Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045
ThS.Phạm Thị Thanh Tâm
Phó Vụ trưởng, Vụ Các định chế tài chính, Bộ Tài chính
ThS.Võ Lê Phương
Chuyên viên, Vụ Các định chế tài chính, Bộ Tài chính
Email: [email protected]
ThS.Lê Ngọc Chi
Phó Trưởng phòng, Vụ Các định chế tài chính, Bộ Tài chính
ThS.Hoàng Ngọc Lân
Chuyên viên, Vụ Các định chế tài chính, Bộ Tài chính
ThS.Đồng Phan Mỹ Linh
Chuyên viên, Vụ Các định chế tài chính, Bộ Tài chính
TỪ MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG CAO ĐẾN YÊU CẦU CẢI CÁCH THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Nghị quyết Đại hội XIV xác định mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, đến năm 2030 đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân giai đoạn 2026-2030 phấn đấu đạt từ 10%/năm trở lên. Mục tiêu tăng trưởng ở mức cao và liên tục đặt ra yêu cầu rất lớn đối với việc huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, qua đó đòi hỏi thị trường tài chính phải phát huy mạnh hơn vai trò cung ứng và dẫn dắt dòng vốn cho nền kinh tế.
Trong giai đoạn vừa qua, Chính phủ đã triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp về xây dựng, hoàn thiện cơ chế chính sách và điều hành để thị trường tài chính huy động và phân bổ các nguồn lực cho phát triển kinh tế, vận hành công khai, minh bạch, hiệu quả hơn. Theo đó, thị trường chứng khoán mở rộng về quy mô, thanh khoản và được FTSE Russell thông báo đủ điều kiện nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp vào tháng 10/2025; đến ngày 30/6/2026, quy mô thị trường cổ phiếu đạt khoảng 10,57 triệu tỷ đồng (82,3% GDP năm 2025), thị trường trái phiếu đạt khoảng 3,77 triệu tỷ đồng (32,8% GDP năm 2025). Tín dụng ngân hàng giai đoạn 2021-2025 tăng bình quân khoảng 15,13%/năm, dư nợ cuối tháng 6/2026 đạt gần 19,97 triệu tỷ đồng; tổng tài sản hệ thống các tổ chức tín dụng cuối năm 2025 đạt 28.812,9 nghìn tỷ đồng. Thị trường bảo hiểm tăng bình quân khoảng 14,6%, tổng doanh thu phí năm 2025 đạt 237.485 tỷ đồng. Các thị trường mới đang được thúc đẩy, gồm thí điểm thị trường tài sản mã hóa, vận hành sàn giao dịch carbon từ ngày 29/6/2026 và triển khai Trung tâm tài chính quốc tế đạt một số kết quả ban đầu.
Bên cạnh kết quả đạt được, thị trường tài chính vẫn còn một số hạn chế: (i) tín dụng ngân hàng vẫn là kênh huy động vốn chính cho nền kinh tế; tỷ lệ an toàn vốn của các tổ chức tín dụng, nhất là nhóm ngân hàng thương mại, còn thấp so với khu vực ASEAN, quy mô nợ xấu có xu hướng gia tăng; (ii) trên thị trường vốn, sản phẩm, hàng hóa chưa thực sự đa dạng; nhà đầu tư cá nhân chiếm tỷ trọng lớn, thiếu nhà đầu tư tổ chức có tiềm lực mạnh; các định chế trung gian còn hạn chế về năng lực tài chính và chất lượng dịch vụ; (iii) thị trường bảo hiểm còn nhỏ, tỷ lệ doanh thu so với GDP thấp hơn mức trung bình ASEAN; danh mục đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm thiếu đa dạng, chưa tương đồng giữa tài sản đầu tư và trách nhiệm dài hạn; (iv) sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý chưa nhịp nhàng, đồng bộ tại một số thời điểm; (v) công tác quản lý, giám sát, thanh tra, kiểm tra cần thực chất và chủ động hơn để phát hiện, xử lý nghiêm vi phạm.
