Nâng chất lượng thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế
![]() |
| Hội thảo Hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lý, thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. |
Gia tăng giá trị nội địa, nâng năng lực thực chất của nền kinh tế
Ngày 2/10, tại Hà Nội, Bộ Công an phối hợp với Bộ Tài chính tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia với chủ đề “Hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lý, thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới bảo đảm kết hợp chặt chẽ giữa an ninh với kinh tế – xã hội, đối ngoại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng”. Thượng tướng Lê Văn Tuyến, Uỷ viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an và Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương đồng chủ trì Hội thảo.
Sau gần 40 năm đổi mới và mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn, hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực, mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo việc làm và đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất, chuỗi giá trị toàn cầu.
Quy mô dòng vốn tiếp tục gia tăng. Trong 8 tháng đầu năm 2026, tổng vốn FDI vào Việt Nam đạt 40,63 tỷ USD, tăng 55,4% so với cùng kỳ năm trước; vốn thực hiện đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12%.
Lũy kế đến ngày 31/8/2026, cả nước có 47.793 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 561,6 tỷ USD; vốn thực hiện lũy kế đạt 367,45 tỷ USD, tương đương 65,4% tổng vốn đăng ký.
Quy mô vốn ngày càng lớn cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với hiệu quả của khu vực FDI. Kết quả thu hút đầu tư nước ngoài trong giai đoạn mới không thể chỉ nhìn qua số dự án, vốn đăng ký, vốn thực hiện, doanh thu hay kim ngạch xuất khẩu. Một vấn đề quan trọng là dòng vốn đó tạo thêm bao nhiêu giá trị cho nền kinh tế trong nước; khả năng chuyển giao tri thức, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển nhà cung cấp, chuyển giao và làm chủ công nghệ; mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị và đóng góp đối với năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Chia sẻ tại Hội thảo, TS. Nguyễn Như Quỳnh, Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế – tài chính (Bộ Tài chính), phân tích vai trò của khu vực FDI đối với sản xuất, xuất khẩu, đồng thời đặt vấn đề về phần giá trị thực chất mà nền kinh tế Việt Nam có thể tạo ra và giữ lại từ dòng vốn này.
![]() |
| TS. Nguyễn Như Quỳnh, Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế – tài chính (Bộ Tài chính). |
Theo số liệu được TS. Nguyễn Như Quỳnh dẫn trong tham luận, năm 2025, vốn FDI đăng ký đạt 38,42 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 27,62 tỷ USD. Khu vực FDI chiếm 77,6% tổng kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu của khu vực FDI tăng từ 110,56 tỷ USD năm 2015 lên 368,88 tỷ USD năm 2025, tương đương 3,34 lần; xuất siêu tăng từ 13,33 tỷ USD lên 51,25 tỷ USD trong cùng giai đoạn.
Theo phân tích của TS. Nguyễn Như Quỳnh, FDI mang theo hệ thống sản xuất, quản trị chất lượng, tiêu chuẩn giao hàng và mạng lưới khách hàng toàn cầu, qua đó góp phần tạo nên quy mô xuất khẩu lớn cho Việt Nam. Tuy nhiên, bước tiếp theo được đặt ra là biến vị thế thị phần thành năng lực nội tại.
TS. Nguyễn Như Quỳnh chỉ ra, khu vực FDI hiện chiếm 77,6% xuất khẩu hàng hóa; riêng điện thoại và điện tử phụ thuộc lớn vào khu vực này. Năm thị trường lớn chiếm trên 70% xuất khẩu của khu vực FDI. Trong khi đó, nhiều đầu vào và các khâu tạo giá trị cao còn nằm ngoài Việt Nam, liên kết nội địa còn yếu, sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế.
Từ đó, TS. Nguyễn Như Quỳnh đặt câu hỏi: “FDI đang tạo thêm bao nhiêu năng lực thực chất cho doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam?”. Những chỉ số được dẫn trong tham luận cho thấy rõ hơn vấn đề về giá trị gia tăng nội địa. Hàm lượng giá trị gia tăng nội địa trong tổng xuất khẩu của Việt Nam ở mức 51,5%, riêng lĩnh vực chế biến, chế tạo là 49,5%; tỷ lệ doanh nghiệp có liên kết với chuỗi giá trị toàn cầu năm 2023 ở mức 18%.
