Thời cơ và thách thức trong phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Trong tiến trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) ngày càng được khẳng định là động lực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam.
Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, sự phát triển của KTTN ở Việt Nam vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và kỳ vọng đặt ra. Tại Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định KTTN là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”, đồng thời đề ra các mục tiêu, định hướng và giải pháp mang tính đột phá để tháo gỡ các điểm nghẽn, giải phóng nguồn lực và tạo môi trường thuận lợi cho khu vực này phát triển trong giai đoạn tới.
Việc hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết số 68-NQ/TW đòi hỏi phải có những nghiên cứu mang tính hệ thống, đánh giá đầy đủ thực trạng, làm rõ các thời cơ và thách thức, cũng như phân tích nguyên nhân của những hạn chế đang tồn tại đối với khu vực KTTN.
Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam: Cơ hội - thách thức song hành
Trong những năm qua, khu vực KTTN ở Việt Nam đã có sự phát triển rõ nét cả về quy mô, phạm vi hoạt động và mức độ đóng góp cho nền kinh tế. Trải qua gần 4 thập niên Đổi mới, KTTN từng bước được khẳng định là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đóng vai trò ngày càng lớn trong tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và huy động các nguồn lực xã hội.
Theo các số liệu tổng hợp, năm 2024, Việt Nam có hơn 940.000 doanh nghiệp tư nhân (DNTN), chiếm 98% tổng số doanh nghiệp cả nước; hơn 5 triệu hộ kinh doanh cá thể và hơn 30.000 hợp tác xã, hoạt động rộng khắp các ngành, lĩnh vực từ công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ đến nông nghiệp và công nghệ cao. Khu vực này đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% lực lượng lao động. Các con số này khẳng định vai trò ngày càng lớn của KTTN, qua đó khẳng định vai trò chủ lực trong tạo việc làm và ổn định xã hội. Khu vực KTTN cũng tham gia tích cực vào các lĩnh vực mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và dịch vụ chất lượng cao, qua đó tạo động lực cho quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững.
![]() |
| TS. Nguyễn Thanh Long, Giảng viên Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. |
TS. Nguyễn Thanh Long, Giảng viên Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, những cải cách mạnh mẽ về thể chế và môi trường kinh doanh trong thời gian qua đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho KTTN phát triển. Sự nhất quán trong chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển KTTN đã tạo ra nền tảng quan trọng để khu vực này phát triển ổn định và dài hạn.
Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư, tài chính và thị trường vốn từng bước được hoàn thiện theo hướng minh bạch, bình đẳng và phù hợp với thông lệ quốc tế. Các thủ tục hành chính liên quan đến đăng ký kinh doanh, đầu tư và tiếp cận thị trường được đơn giản hóa, góp phần giảm chi phí tuân thủ và nâng cao niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp.
Đặc biệt, việc ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW đã tạo ra khuôn khổ chính sách mang tính định hướng chiến lược, củng cố vai trò của KTTN như một động lực quan trọng của nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới. Đây được xem là cơ sở chính trị, pháp lý vững chắc, tạo niềm tin cho cộng đồng DNTN trong việc mở rộng đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh. Sự phát triển của tài chính số, thương mại điện tử và các nền tảng kinh doanh trực tuyến hiện nay còn là chất xúc tác giúp DNTN mở rộng thị trường, giảm chi phí giao dịch, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và khả năng tiếp cận nguồn tài chính đa dạng.
Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Thanh Long, đi cùng vận hội đó là không ít thách thức, rào cản cần sớm được tháo gỡ để khu vực này thực sự vươn lên.
Thứ nhất, phần lớn doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, năng lực tài chính mỏng, khả năng tích lũy thấp, phụ thuộc nhiều vào vốn vay ngắn hạn. Điều này khiến doanh nghiệp dễ bị tổn thương trước những biến động của thị trường và khó có điều kiện đầu tư dài hạn vào đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển thương hiệu.
Thứ hai, khả năng tiếp cận các nguồn lực sản xuất hạn chế, đặc biệt là nguồn lực tài chính và đất đai. Mặc dù hệ thống chính sách tín dụng đã có nhiều cải thiện song DNTN, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn do thiếu tài sản bảo đảm, phương án kinh doanh chưa đáp ứng yêu cầu của các tổ chức tín dụng và chi phí vốn còn ở mức cao. Hơn nữa, đất đai phục vụ sản xuất, kinh doanh vẫn chịu nhiều ràng buộc về thủ tục hành chính, quy hoạch và chi phí, làm gia tăng chi phí đầu vào và hạn chế khả năng mở rộng quy mô của doanh nghiệp.