Xuất phát từ nhu cầu đánh giá toàn diện tình hình thị trường, triển khai Kết luận số 18-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, vay trả nợ công và đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030, gắn với mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”, Bộ Tài chính đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1413/QĐ-TTg ngày 27/7/2026 phê duyệt Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045. Đề án xác định quan điểm, định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và lộ trình phát triển thị trường tài chính trên cơ sở đánh giá thực trạng từng cấu phần, gồm thị trường tiền tệ - ngân hàng, thị trường vốn (thị trường cổ phiếu, trái phiếu, chứng khoán phái sinh), thị trường bảo hiểm và một số thị trường mới hình thành (thị trường tài sản mã hóa, thị trường carbon) trong giai đoạn 2021-2025 và các tháng đầu năm 2026, đồng thời tổng hợp kinh nghiệm quốc tế, phân tích bối cảnh và dự báo xu hướng, nhu cầu phát triển trong giai đoạn tới.
ĐỊNH HƯỚNG CẢI CÁCH VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Ba trụ cột định hướng cải cách
Hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam phải chuyển đổi mạnh mẽ mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững, dựa trên đổi mới sáng tạo. Trong tiến trình đó, cải cách thị trường tài chính giữ vai trò trung tâm trong huy động, phân bổ và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực xã hội. Thị trường tài chính không chỉ cung ứng vốn thụ động mà cần trở thành hệ sinh thái hiện đại, dẫn dắt và điều tiết nguồn lực tối ưu, làm nền tảng thúc đẩy tăng trưởng dài hạn, ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trên cơ sở đó, cải cách thị trường tài chính trong thời gian tới được định hướng theo 3 nhóm quan điểm và nguyên tắc cơ bản.
Một là, cải cách thị trường tài chính đặt trong tổng thể cải cách nền kinh tế, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đến năm 2045, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng bộ với các cải cách khác (doanh nghiệp, đất đai, lao động, hành chính). Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, khả năng quản trị rủi ro, an toàn hệ thống tài chính và chủ quyền an ninh tài chính - tiền tệ quốc gia, nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc từ trong nước, quốc tế.
Hai là, lấy cải cách thể chế là trụ cột nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường tài chính, tăng cường tính công khai, minh bạch và hiệu lực quản lý, giám sát của nhà nước; huy động tối đa các nguồn lực từ khu vực tư nhân, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế cho đầu tư phát triển nền kinh tế. Thực hiện cải cách thị trường tài chính theo lộ trình với bước đi phù hợp; thực hiện thí điểm, tổng kết, đánh giá kịp thời; không cầu toàn nhưng kiên định mục tiêu trong dài hạn.
Ba là, phát triển thị trường tài chính cân bằng hơn về cơ cấu, giảm phụ thuộc vào thị trường tín dụng ngân hàng; có sự liên kết giữa các cấu phần của thị trường. Nâng cấp, đổi mới cơ sở hạ tầng thị trường để hỗ trợ phát triển các sản phẩm mới; thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo.
Hướng tới một thị trường tài chính hiện đại và cân bằng
Mục tiêu đặt ra là xây dựng thị trường tài chính Việt Nam phát triển đồng bộ, hiện đại và hội nhập với khu vực, thế giới; có cấu trúc cân đối, hợp lý, huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực trong và ngoài nước cho phát triển kinh tế - xã hội; phát huy vai trò cung ứng vốn trung, dài hạn; là động lực thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045. Phấn đấu đến năm 2045, thị trường tài chính Việt Nam có trình độ phát triển cao, vận hành theo nguyên tắc thị trường, có hệ thống thể chế, hạ tầng, sản phẩm, nhà đầu tư và cơ chế quản lý giám sát đạt chuẩn quốc tế. Trong đó, thị trường chứng khoán giữ vai trò trọng yếu, hệ thống ngân hàng an toàn, hiện đại, thị trường bảo hiểm bền vững; Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam từng bước trở thành cấu phần quan trọng kết nối dòng vốn, dịch vụ và các định chế tài chính khu vực.
Theo định hướng này, thị trường tài chính được định hướng phát triển thị trường cân bằng về cơ cấu, có liên kết, hỗ trợ giữa các cấu phần; đưa thị trường vốn trong nước thành kênh huy động vốn trung, dài hạn quan trọng, giảm phụ thuộc tín dụng ngân hàng. Hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, nâng cao chất lượng tín dụng, phát triển ngân hàng số, tài chính toàn diện, bảo đảm an toàn hệ thống tổ chức tín dụng. Phát triển thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn, bền vững. Đồng thời, đổi mới toàn diện cơ chế quản lý giám sát, xác định đầy đủ đối tượng, hành vi để có phương thức phù hợp, bảo đảm an toàn, an ninh tài chính quốc gia.
