Phát huy các nguồn lực thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
![]() |
| Hợp tác công tư sẽ tạo nguồn lực lớn thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. |
Mô hình hợp tác nào là phù hợp?
Trên cơ sở chủ trương tại Nghị quyết số 57-NQ/TW và các nội dung đã được thể chế hóa tại các Luật nêu trên, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 80/2025/NĐ-CP về cơ chế, chính sách hợp tác công tư trong lĩnh vực phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm đẩy mạnh cơ chế hợp tác công tư trong lĩnh vực này, tháo gỡ rào cản, giải phóng nguồn lực. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cơ chế hợp tác công tư trong lĩnh vực phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vẫn còn nhiều trở ngại.
Trong đó, vấn đề đầu tiên mà các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp thường gặp phải là: Áp dụng mô hình hợp tác công tư nào là phù hợp? Thực tế, lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có đặc thù khác biệt rất lớn so với các lĩnh vực truyền thống đã áp dụng cơ chế hợp tác công tư để triển khai nhiều dự án tại Việt Nam (như: đường cao tốc, nhà máy điện, bệnh viện, nhà máy xử lý rác thải….).
Khác với các dự án đầu tư truyền thống, trong đó tài sản hình thành thường là đường, cầu, nhà máy, máy móc, thiết bị, các dự án khoa học, công nghệ và chuyển đổi số thường tạo ra giá trị từ những tài sản không nhìn thấy được, chẳng hạn như dữ liệu, phần mềm, thuật toán, sáng chế, thiết kế, quy trình và bí quyết công nghệ. Các tài sản này có một số đặc điểm cần lưu ý: khó xác định giá trị chính xác, có thể được sử dụng đồng thời cho nhiều mục đích và có thể nhanh chóng thay đổi hoặc trở nên lỗi thời khi công nghệ phát triển.
Vì vậy, giá trị của một dự án công nghệ không nhất thiết tỷ lệ thuận với số tiền đầu tư ban đầu. Một phần mềm hoặc cơ sở dữ liệu có thể tiếp tục tạo ra giá trị, được mở rộng hoặc sử dụng cho nhiều dự án khác sau khi dự án ban đầu kết thúc.
Bên cạnh đó, lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là lĩnh vực có mức độ bất định cao bởi công nghệ phát triển rất nhanh, chu kỳ đổi mới diễn ra nhanh, có thể thay đổi hoặc trở nên lỗi thời chỉ trong vài năm. Trong khi đó, các thỏa thuận hợp tác công tư thường có thời hạn dài. Vì vậy, công nghệ được lựa chọn tại thời điểm thỏa thuận có thể không còn phù hợp trong quá trình thực hiện. Việc cập nhật hoặc thay thế công nghệ có thể phát sinh chi phí lớn và làm thay đổi phương án tài chính, phân bổ rủi ro ban đầu.
Chính sách và pháp luật liên quan đến công nghệ cũng thay đổi nhanh, đặc biệt trong các lĩnh vực như bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng, trí tuệ nhân tạo, giao dịch điện tử, cạnh tranh số và chia sẻ dữ liệu. Điều này làm cho việc dự báo đầy đủ các yêu cầu pháp lý trong một thỏa thuận dài hạn trở nên khó khăn.
Tối ưu hóa hợp tác công tư
Có thể thấy, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không thuộc riêng một ngành, một cơ quan hay một địa phương nào mà liên quan đến nhiều lĩnh vực như giáo dục, y tế, năng lượng, công nghiệp, quản lý nhà nước... Một dự án công nghệ thường cần sự tham gia và phối hợp của nhiều cơ quan nhà nước, địa phương và doanh nghiệp. Đặc biệt, các hạ tầng, nền tảng số thường không hoạt động độc lập mà phải kết nối với các hạ tầng, nền tảng khác thì mới bảo đảm hiệu quả tổng thể, góp phần nâng cấp hạ tầng, nền tảng số của cả quốc gia một cách lâu dài và bền vững.
