Giải pháp tài chính và đầu tư đẩy nhanh đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Hoàng Văn Cương
Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (NIEF), Bộ Tài chính, Email: hoangvancuong@mof.gov.vn
Nguyễn Thúy Quỳnh, Nguyễn Đức Đoàn
Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (NIEF), Bộ Tài chính
Tóm tắt
Tài chính và đầu tư là nền tảng cốt lõi, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, giúp huy động, phân bổ nguồn lực hiệu quả, ổn định vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Tài chính và đầu tư thúc đẩy sản xuất, tạo công ăn việc làm, nâng cao cơ sở hạ tầng, và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia. Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn 40 năm Đổi mới đất nước cho thấy, tài chính và đầu tư là động lực chính, không thể thiếu và có vai trò quyết định sự thành công để xây dựng một nền kinh tế tự chủ, thịnh vượng và bền vững.
Từ khóa: Tài chính, đầu tư, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
THỰC TRẠNG ĐÓNG GÓP CỦA TÀI CHÍNH VÀ ĐẦU TƯ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2015-2025
Trong tiến trình phát triển kinh tế quốc gia, tài chính và đầu tư luôn giữ vai trò là nguồn lực nền tảng, quyết định tốc độ và chất lượng tăng trưởng. Giai đoạn 2015 - 2025 đánh dấu nhiều biến động quan trọng của kinh tế Việt Nam, từ quá trình hội nhập sâu rộng, tác động của đại dịch COVID-19 đến xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong bối cảnh đó, tài chính và đầu tư đã đóng góp to lớn vào tăng trưởng kinh tế, ổn định vĩ mô và chuyển dịch cơ cấu, song cũng bộc lộ không ít hạn chế cần khắc phục.
Trước hết, chính sách tài khóa và tiền tệ linh hoạt đã giúp kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và duy trì niềm tin thị trường, nhất là trong thời kỳ dịch bệnh và suy giảm kinh tế toàn cầu. Nhờ vậy, nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng tương đối cao so với nhiều quốc gia trong khu vực.
Song song với vai trò của tài chính, hoạt động đầu tư là động lực trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng. Đầu tư công được đẩy mạnh, đặc biệt trong giai đoạn phục hồi sau đại dịch COVID-19, với nhiều dự án hạ tầng giao thông trọng điểm như cao tốc, cảng biển, sân bay, góp phần nâng cao năng lực kết nối và tạo hiệu ứng lan tỏa đến nhiều ngành, lĩnh vực. Việc tăng cường đầu tư vào chuyển đổi số, năng lượng tái tạo và hạ tầng đô thị cũng tạo nền tảng cho phát triển dài hạn.
Đầu tư tư nhân trong nước ngày càng khẳng định vai trò là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế. Nhiều doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh, mở rộng sang các lĩnh vực công nghiệp chế biến, công nghệ, bán lẻ và dịch vụ. Khu vực kinh tế tư nhân đóng góp tỷ trọng ngày càng cao trong GDP và tạo ra nhiều việc làm, góp phần nâng cao năng suất và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Đặc biệt, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục là điểm sáng trong giai đoạn 2015 - 2025. Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn nhờ môi trường chính trị ổn định, chi phí cạnh tranh và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Dòng vốn FDI không chỉ bổ sung nguồn vốn lớn cho nền kinh tế mà còn thúc đẩy xuất khẩu, chuyển giao công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Khu vực FDI đóng góp tỷ trọng đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu, góp phần cải thiện cán cân thương mại và nâng cao vị thế kinh tế quốc tế của Việt Nam.
Hệ thống tài chính đã thực hiện tốt chức năng huy động và phân bổ nguồn vốn cho nền kinh tế. Tăng trưởng tín dụng trong nhiều năm duy trì ở mức khá, đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp và người dân. Thị trường chứng khoán phát triển mạnh cả về quy mô vốn hóa lẫn số lượng nhà đầu tư, trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn ngày càng quan trọng. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp, đặc biệt giai đoạn 2019 - 2021, tăng trưởng nhanh, góp phần bổ sung nguồn vốn cho các dự án bất động sản, hạ tầng và sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, thực trạng tài chính và đầu tư vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Nền kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng, trong khi thị trường vốn chưa phát triển đồng bộ và bền vững. Những biến động trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp giai đoạn 2022 - 2023 cho thấy, rủi ro về quản trị và minh bạch thông tin. Hiệu quả đầu tư công ở một số dự án chưa cao, tình trạng giải ngân chậm vẫn diễn ra. Ngoài ra, dù thu hút FDI lớn nhưng giá trị gia tăng nội địa còn thấp, liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước chưa chặt chẽ, hạn chế khả năng lan tỏa công nghệ.
