Tài chính thích ứng biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long
Áp lực khí hậu gia tăng và nhu cầu cấp thiết về tài chính thích ứng
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng kinh tế nông nghiệp chiến lược của cả nước với diện tích khoảng 4 triệu ha, dân số hơn 17 triệu người. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), khu vực này hiện đóng góp gần 50% sản lượng lúa, khoảng 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và gần 90% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Không chỉ đóng vai trò bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, vùng còn là trung tâm của chuỗi giá trị nông sản xuất khẩu.
Tuy nhiên, đây cũng là khu vực chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu tại Việt Nam. Theo Ngân hàng Thế giới, Đồng bằng sông Cửu Long thuộc nhóm ba đồng bằng dễ bị tổn thương nhất thế giới trước nước biển dâng. Nếu mực nước biển tăng 1 mét, khoảng 39% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long có nguy cơ ngập thường xuyên, ảnh hưởng trực tiếp tới sinh kế và hạ tầng kinh tế - xã hội.
Những năm gần đây, tác động của biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét. Đợt hạn hán và xâm nhập mặn lịch sử năm 2019–2020 đã làm hơn 96.000 ha đất nông nghiệp bị ảnh hưởng, hàng trăm nghìn hộ dân thiếu nước sinh hoạt. Cùng với đó, tình trạng sụt lún đất với tốc độ trung bình 1–2 cm/năm và sạt lở bờ sông, bờ biển đang làm gia tăng rủi ro mất đất sản xuất và gia tăng chi phí bảo vệ hạ tầng. Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới, nếu không có giải pháp thích ứng hiệu quả, Đồng bằng sông Cửu Long có thể mất từ 12–14% GDP vào năm 2050 do tác động của biến đổi khí hậu. Điều này cho thấy thích ứng không còn là vấn đề riêng của ngành môi trường mà đã trở thành bài toán phát triển kinh tế vùng.
Trong bối cảnh đó, tài chính thích ứng biến đổi khí hậu được hiểu là nguồn lực tài chính huy động cho các hoạt động nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc khí hậu. Với Đồng bằng sông Cửu Long, nguồn lực này cần được ưu tiên cho hệ thống thủy lợi chống mặn, chống ngập; củng cố đê biển; phục hồi rừng ngập mặn; chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp và đầu tư hạ tầng chống chịu. Tinh thần “thuận thiên” trong Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ đã xác lập hướng tiếp cận mới cho vùng: thích ứng thay vì đối đầu với thiên nhiên. Tuy nhiên, để chuyển từ định hướng chính sách sang hành động thực tiễn, điều kiện tiên quyết là phải bảo đảm nguồn lực tài chính đủ lớn và được phân bổ hiệu quả.
Trước thực trạng đó, đầu tư công vẫn là nguồn lực tài chính chủ đạo. Số liệu của Bộ Tài chính cho thấy, tổng kế hoạch đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước năm 2025 sau điều chỉnh đạt 913.216 tỷ đồng, gồm 437.489 tỷ đồng vốn ngân sách trung ương và 475.727 tỷ đồng vốn ngân sách địa phương. Trong cơ cấu này, nhiều dự án hạ tầng trọng điểm tại Đồng bằng sông Cửu Long được ưu tiên bố trí vốn, đặc biệt là hệ thống giao thông liên vùng, công trình thủy lợi, kiểm soát xâm nhập mặn và chống sạt lở.
Kết quả giải ngân cũng cho thấy xu hướng tích cực hơn. Đến hết năm 2025, tổng vốn đầu tư công giải ngân đạt khoảng 887.581 tỷ đồng, tương đương gần 98% kế hoạch, mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây. Đây là tín hiệu quan trọng cho thấy năng lực thực thi đầu tư công đã được cải thiện, tạo nền tảng thuận lợi cho giai đoạn đầu tư thích ứng 2026–2030.