Cũng theo TS. Nguyễn Như Quỳnh, tỷ trọng giá trị gia tăng nội địa trong xuất khẩu có xu hướng giảm trong giai đoạn 2015-2022, với mức giảm 8,4 điểm phần trăm đối với tổng xuất khẩu, 7,5 điểm phần trăm đối với sản phẩm chế biến, chế tạo và 6,8 điểm phần trăm đối với riêng ngành điện tử.
Đổi mới công nghệ cũng được TS. Nguyễn Như Quỳnh xác định là một điểm nghẽn. Theo số liệu được dẫn trong tham luận, năm 2024, tỷ lệ doanh nghiệp FDI trong khu công nghiệp có đổi mới công nghệ là 2,57%; đối với FDI điện tử trong khu công nghiệp là 3,80%; trong khi tỷ lệ của tổng FDI ngoài khu công nghiệp là 1,18%.
Từ những phân tích trên, TS. Nguyễn Như Quỳnh đặt ra yêu cầu tăng phần giá trị được tạo ra và giữ lại tại Việt Nam, thay vì chỉ tăng kim ngạch xuất khẩu. Trong bối cảnh mới, Việt Nam vẫn cần nhiều FDI, nhưng dòng vốn cần có chất lượng cao hơn, gắn với phát triển nhà cung ứng, công nghệ, kỹ năng lao động và đáp ứng các tiêu chuẩn xanh, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải.
Theo TS. Nguyễn Như Quỳnh, nhu cầu vốn FDI giai đoạn 2026-2030 theo kịch bản tăng trưởng thấp là 203 tỷ USD, kịch bản mục tiêu là 217 tỷ USD và kịch bản cao là 239 tỷ USD. Với kịch bản mục tiêu, nhu cầu vốn FDI khoảng 217 tỷ USD, tương ứng bình quân 43,4 tỷ USD/năm.
Từ đó, TS. Nguyễn Như Quỳnh đề xuất chuyển định hướng chính sách từ “thu hút thêm” sang “chọn đúng – triển khai nhanh – lan tỏa tốt – giảm phát thải”. Trọng tâm là lựa chọn FDI theo chất lượng, ưu tiên công nghệ, R&D, đào tạo nhân lực, đơn hàng cho doanh nghiệp Việt Nam và tiêu chuẩn xanh; phát triển nhà cung ứng; hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng công nghệ, chất lượng, khả năng giao hàng, chứng nhận và thực hiện hợp đồng.
Cùng với đó là gắn ưu đãi với cam kết về đào tạo, R&D, mua hàng trong nước phù hợp với cam kết quốc tế và giảm phát thải; mở rộng thu hút FDI vào các ngành, sản phẩm và thị trường mới nhằm giảm rủi ro tập trung; ưu tiên các dự án tiết kiệm năng lượng, tuần hoàn vật liệu và đáp ứng tiêu chuẩn xanh.
Từ một góc tiếp cận khác, ông Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho rằng sự thay đổi cấu trúc kinh tế thế giới đang đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy thu hút FDI của Việt Nam.
Theo ông Nguyễn Hoa Cương, chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc theo hướng khu vực hóa, an ninh hóa, near-shoring và friend-shoring; dòng vốn FDI ngày càng ưu tiên những quốc gia có độ tin cậy thể chế. Việt Nam vì vậy cần chuyển từ tư duy thu hút vốn sang phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia, đồng thời chuyển từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết.