Thứ ba, còn tình trạng chồng chéo, thiếu nhất quán trong một số quy định pháp luật liên quan đến đầu tư, đất đai, xây dựng và tài chính. Việc thực thi chính sách ở một số địa phương còn chưa đồng đều, làm gia tăng rủi ro pháp lý và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, không chỉ làm ảnh hưởng đến niềm tin của khu vực KTTN mà còn làm giảm hiệu quả của các chủ trương, chính sách của nhà nước đã ban hành.
Thứ tư, năng lực cạnh tranh của DNTN Việt Nam còn hạn chế. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, phần lớn doanh nghiệp khu vực này chưa tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu; liên kết giữa DNTN với khu vực doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn lỏng lẻo. Trình độ quản trị doanh nghiệp, khả năng tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về môi trường, lao động và trách nhiệm xã hội còn chưa cao, khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn khi mở rộng thị trường xuất khẩu và tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Thứ năm, những biến động khó lường của kinh tế thế giới và yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và bền vững đang đặt ra sức ép lớn đối với khu vực KTTN. Việc đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường, phát thải và phát triển bền vững đòi hỏi nguồn lực tài chính và công nghệ đáng kể, trong khi đây lại là điểm yếu của phần lớn DNTN hiện nay. Nếu không có các cơ chế hỗ trợ phù hợp, những thách thức này có thể làm gia tăng khoảng cách phát triển giữa các nhóm doanh nghiệp, ảnh hưởng đến vai trò động lực của KTTN trong thời gian tới.
![]() |
| Những cải cách mạnh mẽ về thể chế và môi trường kinh doanh trong thời gian qua đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển. |
Đánh thức “nội lực” kinh tế tư nhân
Để thúc đẩy khu vực KTTN phát triển hiệu quả và bền vững đòi hỏi một hệ thống giải pháp đồng bộ, tập trung vào hoàn thiện thể chế, cải thiện phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp và phát huy vai trò kiến tạo của Nhà nước. TS. Nguyễn Thanh Long, Giảng viên Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh gợi ý các giải pháp sau:
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo hướng ổn định, minh bạch và nhất quán nhằm giảm thiểu rủi ro chính sách cho khu vực KTTN, củng cố niềm tin của DNTN và tạo nền tảng cho đầu tư dài hạn. Trọng tâm của giải pháp này là rà soát, sửa đổi và đồng bộ hóa các quy định pháp luật liên quan đến đầu tư, đất đai, tài chính và thị trường vốn, bảo đảm quyền tự do kinh doanh và nguyên tắc bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
Hai là, cải thiện mạnh mẽ khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển, đặc biệt là nguồn lực tài chính và đất đai, cho khu vực KTTN. Về tài chính, cần phát triển cân đối giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn, qua đó giảm sự phụ thuộc của DNTN vào tín dụng ngân hàng. Việc mở rộng các kênh huy động vốn trung và dài hạn thông qua thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp và các quỹ đầu tư sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực tài chính và khả năng chống chịu trước các cú sốc kinh tế. Đồng thời, cần có các cơ chế tín dụng phù hợp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, gắn với nâng cao tính minh bạch và chất lượng quản trị doanh.
Ba là, nâng cao năng lực nội tại của DNTN thông qua cải thiện quản trị doanh nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực đổi mới sáng tạo. Nhà nước cần đóng vai trò hỗ trợ thông qua các chương trình đào tạo quản trị hiện đại, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ mới. Việc hoàn thiện hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, gắn kết doanh nghiệp với các cơ sở nghiên cứu và đào tạo sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động và giá trị gia tăng của khu vực KTTN.