![]() |
| Hội thảo Đối tác triển khai dự án “Thích ứng biến đổi khí hậu vùng Đồng bằng sông Cửu Long”. |
Ở khu vực ngân hàng, dòng vốn tín dụng xanh cũng đang từng bước được mở rộng. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đến quý I/2026, dư nợ tín dụng xanh toàn hệ thống ước đạt khoảng 730 nghìn tỷ đồng, chiếm gần 4,7% tổng dư nợ nền kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân trên 20% mỗi năm. Trong đó, các lĩnh vực được ưu tiên bao gồm nông nghiệp bền vững, năng lượng tái tạo và các dự án thích ứng khí hậu. Nhiều ngân hàng thương mại đã triển khai các gói tín dụng ưu đãi cho mô hình lúa – tôm, nông nghiệp tuần hoàn, tưới tiết kiệm và nuôi trồng thủy sản công nghệ cao. Đây là tín hiệu tích cực cho thấy hệ thống tổ chức tín dụng bắt đầu nhìn nhận biến đổi khí hậu như một yếu tố cần tích hợp vào chiến lược, thay vì chỉ coi đó là một rủi ro ngoại sinh. Dù vậy, quy mô tín dụng xanh hiện vẫn còn nhỏ so với nhu cầu thực tế, một phần bởi các ngân hàng còn e ngại rủi ro, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp vốn chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thiên tai. Thời gian hoàn vốn dài, lợi nhuận không cao và thiếu cơ chế chia sẻ rủi ro khiến nhiều tổ chức tín dụng chưa mạnh dạn mở rộng cho vay.
Một công cụ khác đang được quan tâm là bảo hiểm nông nghiệp và bảo hiểm rủi ro thiên tai. Trong điều kiện khí hậu ngày càng bất định, bảo hiểm có thể trở thành “tấm đệm” tài chính giúp nông dân giảm thiểu tổn thất và tăng khả năng phục hồi sau thiên tai. Tuy nhiên, thực tế tại Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy, tỷ lệ tham gia bảo hiểm còn rất thấp do chi phí cao, thiếu sản phẩm phù hợp và tâm lý chưa quen với công cụ này.
Nguồn vốn quốc tế hiện đang đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc tài chính thích ứng của vùng. Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á, UNDP và GIZ đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ hàng tỷ USD cho các dự án chống ngập, phục hồi sinh thái và nâng cao năng lực quản trị khí hậu tại vùng. Đây là nguồn lực quan trọng, không chỉ ở góc độ tài chính mà còn ở khía cạnh công nghệ, quản trị và kinh nghiệm quốc tế.
Hoàn thiện hệ sinh thái tài chính khí hậu: Từ huy động vốn đến thiết kế thể chế
Mặc dù đã có những chuyển động tích cực, hệ thống tài chính thích ứng tại Đồng bằng sông Cửu Long vẫn tồn tại nhiều điểm nghẽn cần được tháo gỡ.
Thứ nhất, quy mô nguồn lực tài chính cho thích ứng còn thiếu hụt lớn so với nhu cầu thực tế. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, nhu cầu đầu tư cho thích ứng biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2026–2030 ước khoảng 300–400 nghìn tỷ đồng, tập trung chủ yếu vào hạ tầng thủy lợi, chống sạt lở, quản lý tài nguyên nước và chuyển đổi sinh kế. Điều này cho thấy khoảng cách giữa nhu cầu vốn và khả năng đáp ứng hiện nay vẫn còn rất lớn. Do đó, giải pháp trọng tâm là mở rộng quy mô huy động vốn, trong đó Nhà nước tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt thông qua tăng đầu tư công trung hạn cho các công trình chống chịu liên vùng như thủy lợi, chống sạt lở, đê biển và hạ tầng cấp nước; đồng thời phát huy vai trò “vốn mồi” để kích hoạt các nguồn lực xã hội.
