Hoàn thiện thể chế, mở rộng không gian phát triển để xây dựng quốc gia biển mạnh
![]() |
| Quy hoạch không gian biển quốc gia được xác định là công cụ quan trọng để tổ chức lại không gian phát triển. |
Ngày 7/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 218/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Chương trình hành động xác định các nhiệm vụ trọng tâm, có tính đột phá trong giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045, gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư công, tài chính - ngân sách, quy hoạch và chương trình công tác hằng năm; đồng thời để các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch thực hiện.
Điểm đáng chú ý là phát triển quốc gia biển mạnh được đặt trong một cách tiếp cận tổng thể, từ hoàn thiện thể chế, quy hoạch không gian biển đến huy động nguồn lực, phát triển doanh nghiệp, khoa học công nghệ, hạ tầng, các ngành kinh tế biển và bảo vệ môi trường. Theo đó, biển không chỉ được nhìn nhận là không gian khai thác tài nguyên mà còn là không gian phát triển mới, nơi có thể hình thành các ngành kinh tế hiện đại, các cực tăng trưởng và những chuỗi giá trị có khả năng tham gia sâu hơn vào thị trường khu vực, quốc tế.
Để khai thác hiệu quả không gian phát triển biển, trước hết cần tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế. Nghị quyết số 218/NQ-CP yêu cầu rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển, hải đảo và các lĩnh vực liên quan như đất đai, tài nguyên, môi trường, khoa học, công nghệ và các ngành kinh tế biển, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, minh bạch, ổn định, khả thi và có sức cạnh tranh quốc tế. Đây là yêu cầu có ý nghĩa nền tảng. Đáng chú ý, Chính phủ yêu cầu hoàn thiện hồ sơ dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), trong đó làm rõ cơ chế giao, cho thuê, sử dụng và khai thác không gian biển; nghĩa vụ tài chính; bảo vệ tài nguyên, môi trường; phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm và xử lý xung đột trong sử dụng biển. Việc xác lập rõ các cơ chế này sẽ tạo cơ sở pháp lý minh bạch hơn cho hoạt động đầu tư, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các chủ thể trong sử dụng tài nguyên và không gian biển.
Cùng với thể chế, quy hoạch không gian biển quốc gia được xác định là công cụ quan trọng để tổ chức lại không gian phát triển. Chính phủ yêu cầu rà soát, cập nhật, điều chỉnh Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; ban hành quy định, hướng dẫn kỹ thuật về phân vùng chức năng, sử dụng không gian biển; thiết lập cơ chế cập nhật, điều chỉnh linh hoạt, định kỳ và xây dựng bản đồ số, cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, giám sát quy hoạch.
Yêu cầu này cho thấy quản trị không gian biển đang chuyển dần từ phương thức quản lý theo từng ngành, từng lĩnh vực sang cách tiếp cận tổng hợp, dựa trên dữ liệu. Khi các hoạt động hàng hải, thủy sản, năng lượng, du lịch, bảo tồn và khai thác tài nguyên được đặt trong một không gian quy hoạch thống nhất, khả năng nhận diện và xử lý xung đột lợi ích sẽ được nâng lên. Bản đồ số và cơ sở dữ liệu cũng tạo điều kiện tăng tính minh bạch trong giám sát, điều chỉnh và thực hiện quy hoạch.
Một động lực quan trọng khác là huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Chương trình hành động yêu cầu hoàn thiện cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển quốc gia biển mạnh; đa dạng hóa các hình thức huy động vốn đầu tư, ưu tiên những lĩnh vực, địa bàn và dự án trọng điểm có sức lan tỏa lớn; đồng thời rà soát, đề xuất cơ chế hợp tác công tư, tài chính xanh, tài chính biển bền vững và cơ chế chia sẻ rủi ro và các công cụ huy động vốn hợp pháp khác cho hạ tầng biển, năng lượng ngoài khơi, logistics, cảng biển, nuôi biển công nghệ cao và các ngành kinh tế biển mới.
