Mở rộng không gian biển, tạo động lực tăng trưởng kinh tế hướng ra biển
![]() |
| Việt Nam đang từng bước mở rộng không gian tăng trưởng từ đất liền ra biển sâu, biển xa. |
Mở rộng không gian phát triển, khơi thông nguồn lực từ biển
Chương trình hành động số 34-CTr/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh xác định biển là không gian phát triển chiến lược, động lực tăng trưởng mới, nơi hội tụ các lợi ích về kinh tế, quốc phòng, an ninh, khoa học, công nghệ, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Đây là bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển, từ khai thác lợi thế biển sang tổ chức lại không gian kinh tế theo hướng chủ động vươn ra biển.
Đặc biệt Chương trình hành động số 34-CTr/TW đã yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy khai thác tài nguyên và phát triển kinh tế biển đơn thuần sang phát triển toàn diện không gian biển quốc gia; từ quản lý theo ngành sang quản trị không gian biển hiện đại, tổng hợp, thống nhất, dựa trên dữ liệu số và quy hoạch không gian biển. Bên cạnh đó nhìn nhận không gian biển rộng hơn, gồm biển, đáy biển, lòng đất dưới biển, các đảo, vùng ven biển và vùng trời trên biển.
Bằng cách tiếp cận này đã có ý nghĩa trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng. bởi không gian phát triển được mở rộng nhưng nếu thiếu quy hoạch và cơ chế điều phối thì các hoạt động hàng hải, năng lượng, thủy sản, du lịch, công nghiệp và bảo tồn dễ phát sinh chồng lấn, từ đó sẽ làm gia tăng chi phí và giảm hiệu quả sử dụng tài nguyên. Nhưng nếu phân vùng, kết nối được các không gian lại với nhau và quản trị trên cùng một nền tảng dữ liệu thì lợi thế của từng khu vực biển có thể được chuyển hóa thành những chuỗi giá trị kinh tế bổ trợ lẫn nhau.
Với cách nhìn nhận này, Chương trình hành động số 34-CTr/TW đặt yêu cầu rà soát, cập nhật, điều chỉnh Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, bảo đảm kết nối giữa không gian đất liền, biển, vùng trời và các không gian phát triển mới. Quy hoạch không gian biển được xác định là công cụ quản lý tổng hợp, điều phối phát triển và có tính ràng buộc đối với hệ thống quy hoạch ngành, vùng và địa phương ven biển.
Đồng thời đây cũng là nền tảng để Việt Nam hình thành tư duy phát triển kinh tế hướng ra biển. Ở đó, không gian biển được quy hoạch rõ ràng sẽ không chỉ là nơi khai thác tài nguyên còn trở thành không gian dành cho đầu tư, sản xuất, dịch vụ, logistics, năng lượng, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Từ những hoạt động này sẽ tạo ra những giá trị kinh tế được tạo ra từ nhiều tầng, thay vì phụ thuộc vào một vài ngành khai thác truyền thống.
Ben cạnh đó, công tác quy hoạch cũng sẽ góp phần khơi thông nguồn lực. Chương trình hành động số 34-CTr/TW định hướng đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, phát triển hợp tác công - tư, công cụ tài chính xanh, tài chính biển bền vững và cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước với doanh nghiệp. Không chỉ vậy, Chương trình hành động số 34-CTr/TW cũng nhấn mạnh tới việc khuyến khích hình thành các doanh nghiệp biển quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh quốc tế và thúc đẩy liên kết với các tập đoàn đa quốc gia để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị đại dương toàn cầu.
Với tư duy đổi mới, Chương trình hành động số 34-CTr/TW hướng ra biển không đơn thuần là mở rộng địa bàn đầu tư. Điểm cốt lõi quan trọng hơn, đó là mở rộng khả năng huy động vốn, công nghệ, nhân lực và thị trường. Chỉ khi doanh nghiệp trở thành chủ thể đầu tư và khai thác, Nhà nước tập trung hoàn thiện thể chế, quy hoạch, hạ tầng và cơ chế điều phối, khi đó nguồn lực xã hội sẽ có điều kiện được phân bổ vào những lĩnh vực có sức lan tỏa lớn hơn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hướng ra biển.