Trong bối cảnh đó, Bộ Tài chính đã nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện Sổ tay hướng dẫn hợp tác công tư trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tài liệu này tập trung hướng dẫn cách thức xác định mô hình hợp tác công tư, quy trình triển khai hợp tác theo hình thức liên doanh, liên kết và PPP.
Đây là bộ cẩm nang nhằm hỗ trợ các cơ quan, bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp đánh giá, lựa chọn, triển khai mô hình phù hợp cho các thỏa thuận hợp tác giữa khu vực công với khu vực tư nhân thực hiện các dự án, hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Sổ tay cũng giúp khu vực tư nhân hiểu rõ các đặc điểm chính của các hình thức hợp tác công tư, từ đó thiết kế được các mô hình kinh doanh phù hợp để hợp tác với khu vực công.
Bộ Tài chính cũng nhấn mạnh: do đặc thù lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phát triển rất nhanh, liên tục thay đổi, bổ sung kể cả về cơ chế chính sách, quy định pháp luật, công nghệ và các mô hình hợp tác, nên Sổ tay được thiết kế dưới dạng tài liệu mở và sẽ liên tục được cập nhật, chỉnh sửa theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; pháp luật về PPP; pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, các pháp luật có liên quan cũng như bổ sung các kinh nghiệm quốc tế phù hợp với bối cảnh Việt Nam.
Tin tức khác
AI mở dư địa nâng năng suất, tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế
Trí tuệ nhân tạo hiện thân sẽ góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng
Ứng dụng AI: Rút ngắn hành trình, khách hàng chốt đơn nhanh hơn
Ứng dụng kết quả khởi nghiệp sáng tạo vào thực tiễn và nâng cao chất lượng cuộc sống
Tăng cường kết nối thực chất, thúc đẩy hệ sinh thái công nghiệp bán dẫn Việt Nam
TP. Hồ Chí Minh thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo lĩnh vực du lịch
TP. Hồ Chí Minh hợp tác với Plug and Play xây dựng Trung tâm Xuất sắc về trí tuệ nhân tạo
VIDEO: Gia hạn ưu đãi thuế ô tô đến năm 2032: "Cú hích" thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu xe Việt
VIDEO: Mở rộng kênh dẫn vốn cho giai đoạn tăng trưởng mới
PODCAST: Bức tranh tăng trưởng GRDP 9 tháng năm 2026: Những “cú bứt tốc” đáng chú ý
PODCAST: Bộ Tài chính lưu ý 5 nội dung quan trọng trong chấm điểm giải ngân đầu tư công
VIDEO: Giải bài toán chi phí logistics: "Cởi trói" biên lợi nhuận cho hàng xuất khẩu Việt
Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài tăng gấp 3,3 lần so với cùng kỳ
Dư nợ tín dụng đạt 20,75 triệu tỷ đồng, tiếp tục hướng vốn vào các động lực tăng trưởng
Chính phủ kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số, tăng tốc trong 3 tháng cuối năm
Tiếp tục nâng chuẩn thị trường chứng khoán sau nâng hạng
Bộ trưởng Bộ Tài chính: Dồn lực cho các động lực tăng trưởng trong quý IV
Quyết tâm cao, hành động quyết liệt để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Kinh tế 9 tháng năm 2026: Tăng trưởng lan tỏa, nhiều động lực bứt phá
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính
Tinh gọn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, mỗi chủ thể chỉ ban hành 1 hình thức
Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài tăng gấp 3,3 lần so với cùng kỳ
Sức mua cải thiện, tạo nền tảng thúc đẩy thị trường tiêu dùng cuối năm
Giá đầu vào sản xuất tăng, nguồn cung hàng hóa vẫn được bảo đảm
Kích hoạt các động lực tăng trưởng cho chặng nước rút năm 2026
Thu hút đầu tư nước ngoài công phá đỉnh kỷ lục mới, vượt mốc 50 tỷ USD
Xuất nhập khẩu hàng hóa 9 tháng đạt 888,02 tỷ USD
GDP 9 tháng năm 2026 tăng 9,01%, kinh tế Việt Nam dồn lực cho quý nước rút
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng tăng 13,4%








