TP. Hồ Chí Minh tìm lời giải tài chính xanh cho chuyển đổi khu công nghiệp
![]() |
| Phó Viện trưởng HIDS Phạm Bình An phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Việt Cường |
Nhiều tín hiệu tích cực
Ngày 10/7, Viện Nghiên cứu Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HIDS) phối hợp với Trung tâm Climateworks thuộc Đại học Monash (Australia) tổ chức Hội thảo tham vấn về xây dựng định hướng nhu cầu thị trường và khung tài chính bền vững cho các Khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn Thành phố.
Theo Phó Viện trưởng HIDS Phạm Bình An, các yêu cầu về phát triển xanh trên thế giới đang ngày càng trở thành rào cản thương mại mới. Khi Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu và nhiều tiêu chuẩn xanh khác từng bước được áp dụng, doanh nghiệp Việt Nam buộc phải thay đổi nếu muốn duy trì vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Trong bối cảnh đó, xây dựng khung tài chính bền vững cho các KCN không chỉ nhằm huy động vốn mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư công nghệ, giảm phát thải và nâng cao sức cạnh tranh.
Ông Phạm Bình An cho biết từ năm 2024, HIDS cùng Trung tâm Climateworks triển khai Chương trình KCN phát thải ròng bằng 0 (NZIP) tại Việt Nam. Đến nay, chương trình đã xây dựng 2 mô hình tài chính thí điểm tại Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh và KCN Becamex VSIP. Hai vấn đề lớn nhất mà nhóm nghiên cứu đang tập trung tháo gỡ là phát triển thị trường vật liệu xây dựng phát thải thấp và mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho các dự án khử carbon ở quy mô KCN.
Thực tế, quá trình chuyển đổi xanh tại TP. Hồ Chí Minh đã ghi nhận những kết quả bước đầu. Nhiều doanh nghiệp công nghiệp đã chuyển dịch theo hướng sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, giảm phát thải và ứng dụng công nghệ sạch. Các chỉ số về sử dụng điện năng, kiểm soát phát thải và đổi mới công nghệ tại một số doanh nghiệp đã đạt mức triển khai thực tế.
Điển hình là chương trình chuyển đổi KCN Hiệp Phước sang mô hình KCN sinh thái với sự hỗ trợ của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO). Mô hình này giúp các doanh nghiệp cắt giảm gần 23.000 tấn CO₂ mỗi năm, đồng thời tiết kiệm khoảng 66 tỷ đồng chi phí sản xuất.
Trong khu vực, nhiều mô hình xanh cũng đã hình thành. Các KCN VSIP I và VSIP II tại Bình Dương được UNIDO chứng nhận là KCN sinh thái, giảm khoảng 25% năng lượng tiêu thụ và 30% lượng nước thải. Trong khi đó, KCN Phú Mỹ (Bà Rịa - Vũng Tàu cũ) giảm khoảng 15% điện năng tiêu thụ nhờ áp dụng hệ thống quản lý thông minh.
Theo ông Phạm Bình An, những kết quả này cho thấy việc chuyển đổi xanh không còn dừng ở các mô hình thử nghiệm mà đang từng bước hình thành nền tảng để mở rộng trên quy mô toàn Thành phố.
Đề án Chuyển đổi xanh TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2050 cũng xác định rõ lộ trình này. Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 20% KCN vận hành theo mô hình sinh thái và nâng lên khoảng 30% vào năm 2035.
Song song đó, toàn bộ KCN và cụm công nghiệp sẽ lắp đặt điện mặt trời mái nhà, bảo đảm tối thiểu 20% điện tiêu thụ đến từ năng lượng tái tạo. Các mục tiêu khác gồm tăng tỷ lệ doanh nghiệp áp dụng công nghệ sạch, mở rộng mô hình cộng sinh công nghiệp, nâng tỷ lệ tái chế chất thải, tái sử dụng nước và mở rộng các chứng nhận môi trường.
![]() |
| KCN Tân Bình hiện nay. Ảnh: Phạm Thọ |
Theo ông Phạm Bình An, điểm khác biệt của đề án là các mục tiêu đều được lượng hóa và thuộc phạm vi quản lý của Thành phố. Đây sẽ là cơ sở để xây dựng các công cụ tài chính gắn với kết quả giảm phát thải thay vì chỉ hỗ trợ theo lĩnh vực như trước đây.
Gỡ điểm nghẽn để dòng vốn xanh chảy vào KCN
Dù quá trình chuyển đổi xanh đã có những kết quả bước đầu, các chuyên gia cho rằng tài chính vẫn là nút thắt lớn nhất.