Thứ hai, cơ cấu nguồn vốn hiện còn mất cân đối, phụ thuộc nhiều vào khu vực công và vốn quốc tế, trong khi khu vực tư nhân tham gia còn hạn chế. Nhìn tổng thể, cấu trúc tài chính thích ứng tại Đồng bằng sông Cửu Long hiện vẫn phụ thuộc lớn vào ba trụ cột: ngân sách nhà nước, vốn ODA và tín dụng ngân hàng. Trong khi đó, các nguồn lực từ khu vực tư nhân, quỹ đầu tư khí hậu hay trái phiếu xanh địa phương vẫn còn khá mờ nhạt. Đây là khoảng trống lớn cần sớm được lấp đầy. Để khắc phục, cần thúc đẩy mạnh hơn mô hình hợp tác công – tư (PPP) và tài chính hỗn hợp (blended finance) nhằm chia sẻ rủi ro đầu tư. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu cơ chế phát hành trái phiếu xanh địa phương cho các tỉnh, thành trong vùng như TP. Cần Thơ, Cà Mau nhằm huy động nguồn vốn dài hạn cho các dự án chống ngập, phục hồi hệ sinh thái và hạ tầng thích ứng.
Thứ ba, khả năng tiếp cận vốn của nông hộ, hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ còn nhiều hạn chế. Đây là nhóm chịu tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu nhưng lại khó tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản bảo đảm và hồ sơ tài chính chưa hoàn chỉnh. Vì vậy, cần mở rộng tín dụng xanh quy mô nhỏ, phát triển các chương trình tài chính vi mô thích ứng khí hậu, đồng thời thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng dành riêng cho khu vực nông nghiệp và kinh tế hợp tác tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Thứ tư, thiếu cơ chế chia sẻ rủi ro đang làm giảm động lực tham gia của hệ thống ngân hàng và nhà đầu tư tư nhân. Để xử lý điểm nghẽn này, cần phát triển mạnh bảo hiểm nông nghiệp và bảo hiểm rủi ro thiên tai, trong đó Nhà nước hỗ trợ một phần phí bảo hiểm cho người dân và doanh nghiệp nhỏ. Đây sẽ là công cụ quan trọng giúp giảm tổn thất tài chính sau thiên tai và tăng khả năng phục hồi của khu vực sản xuất.
Thứ năm, khung pháp lý cho tài chính thích ứng chưa đồng bộ và thiếu tiêu chí nhận diện dự án khí hậu. Điều này khiến việc huy động vốn quốc tế và giám sát hiệu quả đầu tư gặp khó khăn. Vì vậy, Việt Nam cần sớm ban hành taxonomy tài chính khí hậu quốc gia, trong đó xác định rõ danh mục dự án thích ứng ưu tiên cho các vùng dễ tổn thương như Đồng bằng sông Cửu Long. Đây sẽ là cơ sở để chuẩn hóa dòng vốn, nâng cao minh bạch và tạo niềm tin cho nhà đầu tư.
Thứ sáu, năng lực chuẩn bị và hấp thụ vốn của nhiều địa phương trong vùng còn hạn chế. Không ít dự án thích ứng hiện nay chậm tiến độ hoặc giải ngân thấp do thiếu dữ liệu, chất lượng chuẩn bị đầu tư chưa cao và năng lực quản trị dự án còn yếu. Do đó, cần đầu tư xây dựng hệ thống dữ liệu khí hậu – tài chính vùng, đồng thời nâng cao năng lực cán bộ địa phương trong xây dựng, quản lý và đánh giá dự án thích ứng theo chuẩn quốc tế.
Về dài hạn, cần thay đổi tư duy chính sách: tài chính thích ứng không nên được xem là một khoản chi để xử lý hậu quả thiên tai, mà là đầu tư chiến lược cho năng lực chống chịu và tăng trưởng dài hạn. Các địa phương trong vùng như TP. Cần Thơ, Cà Mau, Bến Tre có thể nghiên cứu phát hành trái phiếu xanh địa phương cho các dự án chống ngập, cấp nước sạch, phục hồi rừng ngập mặn và chuyển đổi hạ tầng đô thị theo hướng thích ứng khí hậu.