Tóm lại, trong giai đoạn 2015 - 2025, tài chính và đầu tư đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, để phát triển bền vững trong giai đoạn tới, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế tài chính, nâng cao hiệu quả đầu tư công, phát triển thị trường vốn minh bạch và tăng cường liên kết giữa các khu vực kinh tế. Chỉ khi nâng cao được chất lượng và hiệu quả của dòng vốn, tài chính và đầu tư mới thực sự trở thành động lực bền vững cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
CÁC QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VỀ TÀI CHÍNH VÀ ĐẦU TƯ ĐỂ ĐẨY NHANH MÔ HÌNH ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC DỰA TRÊN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, Đảng và Nhà nước ta xác định đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yêu cầu tất yếu. Tinh thần này được thể hiện rõ trong Văn kiện Đại hội XIII và XIV của Đảng, coi khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, tài chính và đầu tư phải được định hướng lại một cách căn bản, đóng vai trò là đòn bẩy thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước.
![]() |
| Nguồn: Cục Thống kê |
Thứ nhất, quán triệt quan điểm ưu tiên bố trí nguồn lực tài chính cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ngân sách nhà nước cần tập trung đầu tư vào các lĩnh vực then chốt như hạ tầng số quốc gia, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, năng lượng tái tạo và công nghệ sinh học. Đây là những lĩnh vực có khả năng tạo đột phá về năng suất và năng lực cạnh tranh. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, Việt Nam đã đẩy mạnh phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số; nhiều địa phương triển khai trung tâm điều hành thông minh, doanh nghiệp tích cực ứng dụng chuyển đổi số trong quản trị và sản xuất. Tuy nhiên, tỷ lệ đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) còn khiêm tốn, đòi hỏi cần tiếp tục ưu tiên hơn nữa.
Thứ hai, phát triển hệ thống tài chính đồng bộ, hiện đại, minh bạch, tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo. Định hướng đặt ra là phát triển mạnh thị trường vốn, đa dạng hóa các kênh huy động vốn trung và dài hạn, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Cần hoàn thiện cơ chế pháp lý cho quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; khuyến khích hình thành hệ sinh thái startup công nghệ. Thực tiễn cho thấy Việt Nam đã xuất hiện nhiều doanh nghiệp công nghệ số và kỳ lân công nghệ, song vẫn cần môi trường tài chính thuận lợi hơn để nuôi dưỡng các ý tưởng sáng tạo.
Thứ ba, huy động hiệu quả nguồn lực xã hội và khu vực tư nhân cho đầu tư phát triển khoa học - công nghệ. Quan điểm xuyên suốt là Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, định hướng và tạo môi trường, còn doanh nghiệp là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Mô hình hợp tác công - tư cần được mở rộng trong các dự án hạ tầng số, đô thị thông minh, trung tâm dữ liệu và năng lượng sạch. Việc khuyến khích doanh nghiệp trích lập quỹ phát triển khoa học công nghệ cũng là giải pháp quan trọng để nâng cao năng lực tự chủ về công nghệ.
![]() |
| Nguồn: Cục Thống kê, Niên giám thống kê năm hàng năm. |
Thứ tư, thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc, hướng tới công nghệ cao và chuyển giao tri thức. Trong giai đoạn mới, cần ưu tiên các dự án có trung tâm R&D, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và có liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp trong nước. Điều này góp phần nâng cao năng lực nội sinh, tránh lệ thuộc vào gia công lắp ráp. Xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu là cơ hội để Việt Nam đón nhận dòng vốn chất lượng cao, nếu có chính sách phù hợp và hạ tầng đáp ứng yêu cầu.