Hình thành hệ sinh thái kinh tế biển để tạo giá trị gia tăng
![]() |
| huyển đổi xanh, chuyển đổi số được định hướng triển khai xuyên suốt, cùng với phát triển các mô hình sản xuất, kinh doanh và dịch vụ biển thông minh. |
Với không gian được tổ chức lại, Chương trình hành động số 34-CTr/TW đặt trọng tâm phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và các ngành, lĩnh vực biển mới. Chuyển đổi xanh, chuyển đổi số được định hướng triển khai xuyên suốt, cùng với phát triển các mô hình sản xuất, kinh doanh và dịch vụ biển thông minh.
Chương trình hành động số 34-CTr/TW đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và dữ liệu trở thành yếu tố quyết định khả năng khai thác không gian biển hiệu quả. Bên cạnh định hướng xây dựng, tích hợp và khai thác dữ liệu biển quốc gia, bản đồ số biển và đại dương; phát triển hạ tầng số biển; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, viễn thám và Internet vạn vật trong quan trắc, giám sát, dự báo, cảnh báo thiên tai và quản lý không gian biển.
Việc hình thành cơ sở dữ liệu và công nghệ được đưa vào quản trị, giá trị của biển không chỉ nhờ từ khai thác trực tiếp ở biển. Năng lực quan trắc, dự báo, thiết kế, chế tạo và vận hành các công trình ngoài khơi sẽ tạo thêm những lớp giá trị mới. Cách nhìn nhận về gia trị từ biển cũng là cơ sở để Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng công nghệ và dịch vụ biển có giá trị gia tăng cao.
Bên cạnh đó, việc xác định kinh tế hàng hải là một trụ cột quan trọng. Chương trình hành động số 34-CTr/TW định hướng phát triển cảng biển xanh, thông minh, hiện đại; phát triển các cảng cửa ngõ, trung tâm trung chuyển quốc tế; tăng thị phần vận tải biển quốc tế; đồng thời kết nối logistics hàng hải với đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và hàng không. Công nghiệp đóng tàu cũng được đặt trong tư duy hệ sinh thái, gắn với đội tàu, cảng biển, logistics, công nghiệp phụ trợ và dịch vụ.
Bằng những hướng đi có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa rộng đã cho thấy một cảng biển hiện đại không chỉ tạo doanh thu từ khai thác cảng mà còn kéo theo nhu cầu vận tải, kho bãi, bảo hiểm, tài chính, sửa chữa, đóng tàu, công nghiệp phụ trợ và các dịch vụ logistics. Không những vậy khi kết nối tốt với mạng lưới giao thông quốc gia và quốc tế, cảng biển còn có thể trở thành điểm hội tụ của các dòng hàng hóa, vốn đầu tư và công nghệ.
Ngoài ra, thủy sản cũng được định hướng cơ cấu lại theo chuỗi giá trị, đẩy mạnh công nghệ trong nuôi trồng, khai thác, bảo quản và chế biến; phát triển nuôi biển xa bờ, nuôi biển công nghiệp và công nghệ cao. Năng lượng tái tạo biển được thúc đẩy thông qua hoàn thiện quy hoạch, cơ chế phát triển điện gió ngoài khơi, điện mặt trời trên biển và các loại hình năng lượng khác.
Một điểm nhấn đáng chú ý trong Chương trình hành động số 34-CTr/TW đó là dư địa tăng trưởng được mở sang những ngành biển mới như nuôi biển công nghệ cao, y - dược biển, công nghệ sinh học biển, khử mặn nước biển, điện sóng, hydro, amoniắc xanh; đồng thời, hình thành các chuỗi công nghiệp cung ứng hạ tầng cáp ngầm biển và phát triển trung tâm dữ liệu ven biển, dưới biển. Du lịch và dịch vụ biển cũng được định hướng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, gắn với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa biển.
Đảm bảo sự kết nối cho các lĩnh vực này trong phát triển, Chương trình hành động số 34-CTr/TW đặt yêu cầu phát triển đồng bộ hạ tầng biển, ven biển, hải đảo và hạ tầng kết nối; hình thành mạng lưới logistics biển hiện đại; phát triển các trung tâm công nghiệp, dịch vụ, logistics, năng lượng và đổi mới sáng tạo theo lợi thế từng vùng. Các khu kinh tế ven biển được định hướng phát triển đa ngành, đa chức năng, gắn với trung tâm và hành lang kinh tế biển.
