Nâng chất lượng nguồn nhân lực đại học trước yêu cầu mới
![]() |
| Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu phát biểu chỉ đạo Hội nghị. Ảnh: An Phương |
Giảng viên sau đại học tăng, nhưng chất lượng phải đi cùng năng lực thực chất
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2026 cả nước có 95.198 giảng viên đại học, tăng hơn 9.100 người so với năm 2022, tương đương khoảng 10,6%. Đáng chú ý, cơ cấu đội ngũ đang chuyển dịch rõ theo hướng gia tăng nhân lực có trình độ sau đại học.
Số giảng viên có trình độ tiến sỹ tăng từ 21.170 người năm 2022 lên 29.454 người năm 2026, tăng hơn 8.200 người, tương đương khoảng 39%. Tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sỹ cũng tăng từ 32,6% năm học 2023-2024 lên 34,4% năm 2024-2025 và đạt 36,3% năm học 2025-2026.
Đội ngũ có học hàm, học vị cao cũng tăng. Số giáo sư, tiến sỹ từ 760 người năm 2022 lên 872 người năm 2026. Số phó giáo sư, tiến sỹ tăng từ 5.331 lên 6.833 người. Trong khi đó, giảng viên trình độ thạc sĩ tăng từ 51.302 lên 55.116 người. Ngược lại, số giảng viên có trình độ đại học giảm từ 6.175 xuống còn 2.923 người.
Những con số này cho thấy, chất lượng học thuật của đội ngũ giảng viên đang được cải thiện theo hướng tích cực. Tuy nhiên, bài toán nhân lực đại học không chỉ nằm ở việc tăng số lượng giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ hay thạc sỹ.
Một vấn đề đáng chú ý là số người học trên một giảng viên cơ hữu lại tăng nhanh. Nếu năm học 2023 - 2024 bình quân có 24,3 người học/giảng viên thì đến năm 2024 - 2025 tăng lên 29,6 và năm 2025 - 2026 là 30,1 người. Trong cùng giai đoạn, các trường tuyển mới 646.576 sinh viên đại học chính quy, 54.246 học viên cao học và 5.687 nghiên cứu sinh.
Điều này cho thấy quy mô người học đang tăng nhanh hơn tốc độ bổ sung giảng viên cơ hữu. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục tăng quy mô đội ngũ mà còn phải bảo đảm sự cân đối giữa số lượng, trình độ, ngành đào tạo và năng lực thực tế của từng cơ sở.
Sự chênh lệch về tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sỹ giữa các trường, từ hơn 20% đến 70%, cũng cho thấy nguồn nhân lực chất lượng cao chưa được phân bổ đồng đều. Đội ngũ tiến sỹ, nhà khoa học đầu ngành và chuyên gia quốc tế vẫn tập trung tại một số cơ sở, trong khi năng lực nghiên cứu, chuyển giao và thương mại hóa kết quả khoa học - công nghệ cũng chưa đồng đều.
![]() |
| Đại biểu tham dự chương trình. Ảnh: An Phương |
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc tăng tỷ lệ tiến sỹ cần gắn với năng suất và năng lực thực chất. Hiệu quả công việc cần được nhìn nhận thông qua khối lượng làm việc quy đổi toàn thời gian, hoạt động hướng dẫn sau đại học, công bố khoa học cũng như các sản phẩm chuyển giao.
Đây cũng là lý do Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các cơ sở giáo dục đại học ưu tiên đào tạo, tuyển dụng tiến sỹ ở những ngành còn thiếu, đồng thời gắn phát triển đội ngũ với nhu cầu đào tạo và năng lực nghiên cứu. Bên cạnh trình độ học thuật, giảng viên cần được bồi dưỡng năng lực công nghệ thông tin, chuyển đổi số và khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh của công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo.
Đề án nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý theo Quyết định số 89/QĐ-TTg tiếp tục được triển khai. Đặc biệt, Thông tư số 50/2026/TT-BGDĐT ngày 30/6/2026 hướng dẫn đào tạo tiến sỹ, thạc sỹ cho giảng viên tạo thêm cơ sở để các trường tổ chức đào tạo, phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn mới.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn cho rằng, giáo dục đại học cần trả lời những câu hỏi lớn về sự thay đổi để thích ứng với thời đại mới, nhất là trước sự phát triển của trí tuệ nhân tạo và yêu cầu phát triển đất nước.