Theo ông Võ Hoàng Hải, Phó Tổng giám đốc Nam A Bank, khó khăn đầu tiên là Việt Nam vẫn chưa có hệ thống tiêu chuẩn xanh thống nhất để xác định dự án nào đủ điều kiện tiếp cận nguồn vốn ưu đãi.
Ông cho rằng, một dự án xanh không chỉ được đánh giá qua việc lắp đặt điện mặt trời hay hệ thống xử lý nước thải mà phải xem xét toàn bộ vòng đời sản xuất, từ mức tiêu hao năng lượng, công nghệ sử dụng, lượng phát thải đến khả năng tái chế và tuần hoàn tài nguyên. Trong khi đó, hệ thống phân loại xanh quốc gia vẫn đang được hoàn thiện.
Một rào cản khác là sự thiếu hụt dữ liệu ESG của doanh nghiệp. Muốn phát triển tín dụng xanh, các ngân hàng cần đánh giá không chỉ năng lực tài chính mà còn hiệu quả môi trường và xã hội của dự án. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ trong chuỗi cung ứng, chưa đủ năng lực đo lường và công bố các dữ liệu về phát thải, năng lượng hay sử dụng tài nguyên.
Theo ông Hải, điều này khiến ngân hàng gặp khó khi đánh giá rủi ro và thiết kế các gói tín dụng phù hợp.
Ngoài ra, khoảng cách giữa nhu cầu đầu tư rất lớn và khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp vẫn là bài toán chưa có lời giải. Phần lớn các dự án giảm phát thải cần vốn đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dài và phụ thuộc vào công nghệ mới.
Để tháo gỡ, đại diện Nam A Bank kiến nghị TP. Hồ Chí Minh xây dựng nền tảng dữ liệu ESG dùng chung cho doanh nghiệp trong các KCN. Khi dữ liệu về phát thải carbon, tiêu thụ năng lượng, sử dụng tài nguyên và lộ trình chuyển đổi được chuẩn hóa, doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn khi tiếp cận tín dụng xanh và tham gia chuỗi cung ứng quốc tế.
Song song đó, Thành phố cần phát triển mạnh thị trường vốn xanh, đa dạng hóa các kênh huy động vốn dài hạn thay vì phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng.
Trong khi đó, đại diện HIDS cho rằng, vấn đề hiện nay không phải thiếu nguồn vốn mà thiếu cơ chế dẫn vốn đến đúng các dự án giảm phát thải tại KCN. Bởi, hệ thống chính sách, danh mục cho vay của HFIC cùng định hướng phát triển Trung tâm Tài chính quốc tế đều hướng đến mục tiêu hỗ trợ chuyển đổi xanh, nhưng hiện các công cụ vẫn hoạt động rời rạc và chưa được kết nối bằng một danh mục dự án cụ thể.
Từ đó, HIDS kiến nghị Thành phố xây dựng danh mục các dự án chuyển đổi xanh khả thi tại KCN để kết nối với các nguồn vốn ưu đãi; bổ sung tiêu chí giảm phát thải có thể kiểm chứng làm điều kiện hưởng hỗ trợ lãi suất; chuẩn hóa bộ chỉ số công nghiệp xanh nhằm theo dõi tiến độ chuyển đổi.
![]() |
| Chuyên gia, đại biểu tham dự và đóng góp ý kiến tại hội thảo. Ảnh: Việt Cường |
PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan Điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC- HCMC), cho rằng Thành phố cần lựa chọn một số KCN thí điểm để triển khai mô hình tài chính xanh cấp phân khu. Các khu thí điểm nên có sự sẵn sàng về hạ tầng, doanh nghiệp, dữ liệu, nhu cầu chuyển đổi và khả năng phối hợp với tổ chức tài chính. Không nên triển khai dàn trải ngay từ đầu, mà cần làm thí điểm có chiều sâu, đo lường kết quả rõ ràng, sau đó nhân rộng.
Bên cạnh đó, cần xây dựng bộ tiêu chí dự án xanh áp dụng cho KCN TP. Hồ Chí Minh, hài hòa với chuẩn mực quốc gia và quốc tế. Bộ tiêu chí này là nền tảng để ngân hàng cho vay, nhà đầu tư mua trái phiếu, tổ chức xác nhận đánh giá và cơ quan quản lý giám sát. Ngoài ra, cần có cơ chế phối hợp giữa khu vực công và khu vực tư. Chuyển đổi xanh KCN không thể chỉ là nhiệm vụ của doanh nghiệp hoặc chỉ là chính sách của Nhà nước. Cần một mô hình hợp tác trong đó nhà nước tạo khung chính sách, VIFC- HCMC thiết kế hạ tầng tài chính, ngân hàng và quỹ đầu tư cung cấp vốn, doanh nghiệp triển khai dự án, tổ chức độc lập xác nhận kết quả và người mua quốc tế công nhận giá trị xanh của chuỗi cung ứng.