Ngoài ra, mở rộng không gian kinh tế biển phải được đặt trong giới hạn sinh thái. Bảo vệ đa dạng sinh học, phục hồi nguồn lợi thủy sản, quản lý khu bảo tồn biển, kiểm soát nguồn thải, phát triển kinh tế tuần hoàn và nâng cao năng lực quan trắc, cảnh báo. Đây là những điều kiện để duy trì nền tảng tài nguyên cho tăng trưởng dài hạn và đáp ứng yêu cầu về phát triển kinh tế biển những không đánh đổi môi trường để lấy tăng trưởng trước mắt.
Chương trình hành động số 34-CTr/TW, cùng với Nghị quyết số 218/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28 tháng 7 năm 2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, đang tạo khung triển khai cho mục tiêu phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh, hoàn thiện hạ tầng và mở rộng không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Có thể thấy, từ quy hoạch không gian, thể chế, hạ tầng đến công nghệ, doanh nghiệp và nguồn nhân lực, các yếu tố của kinh tế biển đang được đặt trong một hệ sinh thái thống nhất hơn. Và khi được triển khai đồng bộ, hệ sinh thái này sẽ giúp Việt Nam không chỉ khai thác biển hiệu quả hơn mà còn tạo ra nhiều tầng giá trị mới từ hàng hải, logistics, năng lượng, thủy sản, du lịch và các ngành công nghệ biển. Khi đó, phát triển kinh tế hướng ra biển sẽ trở thành một phương thức mở rộng không gian tăng trưởng, ở đó các giá trị kinh tế biển gia tăng và tạo thêm động lực đóng góp vào mục tiêu xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh theo đúng tinh thần của Nghị quyết số 20-NQ/TW
Tin tức khác
Lâm Đồng: Kinh tế đêm chưa được khai thác hiệu quả
Hà Nội đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, tạo động lực bứt phá tăng trưởng
Thị trường nội địa - động lực mới của ngành gỗ Việt Nam
TP. Hồ Chí Minh vào chặng “nước rút” tăng trưởng 2 con số
Hà Nội: GRDP quý III tăng 10,02%, lần đầu chạm ngưỡng 2 con số
Bảo vệ sở hữu trí tuệ, củng cố sức cạnh tranh của nền kinh tế số
Khai mạc Tuần lễ sản phẩm Việt Nam - Lào “Hoa đẹp Chăm Pa”
PODCAST: Bức tranh tăng trưởng GRDP 9 tháng năm 2026: Những “cú bứt tốc” đáng chú ý
PODCAST: Bộ Tài chính lưu ý 5 nội dung quan trọng trong chấm điểm giải ngân đầu tư công
VIDEO: Giải bài toán chi phí logistics: "Cởi trói" biên lợi nhuận cho hàng xuất khẩu Việt
VIDEO: Đồng bộ chính sách tài khóa tạo lực đẩy cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
PODCAST: Lộ trình AI-First 2030: Chuyển dịch chiến lược đưa AI vào nghiệp vụ lõi ngành Tài chính
522 kiến nghị được xử lý, kịp thời tháo gỡ vướng mắc thể chế
Ưu đãi nhà ở cho thuê phải đến đúng đối tượng, phù hợp nguồn lực ngân sách
Đảm bảo nguồn lực tài chính cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Việt Nam hướng tới đáp ứng tiêu chí nâng hạng của MSCI, lên nhóm mới nổi bậc cao của FTSE
Bổ sung cơ chế bảo vệ người dân khi thu hồi đất trước bồi thường, tái định cư
Nội dung trình Quốc hội phải “chín” về chính trị, vững về pháp lý, khả thi về thực tiễn
Giao chỉ tiêu gần 900.000 căn nhà ở xã hội, ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê
Kéo dài chính sách thuế với xăng, dầu và nhiên liệu bay đến hết năm 2026
Bảo đảm chất lượng, tiến độ các dự án luật trong Chương trình lập pháp năm 2027
Mở rộng Khu kinh tế Vũng Áng lên gần 73.000 ha, hướng tới cực tăng trưởng của Bắc Trung Bộ
Lâm Đồng: Kinh tế đêm chưa được khai thác hiệu quả
Hà Nội đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, tạo động lực bứt phá tăng trưởng
Mở rộng không gian biển, tạo động lực tăng trưởng kinh tế hướng ra biển
Thị trường nội địa - động lực mới của ngành gỗ Việt Nam
TP. Hồ Chí Minh vào chặng “nước rút” tăng trưởng 2 con số
Hà Nội: GRDP quý III tăng 10,02%, lần đầu chạm ngưỡng 2 con số
Bảo vệ sở hữu trí tuệ, củng cố sức cạnh tranh của nền kinh tế số