Ghi nhận những chuyển biến về chất lượng dòng vốn Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương dẫn chứng, năm 2025, vốn FDI thực hiện đạt 27,62 tỷ USD, cao nhất giai đoạn 2021-2025. Tỷ trọng FDI công nghệ cao tăng từ 34,1% năm 2018 lên 53,8% năm 2024; có khoảng 170 dự án bán dẫn – công nghệ cao với tổng vốn gần 11,6 tỷ USD. FDI xanh chiếm khoảng 25% tổng vốn đăng ký, tương đương khoảng 9,5 tỷ USD năm 2024.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Hoa Cương cũng đặt ra vấn đề giữa quy mô FDI lớn và giá trị gia tăng nội địa. Theo số liệu được dẫn trong tham luận, tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam ở mức 21-28%; giá trị gia tăng nội địa trong xuất khẩu là 18%. Riêng ngành máy tính, sản phẩm điện tử, tỷ lệ nội địa hóa ở mức 35-40%. Việt Nam hiện chủ yếu tham gia khâu đóng gói, tương ứng khoảng 6% giá trị con chíp, trong khi khâu thiết kế chiếm tới 53%.
Từ thực trạng này, ông Nguyễn Hoa Cương đề xuất chuyển từ “đón đầu thụ động” sang “chủ động kiến tạo vị thế”, tập trung vào 5 nhóm giải pháp: hoàn thiện thể chế và bộ tiêu chí sàng lọc FDI thế hệ mới; chính sách tài chính thích ứng với thuế tối thiểu toàn cầu và tài chính xanh; nâng cao năng lực hấp thụ nội sinh, phát triển công nghiệp hỗ trợ; phát triển nhân lực chất lượng cao và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; đổi mới mô hình quản trị, điều phối liên vùng, liên ngành.
“Dự án FDI cần được đánh giá theo các tiêu chí về R&D, nội địa hóa, năng lượng tái tạo và lao động kỹ thuật cao; ưu đãi gắn với kết quả thực hiện cam kết. Đồng thời, phát triển chương trình nhà cung cấp quốc gia, các dự án lớn có kế hoạch chuỗi cung ứng tại Việt Nam và tăng hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn của chuỗi cung ứng”, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, ông Nguyễn Hoa Cương cũng cho rằng, đổi mới tư duy thu hút FDI là thực hiện lựa chọn chiến lược nhằm củng cố năng lực nội sinh. Năng lực của Nhà nước kiến tạo, thể hiện qua lựa chọn ngành, năng lực đàm phán theo “hợp đồng phát triển” và nâng cao năng lực nội sinh, có vai trò quan trọng đối với sức chống chịu và vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Kiến tạo môi trường đầu tư, gắn ưu đãi với chất lượng và hiệu quả
Từ yêu cầu nâng chất dòng vốn, vấn đề tiếp theo là cách thức hoàn thiện chính sách để vừa duy trì sức hấp dẫn của môi trường đầu tư, vừa hướng nguồn lực FDI vào những lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng, liên kết và lan tỏa cao.
![]() |
| Ông Phạm Thái Phương, Phó Vụ trưởng Vụ Ngoại giao Kinh tế (Bộ Ngoại giao). |
Ông Phạm Thái Phương, Phó Vụ trưởng Vụ Ngoại giao Kinh tế (Bộ Ngoại giao) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát huy vai trò của đối ngoại và ngoại giao kinh tế trong thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về thu hút FDI chất lượng cao trong kỷ nguyên mới.
Ở góc độ cơ quan quản lý đầu tư nước ngoài, bà Bùi Thu Thuỷ, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) cho rằng bối cảnh hiện nay đòi hỏi đổi mới mạnh mẽ hơn tư duy chính sách.
Theo đó, cần chuyển từ thu hút đầu tư nước ngoài sang phát triển kinh tế có vốn FDI; từ phát triển FDI đơn lẻ sang phát triển đồng bộ hệ sinh thái các dòng vốn quốc tế; từ quản lý đầu tư sang kiến tạo môi trường đầu tư và phát triển; từ ưu đãi đầu tư sang ưu đãi theo kết quả; từ cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các địa phương sang điều phối phát triển ở tầm quốc gia.
“Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới không chỉ là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút chất lượng cao hơn, công nghệ cao hơn, giá trị gia tăng lớn hơn và tạo sức lan tỏa mạnh hơn đối với nền kinh tế”, bà Bùi Thu Thủy nhấn mạnh.