Theo ông, thay vì chỉ quan tâm trường sẽ đứng ở vị trí nào, cần đặt câu hỏi về những giá trị mà trường tạo ra cho người học, xã hội và đất nước; lý do người học lựa chọn trường, Nhà nước đầu tư cho trường, hay doanh nghiệp lựa chọn hợp tác với một nhóm nghiên cứu, một cơ sở đào tạo.
Cách tiếp cận này đặt chất lượng nguồn nhân lực trong mối quan hệ rộng hơn với sứ mệnh của từng trường. Một giảng viên có học vị cao không chỉ cần đáp ứng yêu cầu về bằng cấp mà còn phải tạo ra giá trị trong giảng dạy, nghiên cứu, chuyển giao tri thức và đóng góp cho xã hội.
Bảy nhóm nhiệm vụ tạo chuyển biến thực chất
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu khẳng định, những kết quả trong phát triển giáo dục đại học là rất đáng ghi nhận, tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn một số điểm nghẽn. Đơn cử như chất lượng và năng lực giữa các cơ sở còn chênh lệch; sứ mệnh và thế mạnh của nhiều trường chưa thật rõ; một số cơ sở mở ngành, tăng quy mô nhanh hơn khả năng phát triển đội ngũ và các điều kiện bảo đảm chất lượng. Việc dự báo nhu cầu, điều chỉnh quy mô đào tạo, phát triển đội ngũ chất lượng cao và đào tạo sau đại học vẫn còn những khoảng cách so với yêu cầu phát triển...
Phó Thủ tướng cho biết, điều Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đặc biệt quan tâm không chỉ là khắc phục những hạn chế trước mắt, mà là vị thế, năng lực thực sự của giáo dục đại học Việt Nam trong 10 - 20 năm tới và xa hơn. Thước đo cuối cùng phải là chất lượng và đóng góp thực, trong đó người học có năng lực và khả năng thích ứng; đội ngũ sư phạm có sản phẩm và đóng góp; nghiên cứu tạo ra tri thức, công nghệ và giải quyết được những vấn đề từ thực tiễn đất nước.
Để tạo chuyển biến, Chính phủ xác định 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Trong đó, phải chuyển từ hoàn thiện thể chế sang tổ chức thực hiện và tạo kết quả cụ thể. Bộ Giáo dục và Đào tạo được yêu cầu tập trung triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Luật Giáo dục đại học, Chiến lược phát triển giáo dục đại học cùng các cơ chế, chính sách đã ban hành. Trọng tâm là đưa chính sách vào thực tiễn, thay vì dừng ở việc hoàn thiện văn bản.
Đồng thời, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục đại học dựa trên chất lượng và sứ mệnh. Việc tổ chức mạng lưới cần gắn với nhu cầu phát triển ngành, vùng, khả năng liên kết và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
![]() |
| Hội nghị mở ra nhiều định hướng mới cho thúc đẩy giáo dục đại học. Ảnh: An Phương |
Bên cạnh đó, phải lấy chất lượng làm yêu cầu xuyên suốt. Quản trị chất lượng cần chuyển sang dựa trên kết quả đầu ra, tiêu chuẩn, dữ liệu, công khai và hậu kiểm. Các cơ sở đào tạo đồng thời phải chịu trách nhiệm về tính trung thực của dữ liệu và chất lượng đào tạo. Đại học phải đi trước trong chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân lực tinh hoa và nhân tài cho tương lai. Đây là yêu cầu trực tiếp đối với công tác phát triển đội ngũ giảng viên và chương trình đào tạo.
Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp nâng cao năng lực dự báo nhu cầu nhân lực. Kết quả dự báo là cơ sở để điều chỉnh quy mô, cơ cấu đào tạo và thực hiện đặt hàng. Mục tiêu không chỉ đáp ứng nhu cầu nhân lực hiện tại mà còn chuẩn bị năng lực cho những lĩnh vực ưu tiên chiến lược trong tương lai.
Song song đó, các trường cần chủ động tìm kiếm những bài toán từ thực tiễn, tăng khả năng chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và hình thành doanh nghiệp khởi nguồn.