Để cụ thể hóa các định hướng trên, một số mục tiêu cụ thể đặt ra trong giai đoạn tiếp theo như sau:
- Duy trì xếp hạng thị trường chứng khoán theo tiêu chuẩn FTSE Russell và đáp ứng các tiêu chí nâng hạng lên thị trường mới nổi của MSCI và thị trường mới nổi bậc cao của FTSE Russell từ nay đến năm 2030.
- Phấn đấu trong giai đoạn 2026-2030: Giá trị huy động vốn trên thị trường vốn đạt bình quân 2 triệu tỷ đồng/năm; Phấn đấu trong giai đoạn 2031-2045: quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán đạt 120%GDP vào năm 2045; quy mô dư nợ thị trường trái phiếu đạt 60%GDP vào năm 2045.
- Phấn đấu đến năm 2030, giá trị tài sản đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường vốn, thị trường chứng khoán đạt khoảng 15%GDP; tổng giá trị tài sản ròng của các quỹ đầu tư chứng khoán đạt 5%GDP.
- Đến năm 2030, 100% ngân hàng thương mại áp dụng các tỷ lệ đảm bảo an toàn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, tiệm cận chuẩn Basel III.
- Phấn đấu đến năm 2030, quy mô doanh thu thị trường bảo hiểm đạt khoảng 3,3%-3,5% GDP. Phấn đấu trong giai đoạn 2026-2045: doanh thu ngành bảo hiểm tăng trưởng bình quân 6-8%/năm.
- Thiết lập hạ tầng thanh toán hiện đại, đồng bộ, hoạt động thông suốt, tự chủ, có kết nối với hệ thống thanh toán song phương và đa phương với các đối tác, khu vực và thế giới chậm nhất vào năm 2028. Triển khai thực hiện cơ chế đối tác bù trừ trung tâm trên thị trường chứng khoán cơ sở trong năm 2027.
- Vận hành hiệu quả Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng theo mô hình “một trung tâm, hai điểm đến”, hướng tới mục tiêu phát triển đạt cấp khu vực vào năm 2035 và quốc tế vào năm 2045.
8 NHÓM GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM
Để triển khai các mục tiêu trên, Đề án đề xuất thực hiện đồng bộ 8 nhóm giải pháp cải cách tổng thể thị trường tài chính như sau:
Một là, hoàn thiện thể chế chính sách
Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các luật chuyên ngành về chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm, tài sản mã hóa, trung tâm tài chính quốc tế; xây dựng chiến lược ngành cho giai đoạn 2026-2030 và tầm nhìn đến 2045. Nghiên cứu tính khả thi xây dựng luật khung về quản lý giám sát thị trường tài chính và dịch vụ tài chính theo hướng quản lý theo hoạt động, nâng cao hiệu quả giám sát liên thông, gắn giám sát tài chính với giám sát an toàn vĩ mô và phân định rõ chức năng giữa các cơ quan.
Hai là, đa dạng và nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa
- Với thị trường vốn: Đẩy mạnh IPO gắn với niêm yết, rút ngắn thời gian chờ giao dịch sau phát hành; khuyến khích tập đoàn tư nhân, doanh nghiệp FDI lớn lên sàn; đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước gắn với niêm yết; nâng cao quản trị công ty theo thông lệ quốc tế. Đa dạng hóa sản phẩm trái phiếu như trái phiếu doanh nghiệp cho dự án, dự án đối tác công tư (PPP) để phát triển hạ tầng; phát triển trái phiếu xanh, bền vững; nâng định mức tín nhiệm quốc gia để thu hút nhà đầu tư nước ngoài, giảm chi phí vốn. Phát triển sản phẩm mới như hợp đồng quyền chọn chỉ số chứng khoán (dự kiến năm 2027); triển khai thị trường tài sản mã hóa, sàn carbon trong nước, thị trường giao dịch chuyên biệt cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (dự kiến ra mắt đầu năm 2027).