Thứ năm, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, an toàn tài chính quốc gia song hành với đổi mới sáng tạo. Phát triển fintech, ngân hàng số, thanh toán không dùng tiền mặt cần gắn với quản lý rủi ro và bảo mật dữ liệu. Ổn định lạm phát, kiểm soát nợ công và nâng cao hiệu quả đầu tư công là điều kiện tiên quyết để tạo niềm tin cho nhà đầu tư dài hạn.
Định hướng tài chính và đầu tư trong giai đoạn mới phải gắn chặt với mục tiêu phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việc ưu tiên nguồn lực cho tri thức, khuyến khích sáng tạo, phát triển thị trường tài chính hiện đại và thu hút đầu tư chất lượng cao sẽ tạo nền tảng để Việt Nam chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cao, thực hiện thành công mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong những thập niên tới.
GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC VỀ TÀI CHÍNH VÀ ĐẦU TƯ ĐỂ ĐẨY NHANH MÔ HÌNH ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC DỰA TRÊN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ
Giai đoạn 2026-2030 được xác định là thời kỳ bản lề để Việt Nam bứt phá, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số, tạo nền tảng trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Để đạt mục tiêu này, mô hình tăng trưởng không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào vốn đầu tư truyền thống và lao động giá rẻ, mà phải chuyển mạnh sang dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Theo tinh thần Nghị quyết tại Đại hội XIII và XIV của Đảng, tài chính và đầu tư phải đóng vai trò là đòn bẩy chiến lược, tạo động lực tăng trưởng nhanh nhưng bền vững. Các nhóm giải pháp chiến lược về tài chính và đầu tư để đẩy nhanh mô hình đổi mới đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong giai đoạn tới cần tập trung đó là:
Thứ nhất, thực hiện tái cơ cấu mạnh mẽ đầu tư công theo hướng tạo đột phá năng suất.
Để đạt tăng trưởng 2 con số, đầu tư công cần chuyển từ “mở rộng quy mô” sang “nâng cao chất lượng và hiệu quả”. Nguồn lực ngân sách phải tập trung vào: (i) Hạ tầng số quốc gia (trung tâm dữ liệu, mạng 5G/6G, điện toán đám mây); (ii) Hạ tầng khoa học - công nghệ, khu công nghệ cao, trung tâm R&D; (iii) Hạ tầng logistics thông minh, cảng biển và hành lang kinh tế số.
![]() |
| Nguồn: WB, IMF, tổng hợp |
Hiện nay, Bộ Chính trị đã ban hành các chiến lược đột phá thông qua các Nghị quyết lớn như Nghị quyết về KHCN và kinh tế (Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 68-NQ/TW về thúc đẩy phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 79-NQ/TW về củng cố và phát triển kinh tế nhà nước, giữ vai trò chủ đạo; Nghị quyết số 70-NQ/ TW về đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn 2045), về đối ngoại và pháp luật (Nghị quyết số 59-NQ/TW về chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới xây dựng và thi hành pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới) và về con người và xã hội (Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo - đầu tư cho tương lai; Nghị quyết số 72-NQ/TW về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân). Những chiến lược đột phá, chủ trương chính sách lớn này đang và sẽ triển khai mạnh mẽ trong thực tiễn. Tuy nhiên, để tạo đà và lực, thì cần phải có nguồn vốn/tài chính thúc đẩy. Do đó, đầu tư công phải đóng vai trò “vốn mồi”, kích hoạt đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài, tạo hiệu ứng lan tỏa lớn tới năng suất toàn nền kinh tế.
Thứ hai, xây dựng và phát triển hệ sinh thái tài chính cho đổi mới sáng tạo.
Muốn tăng trưởng 2 con số, Việt Nam cần hệ sinh thái tài chính hỗ trợ mạnh mẽ cho startup công nghệ, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và công nghiệp công nghệ cao. Các giải pháp chiến lược gồm: (i) Phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm nội địa và quốc tế; (ii) Hoàn thiện cơ chế sandbox cho fintech, AI, blockchain, kinh tế nền tảng; (iii) Đa dạng hóa thị trường vốn, phát triển thị trường cổ phiếu công nghệ và trái phiếu đổi mới sáng tạo.