Về định hướng thể chế hóa Nghị quyết số 10-NQ/TW tại Luật Đầu tư, bà Bùi Thu Thủy đề cập các chính sách ưu đãi, hỗ trợ có tính cạnh tranh nhằm thu hút dự án công nghệ chiến lược, chip bán dẫn, AI, trung tâm R&D, trung tâm dịch vụ logistics quốc tế; hỗ trợ chi phí R&D, đào tạo lao động, hạ tầng xã hội và nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước.
Các chính sách hỗ trợ được đặt trong mối quan hệ với cam kết của nhà đầu tư về chuyển giao công nghệ, R&D, đào tạo lao động Việt Nam, phát triển nhà cung ứng nội địa và nâng cao giá trị sản xuất trong nước. Đồng thời, tiếp tục đơn giản hóa thủ tục, cắt giảm thời gian, chi phí tuân thủ, hoàn thiện cơ chế làn xanh, áp dụng thủ tục đầu tư đặc biệt đối với các dự án công nghệ cao, công nghệ chiến lược; thúc đẩy chuyển đổi xanh và khuyến khích chuyển đổi sang khu công nghiệp sinh thái.
Một nguyên tắc quan trọng được bà Bùi Thu Thủy nhấn mạnh là ưu đãi phải gắn với kết quả thực hiện cam kết, chuyển giao công nghệ, R&D, đào tạo lao động Việt Nam, bảo vệ môi trường, phát triển nhà cung ứng nội địa và nâng cao giá trị sản xuất trong nước; mức ưu đãi, hỗ trợ tương xứng với lợi ích kinh tế – xã hội mà dự án tạo ra, đồng thời bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Theo đó, chính sách không ưu đãi dàn trải, không cào bằng, không chạy theo số lượng dự án và quy mô đăng ký; đồng thời không đánh đổi môi trường, an ninh kinh tế, an ninh dữ liệu, quốc phòng, an ninh để lấy các dự án ngắn hạn, có mức độ lan tỏa thấp. Trường hợp không đạt cam kết, ưu đãi cần được đánh giá, điều chỉnh hoặc thu hồi.
Bên cạnh, chất lượng và hiệu quả kinh tế, quản trị FDI trong những lĩnh vực mới cũng đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với an ninh thông tin và an ninh dữ liệu. Đại tá Nguyễn Hồng Quân, Phó Cục trưởng Cục An ninh mạng (Bộ Công an) nhìn nhận đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của nền kinh tế, góp phần tạo việc làm, thu nhập cho người lao động, nâng cao năng lực sản xuất và công nghệ, đóng góp ngân sách nhà nước, ổn định kinh tế vĩ mô, chuyển dịch cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng.
Theo Đại tá Nguyễn Hồng Quân, nâng cao chất lượng hợp tác đầu tư nước ngoài cần gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển bền vững và nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế.
Trong đó, an ninh thông tin, an ninh dữ liệu cần được xem là cấu phần xuyên suốt trong quản trị đầu tư nước ngoài, thay vì chỉ là yêu cầu kỹ thuật về an ninh mạng. Cách tiếp cận được đặt ra là quản trị rủi ro thông tin trong toàn bộ vòng đời dự án đầu tư nước ngoài, qua đó góp phần xây dựng môi trường đầu tư an toàn, minh bạch và bền vững.
Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, AI và dữ liệu lớn đang nhanh chóng định hình lại hoạt động sản xuất, kinh doanh, Đại tá Nguyễn Hồng Quân đề xuất tiếp tục hoàn thiện thể chế về quản trị dữ liệu, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân đồng bộ với phát triển kinh tế số; đánh giá an ninh thông tin trong toàn bộ vòng đời dự án, từ xúc tiến, thẩm định, vận hành, thay đổi đến chấm dứt dự án; đồng thời tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành và nâng cao trách nhiệm, kiến thức, kỹ năng bảo vệ thông tin.
Phát biểu tổng kết Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Công an Lê Văn Tuyến đánh giá, các ý kiến, tham luận đã làm rõ kết quả đạt được, những khó khăn, vướng mắc trong quản lý, thu hút FDI, đồng thời đề xuất nhiều giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật trong giai đoạn mới.