Tại hội thảo, bà Kate Wallace, Tổng Lãnh sự Australia tại TP. Hồ Chí Minh, cho rằng quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế phát thải ròng bằng 0 đòi hỏi nguồn lực tài chính rất lớn. Australia đang hỗ trợ Việt Nam thông qua nhiều sáng kiến như Quỹ đầu tư tác động ADI trị giá 250 triệu AUD, khoản vay 75 triệu USD cho VPBank phục vụ tài chính xanh và gói hỗ trợ 125 triệu AUD dành cho các dự án đầu tư xã hội, hạ tầng.
Theo bà Wallace, TP. Hồ Chí Minh có nhiều lợi thế để trở thành địa phương đi đầu trong phát triển KCN xanh. Đặc biệt, việc xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế sẽ góp phần thu hút dòng vốn đầu tư quốc tế, phát triển các sản phẩm tài chính xanh và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn phục vụ quá trình chuyển đổi.
Tin tức khác
Tăng trưởng GDP 10%: Việt Nam bước vào quỹ đạo phát triển mới
Khu kinh tế Dung Quất viết tiếp hành trình bằng chuyển đổi xanh
Hợp tác xã phát triển theo chiều sâu để tăng sức cạnh tranh
VNVC và Sanofi thúc đẩy sản xuất vắc xin thế hệ mới tại Việt Nam
Kinh tế đêm trở thành động lực tăng trưởng mới của du lịch TP. Hồ Chí Minh
Nghị quyết số 10-NQ/TW tạo lực đẩy FDI tăng tốc để hiện thực mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Khơi thông nguồn lực phát triển kinh tế biển bền vững
VIDEO: Quy định mới về quản lý thuế xuất nhập khẩu: Không phải nộp lại chứng từ đã có trên các cổng thông tin số
VIDEO: Siết chặt nhập khẩu ô tô biếu tặng: Kiểm soát hồ sơ ngay từ đầu thay vì giám sát sau thông quan
VIDEO: Tăng cường hợp tác tài chính và đầu tư chất lượng cao với Australia
PODCAST: Nghị định mới về thuế thu nhập cá nhân; doanh nghiệp cần lưu ý gì?
VIDEO: Bảo hiểm xã hội Việt Nam tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm trong 6 tháng cuối năm 2026
Việt Nam - Nhật Bản: Mở rộng hợp tác đầu tư, hướng tới phát triển bền vững
Nghị quyết số 10-NQ/TW tạo lực đẩy FDI tăng tốc để hiện thực mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu giải ngân 100% vốn các chương trình mục tiêu quốc gia năm 2026
Phó Thủ tướng Phạm Gia Túc: Petrovietnam phải biến nguồn lực thành tăng trưởng
Chuyển dịch tư duy FDI thế hệ mới: Từ thu hút vốn sang kiến tạo năng lực tự chủ của nền kinh tế
Khẩn trương trình phân bổ vốn Chương trình Mục tiêu quốc gia năm 2026
Hà Nội không điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế 11%
Hà Nội cần xây dựng lại kịch bản tăng trưởng cụ thể đến từng ngành, lĩnh vực, địa phương
Thủ tướng Chính phủ: Không để tổ chức thực thi pháp luật trở thành "điểm nghẽn của điểm nghẽn"
TP. Hồ Chí Minh tìm lời giải tài chính xanh cho chuyển đổi khu công nghiệp
Thương hiệu quốc gia mở đường nâng tầm giá trị nông sản Việt
Tăng trưởng GDP 10%: Việt Nam bước vào quỹ đạo phát triển mới
Khu kinh tế Dung Quất viết tiếp hành trình bằng chuyển đổi xanh
Hợp tác xã phát triển theo chiều sâu để tăng sức cạnh tranh
VNVC và Sanofi thúc đẩy sản xuất vắc xin thế hệ mới tại Việt Nam
Kinh tế đêm trở thành động lực tăng trưởng mới của du lịch TP. Hồ Chí Minh
Nghị quyết số 10-NQ/TW tạo lực đẩy FDI tăng tốc để hiện thực mục tiêu tăng trưởng 2 con số













