Dòng tiền tuần qua: Fed giữ lãi suất, áp lực tiền tệ trong nước tăng lên
![]() |
| Dư địa tiền tệ thu hẹp, tín dụng cần đi đúng địa chỉ. |
Fed giữ nguyên lãi suất, dư địa tiền tệ của Việt Nam thu hẹp
Tâm điểm lớn nhất trong tuần là quyết định của Fed giữ nguyên lãi suất điều hành trong vùng 3,5-3,75%. Quyết định này cho thấy Fed vẫn thận trọng trước rủi ro lạm phát, nhất là trong bối cảnh giá năng lượng và căng thẳng địa chính trị còn nhiều bất định.
Với Việt Nam, việc Fed chưa giảm lãi suất khiến dư địa điều hành chính sách tiền tệ tiếp tục bị thu hẹp. Khi lãi suất USD duy trì ở mức cao, áp lực lên tỷ giá, dòng vốn và mặt bằng lãi suất trong nước vẫn hiện hữu. Theo các chuyên gia, Việt Nam vẫn muốn duy trì chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng, nhưng khi Fed giữ lãi suất cao, việc giảm mạnh lãi suất trong nước sẽ khó khăn hơn. Nếu chênh lệch lãi suất VND - USD bị thu hẹp quá nhanh, áp lực tỷ giá có thể quay trở lại.
Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, trong 5 tháng đầu năm 2026, cả lãi suất huy động và cho vay đều có xu hướng tăng so với đầu năm. Nếu trong tháng 1, lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 6-12 tháng phổ biến ở mức 4,8 - 6,3%/năm thì đến tháng 5 đã tăng lên 5,9 - 7,4%/năm, tức tăng khoảng 1,1 điểm phần trăm.
Ở kỳ hạn trên 24 tháng, lãi suất từ mức 6,7 - 6,9%/năm trong tháng 1 đã tăng lên 7,1 - 7,6%/năm vào tháng 5. Bản tin của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cũng cho biết, lãi suất huy động thực tế, bao gồm cả các chương trình ưu đãi, đã được đẩy lên vùng 8-9%/năm đối với kỳ hạn 6-12 tháng.
Diễn biến cho vay cũng cùng chiều. Lãi suất cho vay bình quân bằng VND đối với các khoản vay mới và cũ còn dư nợ tăng từ 7,0 - 9,3%/năm trong tháng 1 lên 8,0 - 10,1%/năm vào tháng 5. Dù vậy, lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên vẫn được duy trì ở mức thấp, phổ biến khoảng 3,8 - 3,9%/năm, thấp hơn trần 4%/năm theo quy định.
Tuy nhiên, lãi suất tăng không đồng nghĩa Việt Nam bước vào chu kỳ thắt chặt tiền tệ mới. Diễn biến này chủ yếu phản ánh nhu cầu vốn phục hồi, áp lực thanh khoản và tác động từ môi trường tài chính quốc tế.
Tiền gửi dân cư lập đỉnh nhưng lãi suất vẫn khó hạ
Một nghịch lý đáng chú ý là tiền gửi dân cư tiếp tục lập đỉnh, nhưng mặt bằng lãi suất vẫn khó giảm sâu. Theo Ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 3/2026, tiền gửi dân cư đã đạt hơn 10,56 triệu tỷ đồng, tăng gần 226.000 tỷ đồng chỉ sau 3 tháng đầu năm. Đây là mức cao nhất từ trước đến nay.
Trong khi đó, tiền gửi của tổ chức kinh tế lại giảm hơn 166.000 tỷ đồng so với cuối năm 2025, còn hơn 6 triệu tỷ đồng. Sự phân hóa này cho thấy dòng tiền cá nhân vẫn ưu tiên kênh ngân hàng, trong khi doanh nghiệp có xu hướng sử dụng tiền cho sản xuất, kinh doanh hoặc đối mặt áp lực thanh khoản.
Dù tiền gửi dân cư tăng mạnh, huy động vốn toàn hệ thống vẫn không theo kịp tốc độ tăng tín dụng. Theo Công ty Chứng khoán Rồng Việt, đến tháng 4/2026, huy động vốn toàn hệ thống tăng khoảng 2,2%, trong khi tín dụng tăng 4,4%.
Chính vì vậy, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất thực chất, không chỉ giảm trên biểu niêm yết. Các ngân hàng được yêu cầu kiểm soát các chương trình cộng lãi suất, ưu đãi ngoài, cơ chế phê duyệt lãi suất ngoại lệ và các hình thức cạnh tranh huy động vốn không lành mạnh.
Trong bối cảnh dư địa tiền tệ thu hẹp, bài toán lớn không chỉ là mở rộng tín dụng, mà là dòng vốn phải đi đúng địa chỉ. PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, nếu muốn đạt tăng trưởng cao, nhu cầu tín dụng của nền kinh tế sẽ rất lớn. Tuy nhiên, tín dụng không thể tăng bằng mọi giá, nhất là khi áp lực lạm phát, tỷ giá và thanh khoản vẫn hiện hữu. Dòng vốn cần được ưu tiên vào sản xuất, kinh doanh và các khu vực tạo giá trị thực; đồng thời hạn chế các lĩnh vực sử dụng nhiều vốn nhưng hiệu quả thấp.