Trong bối cảnh các dự án biển thường đòi hỏi vốn lớn, công nghệ cao và thời gian thu hồi dài, việc đa dạng hóa nguồn lực có ý nghĩa quan trọng. Nhà nước có vai trò kiến tạo thể chế, đầu tư hạ tầng nền tảng và định hướng phát triển; trong khi doanh nghiệp cần trở thành lực lượng trực tiếp tổ chức sản xuất, đổi mới công nghệ và hình thành chuỗi giá trị. Chính phủ cũng định hướng phát triển các doanh nghiệp biển có năng lực tài chính, công nghệ và quản trị, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với các tập đoàn đa quốc gia.
Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số được đặt vào vị trí động lực của quá trình hiện đại hóa kinh tế biển. Nghị quyết yêu cầu phát triển các chương trình nghiên cứu, ứng dụng công nghệ biển, đại dương và khai thác biển sâu; đầu tư hạ tầng nghiên cứu, tàu nghiên cứu và thiết bị ngầm tiên tiến; xây dựng, kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia về biển, bản đồ số đại dương, hệ thống quan trắc, giám sát biển thông minh và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị biển.
Từ nền tảng đó, các ngành kinh tế biển được định hướng phát triển theo mô hình hiện đại, xanh, thông minh và sử dụng tiết kiệm tài nguyên. Trong lĩnh vực hàng hải, trọng tâm là cảng biển xanh, thông minh, đội tàu vận tải biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu, logistics hàng hải, đồng thời tăng kết nối với đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và hàng không. Chính phủ cũng yêu cầu rà soát, điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Đối với thủy sản, định hướng cơ cấu lại ngành theo hướng giảm khai thác ven bờ, đẩy mạnh khai thác xa bờ có trách nhiệm và phát triển nuôi biển công nghiệp, công nghệ cao. Cùng với đầu tư hạ tầng, giống, bảo quản, chế biến và bảo hiểm thủy sản, Chính phủ tiếp tục yêu cầu tháo gỡ khó khăn trong công tác phòng, chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), tăng cường kiểm soát hoạt động khai thác, truy xuất nguồn gốc và thực thi pháp luật trên biển. Công nghệ số, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo và năng lượng tái tạo được định hướng ứng dụng vào nuôi biển, từng bước hình thành các hệ thống lồng nuôi thông minh.
![]() |
| Thủy sản phát triển nuôi biển công nghiệp, công nghệ cao. (Ảnh minh họa có sự hỗ trợ của AI) |
Không gian kinh tế biển cũng được mở rộng sang những lĩnh vực mới. Du lịch biển được định hướng phát triển các sản phẩm xanh, du lịch tàu biển, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, kinh tế đêm và lễ hội biển. Đồng thời, Chính phủ đặt yêu cầu xây dựng cơ chế phát triển nuôi biển công nghệ cao, dược liệu biển, công nghệ sinh học biển, khử mặn nước biển, điện sóng, hydrogen, amoniac xanh và hạ tầng cáp ngầm biển.
Mở rộng không gian phát triển cũng đồng nghĩa với yêu cầu phát triển đồng bộ hạ tầng biển, ven biển và hải đảo. Chương trình hành động định hướng hình thành các cực tăng trưởng, trung tâm kinh tế, hành lang kinh tế và vùng động lực gắn với mạng lưới đô thị quốc gia; đồng thời yêu cầu các địa phương ven biển tích hợp mục tiêu xây dựng quốc gia biển mạnh vào quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp và các khu chức năng ven biển.
Tuy nhiên, phát triển kinh tế biển không thể tách rời bảo vệ hệ sinh thái. Chính phủ yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi nguồn lợi thủy sản, bảo vệ rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển; kiểm soát nguồn thải và rác thải nhựa; nâng cao năng lực quan trắc, dự báo thiên tai, xâm nhập mặn, xói lở bờ biển và các rủi ro sinh thái. Đây là điều kiện để bảo đảm sự cân bằng giữa khai thác và bảo tồn, giữa tăng trưởng trước mắt và năng lực phát triển lâu dài.