Quan trọng hơn, theo các chuyên gia kinh tế, cần thay đổi tư duy đầu tư. Theo đó, tài chính thích ứng không nên được nhìn nhận là khoản chi để “khắc phục hậu quả”, mà là đầu tư cho năng lực chống chịu, năng suất dài hạn và khả năng phát triển bền vững của toàn vùng.
Biến đổi khí hậu đang buộc Đồng bằng sông Cửu Long phải bước vào giai đoạn chuyển đổi sâu sắc hơn. Nếu được thiết kế đúng và vận hành hiệu quả, tài chính thích ứng sẽ không chỉ giúp giảm thiểu thiệt hại do thiên tai mà còn tạo động lực tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, thông minh và bền vững hơn. Với một vùng kinh tế chiến lược như Đồng bằng sông Cửu Long, đầu tư cho thích ứng hôm nay chính là đầu tư cho tương lai phát triển của Việt Nam.
Tin tức khác
Lắng nghe từ thực tiễn để hoàn thiện Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất)
Bài 5: Điều hành giá từ sức mạnh của phối hợp chính sách
Giải ngân vốn đầu tư công: Thực thi là khâu quyết định
Việt Nam - Na Uy mở rộng dư địa hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư
Việt Nam - Nhật Bản: Mở rộng hợp tác đầu tư, hướng tới phát triển bền vững
Có đủ cơ sở để kiểm soát lạm phát dưới 5% trong năm 2026
Đảng ủy VINAFOR phát huy vai trò lãnh đạo, tạo nền tảng hoàn thành mục tiêu kinh doanh
VIDEO: Quy định mới về quản lý thuế xuất nhập khẩu: Không phải nộp lại chứng từ đã có trên các cổng thông tin số
VIDEO: Siết chặt nhập khẩu ô tô biếu tặng: Kiểm soát hồ sơ ngay từ đầu thay vì giám sát sau thông quan
VIDEO: Tăng cường hợp tác tài chính và đầu tư chất lượng cao với Australia
PODCAST: Nghị định mới về thuế thu nhập cá nhân; doanh nghiệp cần lưu ý gì?
VIDEO: Bảo hiểm xã hội Việt Nam tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm trong 6 tháng cuối năm 2026
Lắng nghe từ thực tiễn để hoàn thiện Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất)
Trung tâm Báo chí quốc tế sẽ góp phần lan tỏa hình ảnh Việt Nam tại APEC 2027
Việt Nam - Nhật Bản: Mở rộng hợp tác đầu tư, hướng tới phát triển bền vững
Nghị quyết số 10-NQ/TW tạo lực đẩy FDI tăng tốc để hiện thực mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu giải ngân 100% vốn các chương trình mục tiêu quốc gia năm 2026
Phó Thủ tướng Phạm Gia Túc: Petrovietnam phải biến nguồn lực thành tăng trưởng
Chuyển dịch tư duy FDI thế hệ mới: Từ thu hút vốn sang kiến tạo năng lực tự chủ của nền kinh tế
Khẩn trương trình phân bổ vốn Chương trình Mục tiêu quốc gia năm 2026
Hà Nội không điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế 11%
Thống nhất tiêu chuẩn, nâng hiệu quả đầu tư đường sắt đô thị
Giao chỉ tiêu tăng trưởng: "Phép thử" năng lực quản trị, điều hành của địa phương
TP. Hồ Chí Minh tìm lời giải tài chính xanh cho chuyển đổi khu công nghiệp
Thương hiệu quốc gia mở đường nâng tầm giá trị nông sản Việt
Tăng trưởng GDP 10%: Việt Nam bước vào quỹ đạo phát triển mới
Khu kinh tế Dung Quất viết tiếp hành trình bằng chuyển đổi xanh
Hợp tác xã phát triển theo chiều sâu để tăng sức cạnh tranh
VNVC và Sanofi thúc đẩy sản xuất vắc xin thế hệ mới tại Việt Nam