Hiện nay, việc đầu tư cho chuyển đổi số và kinh tế dữ liệu đang được hình thành mạnh mẽ. Tuy nhiên, các doanh nghiệp công nghệ, startup vẫn còn thiếu vốn. Các thủ tục quy định về thế chấp tài sản vẫn còn khó khăn đối với các doanh nghiệp này tiếp cận nguồn vốn. Do vậy, cần có giải pháp chính sách, quy định rõ việc chuyển trọng tâm từ cấp tín dụng dựa trên tài sản thế chấp sang đánh giá dựa trên mô hình kinh doanh và tiềm năng công nghệ.
Thứ ba, tăng cường và đẩy mạnh có hiệu quả thu hút FDI chất lượng cao, tham gia sâu chuỗi giá trị toàn cầu.
Giai đoạn 2026 - 2030 cần chuyển hẳn sang thu hút FDI có chọn lọc: (i) Ưu tiên công nghệ bán dẫn, chip, AI, trung tâm thiết kế và R&D; (ii) Yêu cầu chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp nội địa; (iii) Xây dựng cụm công nghiệp công nghệ cao gắn với đào tạo nhân lực chất lượng cao.
Nước ta đã bước sang giai đoạn phát triển mới, có sự sàng lọc các nhà đầu tư nước ngoài để lựa chọn công nghệ, chiến lược và sản phẩm tương ứng với nội lực và chiến lược phát triển mới của đất nước. Với mục tiêu phát triển bền vững, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu... Nhu cầu về vốn nước ngoài đối với Việt Nam không giảm mà luôn kỳ vọng sự gia tăng hơn nữa. Tuy nhiên, vốn gia tăng cần đi kèm các điều kiện về công nghệ, dây chuyền, công nghệ sản xuất phải hiện đại, tiên tiến. Việt Nam ưu tiên các nhà đầu tư lớn với chiến lược đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên như bán dẫn, chip, AI... để đưa Việt Nam trở thành trung tâm công nghệ của khu vực, thu hút nhân lực chất lượng cao và tạo hệ sinh thái mới trong ngành công nghệ điện tử.
Thứ tư, phát triển tài chính xanh và kinh tế số làm động lực tăng trưởng mới.
Tăng trưởng 2 con số phải đi đôi với phát triển bền vững. Vì vậy, cần: Mở rộng tín dụng xanh, trái phiếu xanh; Đầu tư mạnh vào năng lượng tái tạo, lưu trữ năng lượng, kinh tế tuần hoàn; Xây dựng thị trường carbon và cơ chế định giá phát thải. Song song đó, kinh tế số phải trở thành một trong những động lực chính của GDP, với tỷ trọng ngày càng cao trong tổng sản phẩm quốc nội.
Thứ năm, thực hiện có hiệu quả cải cách thể chế tài chính - đầu tư theo chuẩn quốc tế.
Muốn tăng trưởng cao và ổn định, cần cải cách mạnh mẽ thể chế: (i) Minh bạch hóa môi trường đầu tư; (ii) Đơn giản hóa thủ tục hành chính; (iii) Ứng dụng công nghệ số trong quản lý thuế, ngân sách và đầu tư công (iv) Tăng cường giám sát rủi ro tài chính. Thời gian qua, công tác xây dựng thể chế luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm, chỉ đạo thực hiện, trong đó chủ trương định hướng tiếp tục đổi mới tư duy xây dựng pháp luật với cách tiếp cận mở, sáng tạo, mạnh dạn thí điểm đối với những vấn đề thực tiễn mới đặt ra; bảo đảm yêu cầu “Thể chế thông thoáng - Hạ tầng thông suốt - Quản trị thông minh”; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, khơi dậy mọi tiềm năng và các nguồn lực đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng của dân tộc.
Thời gian tới, Chính phủ sẽ tiếp tục thể chế hóa và triển khai hiệu quả các Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước và đề án phát triển kinh tế có vốn nước ngoài để nâng cao sức cạnh tranh, khả năng thích ứng hiệu quả của các doanh nghiệp trong nước trên thị trường quốc tế, thu hút và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực trong và ngoài nước đáp ứng yêu cầu huy động vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số gắn với ổn định kinh tế vĩ mô.
Thứ sáu, nâng cao năng lực hấp thụ vốn và phát triển nguồn nhân lực số.
Tài chính và đầu tư chỉ phát huy hiệu quả khi nền kinh tế có năng lực hấp thụ công nghệ. Do đó: (i) Đầu tư mạnh cho giáo dục STEM, đào tạo kỹ sư công nghệ cao; (ii) Kết nối đại học - viện nghiên cứu doanh nghiệp; (iii) Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số.
Cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi sâu sắc thị trường lao động toàn cầu. Trong bối cảnh đó, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững của mỗi quốc gia và đô thị.
Đối với Việt Nam - một quốc gia đang trong giai đoạn “dân số vàng” nhưng đứng trước nguy cơ tụt hậu về công nghệ - bài toán phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với ứng dụng AI và đổi mới sáng tạo có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.
Do vậy, phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên số không đơn thuần là đào tạo lao động mà là xây dựng con người có năng lực học tập suốt đời, biết hợp tác với công nghệ và làm chủ các hệ thống thông minh. Đây chính là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của đô thị và quốc gia trong dài hạn”
Thứ bảy, bảo đảm ổn định vĩ mô - nền tảng cho tăng trưởng hai con số.
Tăng trưởng nhanh nhưng phải bền vững. Vì vậy, cần: (i) Kiểm soát lạm phát và nợ công ở mức an toàn; (ii) Nâng cao hiệu quả đầu tư công, chống thất thoát, lãng phí; (iii) Bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và thị trường vốn.
Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong giai đoạn tới, nền kinh tế nước ta phải bảo đảm duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế, bảo đảm tự chủ chiến lược, tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế đất nước nhanh và bền vững cả trong trước mắt và dài hạn…trong đó cần chú trọng những giải pháp lớn như: Phải bảo đảm duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế, bảo đảm tự chủ chiến lược, tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế đất nước nhanh và bền vững cả trong trước mắt và dài hạn. Thúc đẩy mạnh mẽ và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, đồng thời kiến tạo, khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng mới; Tiếp tục đẩy nhanh tái cơ cấu nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; phát triển các ngành kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; khai thác tốt không gian kinh tế biển, không gian kinh tế tầm thấp và không gian vũ trụ cũng như không gian trong lòng đất. Bên cạnh đó, phát huy cao nhất vai trò của các khu vực kinh tế, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân, nâng cao hiệu quả kinh tế Nhà nước, phát triển kinh tế tập thể hiệu quả bền vững; tiếp tục nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng vốn đầu tư nước ngoài theo chuẩn mực mới; phát huy vai trò dẫn dắt tăng trưởng của các vùng động lực, các hành lang kinh tế và các cực tăng trưởng; Khai thác hiệu quả hơn nữa các thị trường quốc tế, đa dạng hóa các thị trường, đồng thời đẩy mạnh phát triển thị trường nội địa thực sự trở thành động lực bền vững cho tăng trưởng. Tái cấu trúc chiến lược xuất khẩu, chuyển mạnh từ chiếm lĩnh thị trường bằng giá rẻ sang chiến lược xuất khẩu dựa trên thương hiệu, tiêu chuẩn cao và sản phẩm có hàm lượng công nghệ giá trị gia tăng cao; khai thác sâu lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) và các thị trường mới nổi.
Bên cạnh đó, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn vốn để phục vụ tăng trưởng mức cao từ cả 3 kênh: Đầu tư công, đầu tư tư nhân trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài; thúc đẩy đầu tư tư nhân và phát triển thị trường vốn đa dạng để huy động vốn trung-dài hạn cho nền kinh tế; khuyến khích mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm, công ty công nghệ tài chính để khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp; tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc, ưu tiên công nghệ cao và tiết kiệm năng lượng; Đẩy mạnh các đột phá về thể chế kinh tế, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và cơ sở hạ tầng làm nền tảng vững chắc để tăng trưởng nhanh, bền vững. Các giải pháp trên phải được thực hiện đồng bộ nhưng có trọng tâm, trọng điểm; tập trung xử lý tốt các nút thắt, điểm nghẽn của tăng trưởng, đồng thời kích thích, phát huy mạnh mẽ các điểm tạo động lực tăng trưởng lan tỏa cho nền kinh tế. Đồng thời, xác lập và thực hiện mô hình tăng trưởng mới làm nền tảng để thực hiện yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững dựa trên nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của nền kinh tế với nền tảng chủ yếu là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, bảo đảm sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả.