Với phạm vi triển khai từ năm 2026 đến 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết 218/NQ-CP đặt ra một khung hành động tương đối toàn diện, trong đó các nhiệm vụ được phân công gắn với sản phẩm, tiến độ và nguồn lực thực hiện. Các bộ, ngành, địa phương được yêu cầu chủ động cập nhật chương trình, kế hoạch hành động, xác định rõ nhiệm vụ và trách nhiệm; những nhiệm vụ đã đủ điều kiện phải được tổ chức thực hiện ngay, gắn kết quả với trách nhiệm của người đứng đầu.
Từ hoàn thiện thể chế đến đổi mới quy hoạch, từ huy động nguồn lực đến phát triển công nghệ, hạ tầng và các ngành kinh tế biển mới, chương trình hành động đã tạo nền tảng để Việt Nam chuyển mạnh từ khai thác lợi thế biển sang tổ chức và phát triển một không gian kinh tế biển có giá trị gia tăng cao. Khi thể chế được hoàn thiện, quy hoạch được quản trị bằng dữ liệu, hạ tầng được kết nối và kinh tế biển gắn với bảo vệ hệ sinh thái, không gian biển sẽ trở thành động lực mới cho tăng trưởng. Đây chính là nền tảng để mở rộng không gian phát triển và từng bước xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh
Tin tức khác
Thị trường tài sản mã hóa cần “luật chơi” về công khai thông tin
Hàng hóa phái sinh: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho công cụ phòng ngừa rủi ro giá
Thông tư về quản lý nguồn thu từ chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp tiếp tục có hiệu lực
Bộ Tài chính khẩn trương xây dựng loạt nghị định để đưa luật mới vào cuộc sống
Bộ Tài chính yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát lĩnh vực kế toán
Mở cơ chế phát triển khu kinh tế đặc biệt thành cực tăng trưởng mới
Siết kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng và ban hành văn bản pháp luật
VIDEO: Tham gia vào chỉ số thị trường mới nổi của FTSE GEIS - Dấu mốc lịch sử với thị trường tài chính Việt Nam
PODCAST: Thị trường chứng khoán Việt Nam tuần 14-18/9/2026
VIDEO: Tháo gỡ nút thắt tỷ giá tính thuế cho hàng xuất khẩu
VIDEO: Thu ngân sách hải quan 8 tháng tăng 17,4%: Động lực từ cải cách thủ tục và Hải quan số
PODCAST: Thông tin cá nhân bị dùng để lập doanh nghiệp: Người dân cần làm gì?
Thông điệp Việt Nam về hòa bình, hợp tác và củng cố lòng tin cùng phát triển
Giám đốc Kho bạc Nhà nước Trần Quân được điều động giữ chức Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lạng Sơn
Tổng kết thực hiện Luật Quốc phòng, Dân quân tự vệ và Giáo dục quốc phòng, an ninh
Triển khai Luật Phát triển đô thị từ ngày 1/10/2026
Hoàn thiện hành lang pháp lý, chuẩn hóa quy trình và thủ tục chỉ định thầu
Lượng hóa đóng góp của văn hóa vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Quản lý nguồn thu từ cơ cấu lại vốn nhà nước để đầu tư vào doanh nghiệp và hạ tầng trọng điểm
Ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật trên phạm vi toàn quốc
Giữ nhịp tăng trưởng cao, tạo sức bật dài hạn cho kinh tế Việt Nam
Vốn cho hạ tầng không thể chỉ dựa vào ngân hàng
Đánh thức nguồn lực 6 triệu người Việt Nam ở nước ngoài cho tăng trưởng
CEO Techcombank: Tăng trưởng GDP 10%, Việt Nam cần khoảng 1.100 tỷ USD vốn trong 5 năm tới
Rà soát kỹ hiệu quả, nguồn vốn và sự cần thiết đầu tư dự án cao tốc Bảo Hà - Lai Châu
Hướng tới tăng trưởng 10%, UOB nhấn mạnh hiệu quả sử dụng vốn
TP. Hồ Chí Minh tăng tốc các tháng cuối năm, đảm bảo tăng trưởng 2 con số
Mở dư địa mới cho thương mại biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc
Du lịch trải nghiệm Việt Nam: Chuyển tiềm năng thành giá trị tăng trưởng