Thứ trưởng Lê Văn Tuyến nhấn mạnh, việc hoàn thiện chính sách thu hút FDI cần quán triệt quan điểm của Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn mới, gắn nâng cao hiệu quả, năng lực tự chủ chiến lược và sức cạnh tranh của nền kinh tế với mở rộng thị trường, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu; thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững, đồng thời giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Trên cơ sở kết quả Hội thảo, Thứ trưởng Lê Văn Tuyến đề nghị khẩn trương tổng hợp những vướng mắc, bất cập và các kiến nghị để tiếp tục rà soát, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật, tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thuận lợi cho quản lý và thu hút FDI. Đây cũng là yêu cầu xuyên suốt đặt ra đối với dòng vốn FDI trong giai đoạn mới: phát huy hiệu quả nguồn lực đầu tư nước ngoài gắn với củng cố nội lực, giữ vững tự chủ chiến lược, nâng cao năng lực phát triển quốc gia, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Tin tức khác
Mở “đường vào chuỗi” cho doanh nghiệp tư nhân
Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam tăng tốc hướng tới mốc tăng trưởng mới
Ưu đãi công nghiệp hỗ trợ: Từ “cho trước” sang “trả theo kết quả”
CertIFR ACCA - Cơ hội học và thi chứng chỉ Báo cáo tài chính quốc tế bằng tiếng Việt với chi phí ưu đãi
Tài chính doanh nghiệp 24/7: Hải An và Viconship đầu tư 8.930 tỷ đồng cho 5 tàu container, Hòa Phát góp 8.000 tỷ đồng vào Tương lai Sông Hồng
Khai mạc Tuần lễ sản phẩm Việt Nam - Lào “Hoa đẹp Chăm Pa”
Công bố Top 10 Công ty uy tín ngành Bao bì năm 2026 và đánh giá bức tranh tăng trưởng ngành
PODCAST: Bức tranh tăng trưởng GRDP 9 tháng năm 2026: Những “cú bứt tốc” đáng chú ý
PODCAST: Bộ Tài chính lưu ý 5 nội dung quan trọng trong chấm điểm giải ngân đầu tư công
VIDEO: Giải bài toán chi phí logistics: "Cởi trói" biên lợi nhuận cho hàng xuất khẩu Việt
VIDEO: Đồng bộ chính sách tài khóa tạo lực đẩy cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
PODCAST: Lộ trình AI-First 2030: Chuyển dịch chiến lược đưa AI vào nghiệp vụ lõi ngành Tài chính
Tinh gọn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, mỗi chủ thể chỉ ban hành 1 hình thức
522 kiến nghị được xử lý, kịp thời tháo gỡ vướng mắc thể chế
Ưu đãi nhà ở cho thuê phải đến đúng đối tượng, phù hợp nguồn lực ngân sách
Đảm bảo nguồn lực tài chính cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Việt Nam hướng tới đáp ứng tiêu chí nâng hạng của MSCI, lên nhóm mới nổi bậc cao của FTSE
Bổ sung cơ chế bảo vệ người dân khi thu hồi đất trước bồi thường, tái định cư
Nội dung trình Quốc hội phải “chín” về chính trị, vững về pháp lý, khả thi về thực tiễn
Giao chỉ tiêu gần 900.000 căn nhà ở xã hội, ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê
Kéo dài chính sách thuế với xăng, dầu và nhiên liệu bay đến hết năm 2026
Mở rộng Khu kinh tế Vũng Áng lên gần 73.000 ha, hướng tới cực tăng trưởng của Bắc Trung Bộ
Lâm Đồng: Kinh tế đêm chưa được khai thác hiệu quả
Hà Nội đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, tạo động lực bứt phá tăng trưởng
Mở rộng không gian biển, tạo động lực tăng trưởng kinh tế hướng ra biển
Thị trường nội địa - động lực mới của ngành gỗ Việt Nam
TP. Hồ Chí Minh vào chặng “nước rút” tăng trưởng 2 con số
Hà Nội: GRDP quý III tăng 10,02%, lần đầu chạm ngưỡng 2 con số
Bảo vệ sở hữu trí tuệ, củng cố sức cạnh tranh của nền kinh tế số