- Với thị trường tín dụng ngân hàng: Đẩy mạnh ngân hàng số, ngân hàng đại lý và phát triển các sản phẩm, dịch vụ tài chính hướng tới phục vụ người dân và doanh nghiệp; Hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên (trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa) và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, thúc đẩy tín dụng xanh, góp phần chuyển đổi nền kinh tế sang hướng tăng trưởng xanh, phát thải carbon thấp, thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Với thị trường bảo hiểm: Nghiên cứu, đề xuất cơ chế thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong lĩnh vực bảo hiểm; nghiên cứu khả năng triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) đối với một số mô hình kinh doanh bảo hiểm ứng dụng công nghệ mới phù hợp; Phát triển hệ sinh thái các sản phẩm bảo hiểm phục vụ an sinh xã hội, thích ứng già hóa dân số; Khuyến khích phát triển sản phẩm bảo hiểm cho các rủi ro mới của nền kinh tế số và biến đổi khí hậu.
Ba là, phát triển cơ sở nhà đầu tư
Mở rộng cơ sở nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư tổ chức trong nước; thúc đẩy nhà đầu tư nước ngoài; nâng cao chất lượng nhà đầu tư cá nhân; phát triển hệ thống quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, tăng sự tham gia của nhà đầu tư tổ chức (ngân hàng thương mại, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, doanh nghiệp bảo hiểm...).
Bốn là, phát triển các định chế trung gian, tổ chức cung cấp dịch vụ
Tiếp tục tái cấu trúc để nâng cao năng lực tài chính, chất lượng hoạt động của hệ thống tổ chức tín dụng, tổ chức kinh doanh chứng khoán, doanh nghiệp bảo hiểm; tăng cường năng lực của Công ty TNHH Một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC); thúc đẩy dịch vụ xếp hạng tín nhiệm; nâng cao chất lượng kế toán, kiểm toán.
Năm là, hoàn thiện cơ sở hạ tầng thị trường và tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ
Hiện đại hóa hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, hệ thống giao dịch, thanh toán bù trừ chứng khoán; phát triển Fintech, công ty công nghệ bảo hiểm; áp dụng AI, blockchain trong giám sát; kết nối dữ liệu giữa Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Công an phục vụ quản lý giám sát.
Sáu là, nâng cao hiệu quả quản lý giám sát, điều hành thị trường
Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô. Đổi mới công tác giám sát theo hướng chuyển từ giám sát tuân thủ sang giám sát trên cơ sở rủi ro, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data); hoàn thiện mô hình giám sát kết hợp giám sát theo chức năng với giám sát liên thông giữa lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm; giám sát luân chuyển dòng vốn qua các định chế trung gian, góp phần phòng, chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố và ngăn chặn rủi ro lan truyền.
Bảy là, thúc đẩy hội nhập tài chính
Triển khai công tác đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế một cách toàn diện, hiệu quả, phù hợp với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Chính phủ, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh, an toàn hệ thống tài chính, tiền tệ - ngân hàng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về an ninh, an toàn tài chính, nâng cao năng lực cạnh tranh và quản trị rủi ro. Thực hiện các giải pháp duy trì và nâng hạng thị trường chứng khoán. Triển khai Trung tâm tài chính quốc tế; đẩy mạnh hợp tác, hội nhập với thị trường tài chính thế giới và hoàn thiện hạ tầng pháp lý phục vụ Trung tâm tài chính quốc tế.
Tám là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tài chính và phổ cập kiến thức tài chính
Xây dựng Đề án phát triển nguồn nhân lực tài chính chất lượng cao gắn với các trường đại học trọng điểm và hợp tác quốc tế; triển khai Chiến lược tài chính bao trùm và phổ cập kiến thức tài chính cho người dân; hoàn thiện cơ chế bảo vệ người tiêu dùng tài chính.
LỘ TRÌNH CẢI CÁCH TỚI NĂM 2045
Để bảo đảm các giải pháp cải cách được triển khai theo đúng định hướng và mục tiêu đề ra, Đề án xác định lộ trình thực hiện theo ba giai đoạn:
- Giai đoạn 2026-2030: tập trung hoàn thiện thể chế, khung pháp lý; cơ cấu lại các tổ chức tín dụng yếu kém; nâng hạng thị trường chứng khoán; nâng cao năng lực các doanh nghiệp bảo hiểm; triển khai trung tâm tài chính; xây dựng hạ tầng tài chính ổn định, đồng bộ.
- Giai đoạn 2031-2035: phát triển thị trường theo chiều sâu và tăng cường hội nhập quốc tế; tập trung phát triển thị trường vốn, hệ thống quỹ đầu tư, quỹ hưu trí; tự do hóa từng phần tài khoản vốn; phát triển các sản phẩm tài chính xanh, tài chính bền vững.