Đây cũng là hướng để nâng cao giá trị của đội ngũ giảng viên, nhà khoa học. Năng lực của một trường không chỉ thể hiện qua số lượng công bố mà còn ở khả năng biến kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, công nghệ và giải pháp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu nhấn mạnh, trong thời gian tới, cần tập trung xây dựng môi trường đào tạo và nghiên cứu có khả năng cạnh tranh quốc tế. Các trường được định hướng mở rộng chương trình đào tạo bằng tiếng Anh và các ngoại ngữ phù hợp, thu hút giảng viên, nhà khoa học, sinh viên quốc tế; tăng cường liên kết nghiên cứu, trao đổi sinh viên, công nhận tín chỉ và phát triển các chương trình hợp tác với cơ sở giáo dục đại học nước ngoài có uy tín...
Tại Hội nghị, nhiều tham luận cũng cho rằng, trong bối cảnh nhu cầu nhân lực chất lượng cao ngày càng tăng và công nghệ thay đổi nhanh, nâng chất lượng đội ngũ đại học vì thế không thể chỉ là câu chuyện tăng số lượng giáo sư, phó giáo sư hay tiến sỹ. Điều quan trọng hơn là hình thành một đội ngũ có năng lực đào tạo, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và thích ứng với những yêu cầu mới.
Khi nguồn lực được phân bổ đúng, tự chủ gắn với trách nhiệm, nghiên cứu gắn với ứng dụng và dữ liệu trở thành nền tảng quản trị, giáo dục đại học có điều kiện chuyển từ tăng trưởng về quy mô sang tạo ra những giá trị thực chất hơn cho người học, xã hội và quá trình phát triển của Đất nước.
Tin tức khác
Bổ sung nhiệm vụ vào Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa
Đưa văn hóa từ tài nguyên tiềm năng thành năng lực cạnh tranh thực tế
Du lịch y tế cần một hệ sinh thái để bứt phá
Nghị quyết số 26-NQ/TW mở đường nâng giá trị, đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn
TP. Hồ Chí Minh nâng sức cạnh tranh từ du lịch MICE
Nhiều doanh nghiệp “vướng” trong việc kê khai giá thiết bị y tế
Ngày Văn hóa Việt Nam 2026 mở rộng không gian thụ hưởng và lan tỏa giá trị Việt
PODCAST: Bức tranh tăng trưởng GRDP 9 tháng năm 2026: Những “cú bứt tốc” đáng chú ý
PODCAST: Bộ Tài chính lưu ý 5 nội dung quan trọng trong chấm điểm giải ngân đầu tư công
VIDEO: Giải bài toán chi phí logistics: "Cởi trói" biên lợi nhuận cho hàng xuất khẩu Việt
VIDEO: Đồng bộ chính sách tài khóa tạo lực đẩy cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
PODCAST: Lộ trình AI-First 2030: Chuyển dịch chiến lược đưa AI vào nghiệp vụ lõi ngành Tài chính
Tinh gọn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, mỗi chủ thể chỉ ban hành 1 hình thức
522 kiến nghị được xử lý, kịp thời tháo gỡ vướng mắc thể chế
Ưu đãi nhà ở cho thuê phải đến đúng đối tượng, phù hợp nguồn lực ngân sách
Đảm bảo nguồn lực tài chính cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Việt Nam hướng tới đáp ứng tiêu chí nâng hạng của MSCI, lên nhóm mới nổi bậc cao của FTSE
Bổ sung cơ chế bảo vệ người dân khi thu hồi đất trước bồi thường, tái định cư
Nội dung trình Quốc hội phải “chín” về chính trị, vững về pháp lý, khả thi về thực tiễn
Giao chỉ tiêu gần 900.000 căn nhà ở xã hội, ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê
Kéo dài chính sách thuế với xăng, dầu và nhiên liệu bay đến hết năm 2026
Mở rộng Khu kinh tế Vũng Áng lên gần 73.000 ha, hướng tới cực tăng trưởng của Bắc Trung Bộ
Lâm Đồng: Kinh tế đêm chưa được khai thác hiệu quả
Hà Nội đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, tạo động lực bứt phá tăng trưởng
Mở rộng không gian biển, tạo động lực tăng trưởng kinh tế hướng ra biển
Thị trường nội địa - động lực mới của ngành gỗ Việt Nam
TP. Hồ Chí Minh vào chặng “nước rút” tăng trưởng 2 con số
Hà Nội: GRDP quý III tăng 10,02%, lần đầu chạm ngưỡng 2 con số
Bảo vệ sở hữu trí tuệ, củng cố sức cạnh tranh của nền kinh tế số