Ngân hàng đề xuất nới trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn
Một diễn biến chính sách đáng chú ý khác là Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến dự thảo sửa đổi Thông tư 22/2019/TT-NHNN, trong đó đề xuất nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40%.
Đây là thay đổi quan trọng bởi trong nhiều năm qua, tỷ lệ này được điều chỉnh theo hướng giảm dần nhằm tăng an toàn thanh khoản cho hệ thống. Việc đề xuất nâng trở lại lên 40% cho thấy cơ quan điều hành đang tìm thêm dư địa để hỗ trợ vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế.
Dự thảo cũng bổ sung cơ chế linh hoạt trong việc tính tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động. Cụ thể, ngoài quy định loại trừ 80% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước, dự thảo bổ sung khả năng áp dụng “một tỷ lệ khác” do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định trong từng thời kỳ.
Nếu được ban hành, cơ chế này sẽ giúp nhà điều hành có thêm công cụ xử lý thanh khoản và hỗ trợ khả năng cung ứng vốn của hệ thống ngân hàng khi thị trường biến động.
Cuộc đua tăng vốn ngân hàng lên tới 128.000 tỷ đồng
Áp lực vốn cũng đang trở thành vấn đề nổi bật của ngành ngân hàng. Theo FiinGroup, các ngân hàng niêm yết dự kiến huy động khoảng 128.000 tỷ đồng vốn cổ phần trong năm 2026, cao nhất từ trước đến nay, gấp hơn 7 lần quy mô phát hành của năm 2025.
Nhiều ngân hàng lớn đang dẫn đầu cuộc đua này. BIDV dự kiến huy động khoảng 19.820 tỷ đồng, Vietcombank hơn 15.200 tỷ đồng, VPBank khoảng 13.700 tỷ đồng, HDBank hơn 11.200 tỷ đồng và Nam A Bank khoảng 10.000 tỷ đồng. Phần lớn nguồn vốn mới được bổ sung thông qua phát hành riêng lẻ hoặc phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu nhằm tăng vốn cấp 1.
Làn sóng tăng vốn diễn ra trong bối cảnh nhu cầu tín dụng tiếp tục tăng nhanh hơn tốc độ huy động. Theo các báo cáo ngành ngân hàng, chênh lệch giữa tín dụng và huy động đã lên tới hơn 1,9 triệu tỷ đồng, trong khi tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) bằng VND đang ở mức cao nhất nhiều năm qua. Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng phải chuẩn bị nguồn lực để đáp ứng các chuẩn mực an toàn vốn ngày càng khắt khe và đầu tư mạnh hơn cho chuyển đổi số.
Vì vậy, tăng vốn hiện không chỉ là cuộc đua về quy mô hay thứ hạng, mà còn phản ánh nhu cầu củng cố năng lực tài chính, mở rộng dư địa tín dụng và nâng cao khả năng chống chịu rủi ro của hệ thống ngân hàng trong giai đoạn tăng trưởng mới.
Tín dụng nông nghiệp xanh khó mở rộng
Dòng vốn xanh tiếp tục được chú ý, nhưng việc mở rộng tín dụng xanh, đặc biệt trong nông nghiệp, vẫn gặp nhiều trở ngại. Theo Ngân hàng Nhà nước, dư nợ tín dụng xanh toàn hệ thống ước đạt khoảng 850.000 tỷ đồng vào cuối năm 2025, tăng 30% so với năm 2023 và chiếm gần 6% tổng dư nợ nền kinh tế. Trong đó, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học chiếm 33%; năng lượng xanh chiếm 24,6%.
Tuy nhiên, nhiều hộ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ vẫn thiếu tài sản bảo đảm, trong khi các mô hình sản xuất xanh, công nghệ mới thường khó thẩm định. Liên kết chuỗi và đầu ra nông sản chưa ổn định cũng là rào cản khiến tín dụng nông nghiệp xanh khó mở rộng.
Các chuyên gia cho rằng, muốn tín dụng xanh đi xa hơn, cần cơ chế chia sẻ rủi ro, mở rộng bảo hiểm nông nghiệp và xây dựng hệ sinh thái liên kết giữa ngân hàng, bảo hiểm, doanh nghiệp và người dân.
Giá vàng phục hồi nhưng rủi ro vẫn lớn
Giá vàng tiếp tục là một trong những điểm nóng của dòng tiền tuần qua khi thị trường chứng kiến những nhịp tăng - giảm rất mạnh chỉ trong thời gian ngắn. Dù đã phục hồi đáng kể từ vùng đáy thiết lập đầu tháng 6, giá vàng trong nước vẫn thấp hơn nhiều so với đỉnh lịch sử hơn 190 triệu đồng/lượng hồi đầu năm. Kết thúc tuần giao dịch, vàng miếng SJC được các doanh nghiệp lớn niêm yết quanh 144,2 - 147,2 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra).