KẾT LUẬN
Giai đoạn 2026 - 2030 với mục tiêu tăng trưởng 2 con số đòi hỏi sự chuyển đổi căn bản trong chiến lược tài chính và đầu tư. Từ việc tái cơ cấu đầu tư công, phát triển thị trường vốn, thu hút FDI chất lượng cao đến phát triển tài chính xanh và nguồn nhân lực số, tất cả phải hướng tới mục tiêu chung: nâng cao năng suất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số toàn diện. Khi tài chính và đầu tư thực sự trở thành đòn bẩy cho khoa học - công nghệ, Việt Nam sẽ có cơ sở để bứt phá mạnh mẽ, rút ngắn khoảng cách phát triển và tiến nhanh trên con đường hiện đại hóa đất nước.
Tài liệu tham khảo:
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng https://baochinhphu.vn/ toan-van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-102260206211344712.htm.
- Quốc hội (2025), Đánh giá tình hình và kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết số 31/2021/QH15 ngày 12/11/2021 của Quốc hội về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021-2025. Báo cáo số 952/BC-CP ngày 17/10/2025.
| Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in Kỳ 1 - Tháng 3/2026 |
Tin tức khác
Đưa bất động sản chưa đủ điều kiện vào kinh doanh, sàn giao dịch bị phạt tới 600 triệu đồng
Gấp rút xử lý 396 văn bản quy phạm pháp luật trước ngày 1/3/2027
Tổng rà soát hệ thống pháp luật: Nhận diện những điểm nghẽn cần tháo gỡ
Dùng 2 tài khoản tạo cung cầu giả, một cá nhân bị phạt 1,5 tỷ đồng
Loạt chính sách kinh tế mới có hiệu lực từ tháng 9/2026
Thuốc lá lậu trên không gian số: Bài toán cần tính đến trong chính sách kiểm soát thuốc lá
Việt Nam tạo thêm “điểm cộng” để hút dòng vốn quốc tế
PODCAST: Làm sạch mã số thuế năm 2026: Đòn bẩy giúp hơn 3.000 doanh nghiệp tái gia nhập thị trường
VIDEO: Bộ Tài chính tiếp tục thực hiện hiệu quả cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính
PODCAST: Chủ động điều hành giá, giữ ổn định cuối năm
PODCAST: Vốn hóa thị trường chứng khoán tương đương 78,7% GDP
PODCAST: Bộ Tài chính đề xuất siết chi tiền mặt và mở rộng thanh toán qua tài khoản qua Kho bạc
Đổi cách tạo ra tăng trưởng, mở đường cho Việt Nam bứt phá đến năm 2045
Tạo điều kiện để Việt Nam tham gia các siêu dự án về bán dẫn, AI của Hàn Quốc
Hai tân Phó Tổng Thanh tra Chính phủ nhận nhiệm vụ mới
Việt Nam - Myanmar: Củng cố tin cậy, mở rộng hợp tác trong giai đoạn phát triển mới
Hợp tác nghị viện chặt chẽ, thúc đẩy triển khai tầm nhìn chiến lược về liên kết kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
Hỗ trợ sinh kế, tái định cư cho người dân bị thu hồi đất thực hiện dự án điện hạt nhân
Hôm nay, Hà Nội lấy ý kiến về Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng
Đồng bộ các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu, đưa mục tiêu tăng trưởng về đích sớm năm 2026
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn gặp mặt Mạng lưới Đổi mới sáng tạo và chuyên gia Việt Nam tại Hàn Quốc
Nhà đầu tư châu Âu sẽ đồng hành, hiện thực hóa mục tiêu táo bạo của Nghị quyết 10-NQ/TW
Mở cơ chế, khơi nguồn lực cho doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt tăng trưởng
TP. Hồ Chí Minh hoàn thiện cơ chế ưu đãi cho Khu thương mại tự do và logistics tích hợp
Kích hoạt nguồn lực tư nhân từ “vốn mồi” ngân sách
Xuất khẩu thủy sản Việt Nam: Đa dạng thị trường để giữ đà tăng trưởng
Kết nối dữ liệu thời gian thực trong hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch
Huế thúc đẩy kinh tế đêm tại Đại Nội theo phương thức PPP
Để FDI không còn là “ốc đảo”, cần tiêu chí đo hiệu quả đầu tư