- Giai đoạn 2036-2045: thiết lập thị trường tài chính tiên tiến, hiện đại, ngang tầm khu vực; Trung tâm tài chính TP. Hồ Chí Minh trở thành trung tâm tài chính quốc tế cạnh tranh.
Trên cơ sở các giải pháp cụ thể, Quyết định số 1413/ QĐ-TTg đã giao nhiệm vụ với sản phẩm đầu ra, tiến độ triển khai cũng như trách nhiệm triển khai của từng bộ, ngành. Việc triển khai thành công Đề án đòi hỏi sự phối hợp, kết nối chặt chẽ giữa các cấu phần của thị trường: chính sách tiền tệ linh hoạt phối hợp với chính sách tài khóa mở rộng thận trọng để ổn định kinh tế vĩ mô; thị trường vốn phát triển giúp giảm áp lực cung ứng vốn trung, dài hạn cho hệ thống ngân hàng; hệ thống tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả hỗ trợ phát triển thị trường vốn; hạ tầng thanh toán, bù trừ ổn định, an toàn tạo nền tảng luân chuyển dòng vốn minh bạch. Thành công của Đề án đòi hỏi quyết tâm chính trị cao, sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, sự tham gia tích cực của khu vực tư nhân và sự đồng thuận của xã hội.
Tài liệu tham khảo:
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, vay trả nợ công và đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030, gắn với mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
- Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 1413/QĐ-TTg ngày 27/7/2026 phê duyệt Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045.
- World Bank (2023). Unlocking the potential of Viet Nam’s capital markets.
| Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in kỳ 1 tháng 10/2026 |
Tin tức khác
Thị trường bảo hiểm Việt Nam: Thực trạng, triển vọng và định hướng cải cách
Tài chính doanh nghiệp 24/7: Trung Nam - KITA Group đầu tư hơn 3.354 tỷ đồng, ACB lãi hơn 16.600 tỷ đồng
INFOGRAPHIC: Công khai tiến độ khai thác, xử lý nhà, đất dôi dư
Tăng tính chủ động, giảm thủ tục trong quản lý ngân sách, đầu tư công
Cả nước còn hơn 10.400 cơ sở nhà, đất dôi dư cần tiếp tục xử lý
Bộ Tài chính xây dựng chế độ báo cáo thống kê cấp tỉnh, cấp xã phù hợp mô hình chính quyền hai cấp
INFOGRAPHIC: Mức phí khai thác thông tin Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
VIDEO: Thu ngân sách gần 400.000 tỷ đồng: Ngành Hải quan tăng tốc số hóa cho chặng nước rút 2026
Việt Nam - Ba Lan: Hiện thực hóa quan hệ Đối tác chiến lược bằng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn sẽ trả lời chất vấn trước Quốc hội
Bài 1: Tăng trưởng thực chất - Sức bật phía sau những con số ấn tượng
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Bỏ giấy phép nhưng không được bỏ trống trách nhiệm quản lý
Tổ chức, cá nhân kinh doanh phải chủ động hoàn tiền thu thừa do đo lường sai
Ngăn tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi” trong kiểm định đo lường
Đề xuất phạt vi phạm hành chính tới 3 tỷ đồng, bổ sung nhiều biện pháp cưỡng chế
Việt Nam - EU và Bỉ: Dấu ấn chuyến thăm, mở rộng không gian hợp tác phát triển
Bộ Tài chính và loạt nhiệm vụ trọng tâm: Bảo đảm nguồn lực cho các mục tiêu phát triển
Việt Nam - Ba Lan: Hiện thực hóa quan hệ Đối tác chiến lược bằng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư
Đổi mới thể chế: Năng lực thực thi quyết định sức bật phát triển
Hà Nội tạo động lực tăng trưởng mới, nâng tầm du lịch văn hóa, di sản và sự kiện quốc tế
Giải bài toán tăng trưởng 2 con số: GDP cần được tạo ra từ đâu?
Lãnh đạo các tập đoàn kinh tế hiến kế hút vốn cho các dự án hạ tầng
Vốn ngoại vượt 50 tỷ USD, VIFC-HCMC cần điều hướng vào ngành giá trị cao
TP. Hồ Chí Minh sẵn sàng đón dòng vốn thế hệ mới
Bài 1: Tăng trưởng thực chất - Sức bật phía sau những con số ấn tượng