Tuy vậy, thị trường vẫn nhận được lực đỡ từ nhu cầu tích trữ vàng của các ngân hàng trung ương. Khảo sát thường niên của Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, 89% nhà quản lý dự trữ dự báo các ngân hàng trung ương toàn cầu sẽ tiếp tục gia tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới, trong khi 45% có kế hoạch mua thêm vàng ngay trong năm tới – mức cao nhất kể từ khi khảo sát được thực hiện. Đáng chú ý, 83% số người được hỏi cho rằng tỷ trọng vàng trong dự trữ ngoại hối toàn cầu sẽ tiếp tục tăng trong 5 năm tới, còn 74% dự báo tỷ trọng của đồng USD sẽ giảm dần.
WGC cũng chỉ ra rằng khả năng duy trì giá trị trong khủng hoảng, bảo toàn tài sản dài hạn và phòng ngừa rủi ro địa chính trị là những lý do quan trọng nhất khiến các ngân hàng trung ương tiếp tục ưu tiên vàng. Điều này cho thấy sức hấp dẫn của kim loại quý vẫn chưa suy giảm bất chấp những biến động mạnh gần đây.
Tuy nhiên, rủi ro ngắn hạn vẫn hiện hữu. Bên cạnh tác động từ chính sách lãi suất của Fed và diễn biến đồng USD, thị trường vàng trong nước còn chịu ảnh hưởng ngày càng lớn từ các biện pháp quản lý. Việc sửa đổi Nghị định 24/2012/NĐ-CP theo hướng tăng minh bạch giao dịch, mở rộng nguồn cung, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, hóa đơn điện tử và tăng cường thanh tra, giám sát đang góp phần thu hẹp chênh lệch giá trong nước - thế giới, đồng thời làm giảm cơ hội đầu cơ ngắn hạn.
Tin tức khác
AIA Elite Summit 2026: Khi di sản và sức khỏe được đặt trong một tầm nhìn dài hạn
VIB đạt giải thưởng ngân hàng bán lẻ tiêu biểu, dẫn đầu xu thế cá nhân hóa
Giá vàng hôm nay: Vàng thế giới quay đầu, SJC đứng giá
Tín dụng năm 2026 được nâng kỳ vọng lên 16,4%, lợi nhuận tiếp tục sáng
Lãi suất - tỷ giá hôm nay: Tiền gửi 12 tháng hút lãi cao, tỷ giá quay đầu giảm
SACOMBANK tăng 13 bậc trong bảng xếp hạng thương hiệu ngân hàng toàn cầu
VPBank được dự báo đạt lợi nhuận quý III trên 10.000 tỷ đồng
Bài 3: Mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội đối với lao động trên nền tảng số
VIDEO: Gia hạn ưu đãi thuế ô tô đến năm 2032: "Cú hích" thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu xe Việt
VIDEO: Mở rộng kênh dẫn vốn cho giai đoạn tăng trưởng mới
PODCAST: Bức tranh tăng trưởng GRDP 9 tháng năm 2026: Những “cú bứt tốc” đáng chú ý
PODCAST: Bộ Tài chính lưu ý 5 nội dung quan trọng trong chấm điểm giải ngân đầu tư công
Thủ tướng Lê Minh Hưng thăm Lào và Campuchia, thúc đẩy quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu
27 thành viên tham gia Ủy ban Quốc gia APEC 2027
Hoàn thành phương án điều phối vật liệu cho các dự án trọng điểm trước ngày 15/10
Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV xem xét nhiều nội dung quan trọng
Thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số và bài toán chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng bền vững
Khai mạc Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV
Đưa đổi mới sáng tạo thành năng lực phát triển của toàn xã hội
Các địa phương tăng tốc, tạo dư địa cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Khơi thông nguồn lực, tạo sức bật cho tăng trưởng 2 con số
Sức mua trực tuyến mở dư địa tăng trưởng cho kinh tế số
Sản xuất, thương mại duy trì đà tăng, tạo nền tảng tăng tốc trong quý IV/2026
JICA: Tăng trưởng 2 con số đặt ra nhu cầu vốn và hạ tầng rất lớn
TP. Hồ Chí Minh khởi công 2 tuyến metro nối Tây Ninh, Bình Dương vào quý IV/2026
Siết điều kiện thành lập khu thương mại tự do
Nông, lâm nghiệp và thủy sản giữ nhịp tăng trưởng, củng cố trụ đỡ nền kinh tế
Từ khai thác biển sang quản trị không gian biển, mở rộng dư địa tăng trưởng
Metro số 4 TP. Hồ Chí Minh dự kiến có 31 nhà ga, dài 45 km








