số không chỉ cần thêm vốn hay mở rộng sản xuất, mà đòi hỏi Thành phố mở ra các không gian kinh tế mới dựa trên tri thức, công nghệ và dịch vụ giá trị cao.
Việt Nam - Ba Lan: Hiện thực hóa quan hệ Đối tác chiến lược bằng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư

Việt Nam - Ba Lan: Hiện thực hóa quan hệ Đối tác chiến lược bằng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư

Việc Việt Nam và Ba Lan nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược mở ra cơ hội thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư.
Đổi mới thể chế: Năng lực thực thi quyết định sức bật phát triển

Đổi mới thể chế: Năng lực thực thi quyết định sức bật phát triển

Theo GS.TS. Hoàng Văn Cường, chính sách cần môi trường thể chế đồng bộ, vì điểm nghẽn đang dịch chuyển từ thể chế, chính sách sang năng lực tổ chức thực thi.
Hà Nội tạo động lực tăng trưởng mới, nâng tầm du lịch văn hóa, di sản và sự kiện quốc tế

Hà Nội tạo động lực tăng trưởng mới, nâng tầm du lịch văn hóa, di sản và sự kiện quốc tế

Hà Nội từng bước định hình phát triển du lịch dựa trên giá trị văn hóa, di sản, công nghiệp sáng tạo, công nghệ số và đến năm 2030 đón 47-50,5 triệu lượt khách.
Giải bài toán tăng trưởng 2 con số: GDP cần được tạo ra từ đâu?

Giải bài toán tăng trưởng 2 con số: GDP cần được tạo ra từ đâu?

GDP tăng 9,01% trong 9 tháng đầu năm 2026, tiến gần hơn mục tiêu tăng trưởng 2 con số, song bước nhảy tiếp theo đòi hỏi nhiều hơn việc bổ sung vốn.
Lãnh đạo các tập đoàn kinh tế hiến kế hút vốn cho các dự án hạ tầng

Lãnh đạo các tập đoàn kinh tế hiến kế hút vốn cho các dự án hạ tầng

Lãnh đạo các tập đoàn kinh tế trong và ngoài nước đã chia sẻ nhiều giải pháp, sáng kiến để TP. Hồ Chí Minh thu hút nguồn vốn cho các dự án.
Vốn ngoại vượt 50 tỷ USD, VIFC-HCMC cần điều hướng vào ngành giá trị cao

Vốn ngoại vượt 50 tỷ USD, VIFC-HCMC cần điều hướng vào ngành giá trị cao

Vốn ngoại đăng ký 9 tháng đạt 50,36 tỷ USD nhưng khu vực FDI chiếm 80,7% xuất khẩu, đặt yêu cầu VIFC-HCMC điều hướng dòng vốn vào ngành giá trị gia tăng cao.
TP. Hồ Chí Minh sẵn sàng đón dòng vốn thế hệ mới

TP. Hồ Chí Minh sẵn sàng đón dòng vốn thế hệ mới

TP. Hồ Chí Minh xác định ưu tiên các dòng vốn chất lượng cao, tập trung vào tài chính, công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế xanh, phát triển bền vững và đổi mới sáng tạo.
Bài 1: Tăng trưởng thực chất - Sức bật phía sau những con số ấn tượng

Bài 1: Tăng trưởng thực chất - Sức bật phía sau những con số ấn tượng

Nguyên tắc tăng trưởng thực chất, không đánh đổi chất lượng và tính bền vững lấy tốc độ được Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh tại Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV chính là “kim chỉ nam” để hiện thực hóa mục tiêu của Đảng.