Bốn là, thúc đẩy liên kết giữa khu vực KTTN với các khu vực kinh tế khác trong nền kinh tế nhằm tăng cường khả năng lan tỏa và tham gia chuỗi giá trị. Cần có các chính sách cụ thể khuyến khích DNTN tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thông qua cơ chế đấu thầu minh bạch, tiêu chuẩn hóa sản phẩm và hỗ trợ nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Việc phát triển các cụm liên kết ngành và chuỗi giá trị trong nước sẽ giúp DNTN mở rộng thị trường, học hỏi công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh. Bên cạnh đó, cần triển khai các gói tín dụng ưu đãi, chính sách bảo lãnh vốn vay, chuyển giao công nghệ và cơ chế hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ. Hợp tác công - tư, nếu được thiết kế minh bạch, ổn định và lâu dài, sẽ giúp thu hút mạnh dòng vốn đầu tư vào những lĩnh vực khó khăn nhưng có ý nghĩa chiến lược như nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo, du lịch cộng đồng.
Năm là, tăng cường vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước trong việc định hướng và hỗ trợ khu vực KTTN thích ứng với các yêu cầu mới về phát triển bền vững. Cần xây dựng các chính sách hỗ trợ DNTN tiếp cận công nghệ sạch, tài chính xanh và các tiêu chuẩn phát triển bền vững; đồng thời cung cấp thông tin thị trường, tư vấn chính sách và hỗ trợ kỹ thuật, giúp doanh nghiệp giảm chi phí chuyển đổi và nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu của thị trường quốc tế.
Sáu là, bảo đảm tính nhất quán và hiệu quả trong tổ chức thực hiện các chính sách phát triển KTTN. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và địa phương, cũng như cơ chế giám sát, đánh giá thường xuyên để kịp thời điều chỉnh chính sách phù hợp với thực tiễn.
Tin tức khác
Nâng hạng chỉ mở cửa, nội lực doanh nghiệp quyết định dòng vốn
Nhà đầu tư toàn cầu tìm kiếm doanh nghiệp tốt, không phân biệt FDI hay nội địa
Tạo thêm những “đầu tàu” mới cho nguồn thu ngân sách
Thành công của nâng hạng được đo bằng khả năng mở rộng cơ sở nhà đầu tư tổ chức
Nâng hạng thị trường: Mở chuẩn mới cho công ty chứng khoán
Hộ kinh doanh cần một "lối đi" thuận lợi vào khu vực chính thức
Bài 3: Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, khơi thông nguồn lực từ tài sản công
PODCAST: Trợ lý ảo Chatbot đồng hành cùng hộ kinh doanh trên eTax Mobile
VIDEO: Dấu mốc mới với thị trường chứng khoán Việt Nam
PODCAST: Bộ Tài chính gắn hoàn thiện thể chế, điều hành tài khóa với mục tiêu tăng trưởng
VIDEO: Tham gia vào chỉ số thị trường mới nổi của FTSE GEIS - Dấu mốc lịch sử với thị trường tài chính Việt Nam
PODCAST: Thị trường chứng khoán Việt Nam tuần 14-18/9/2026
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hiệp hội Chính sách Đối ngoại Hoa Kỳ
Đẩy nhanh tiến độ xây dựng pháp luật, bảo đảm các luật mới được triển khai đồng bộ
Đổi mới Ngày Văn hóa Việt Nam, lấy người dân làm trung tâm thụ hưởng
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trả lời phỏng vấn kênh truyền hình Bloomberg TV
Tiếp tục cùng những người bạn Hoa Kỳ vun đắp tình bạn, kiến tạo giá trị phát triển
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp Trưởng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ
Luật riêng về giao dịch hàng hóa phái sinh: Phát triển thị trường, phòng ngừa rủi ro
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp Quyền Giám đốc Cơ quan Thương mại và Phát triển Hoa Kỳ (USTDA)
ADB: Nguồn vốn cho tăng trưởng cần tạo thêm năng suất
Kiến tạo không gian phát triển mới, mở dư địa cho tăng trưởng
Tasco rót 500.000 USD vào nền tảng chăm sóc ô tô Bonbon
Quỹ Bình ổn giá xăng dầu: Chủ động nguồn lực, linh hoạt điều hành giá
Bảo đảm nguồn lực để văn hóa trở thành động lực phát triển
Đề xuất mở rộng quyền sử dụng khu vực biển, khơi thông nguồn lực kinh tế biển
Hàng trăm hợp đồng được ký kết qua các chương trình xúc tiến xuất khẩu
Phát triển của ngành du lịch cần được đo bằng giá trị tạo ra cho nền kinh tế










