Chuyển dịch tư duy FDI thế hệ mới: Từ thu hút vốn sang kiến tạo năng lực tự chủ của nền kinh tế
![]() |
| Vốn FDI vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu, phản ánh vai trò của Việt Nam trong mạng lưới sản xuất khu vực và toàn cầu |
Đây không chỉ là định hướng thu hút FDI, mà còn là yêu cầu nâng cấp năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn phát triển mới. Giờ đây, câu hỏi đặt ra không còn đơn thuần là Việt Nam thu hút được bao nhiêu vốn, bao nhiêu dự án, bao nhiêu lao động, mà là dòng vốn đó mang lại công nghệ gì, tạo giá trị gia tăng bao nhiêu, doanh nghiệp Việt Nam tham gia được đến đâu và năng lực tự chủ của nền kinh tế được nâng lên như thế nào.
Theo nhận định của các chuyên gia, đó cũng là điểm mới có ý nghĩa chiến lược của Nghị quyết số 10-NQ/TW, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn tiếp theo. Nghị quyết khẳng định vai trò của FDI về lượng, nhưng tập trung đặt trọng tâm vào chất. Từ tư duy “mở cửa để thu hút vốn”, Việt Nam chuyển sang tư duy “lựa chọn, sàng lọc và đồng kiến tạo giá trị”. FDI không chỉ là nguồn vốn bổ sung, mà phải trở thành động lực thúc đẩy công nghiệp hóa hiện đại, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo và phát triển doanh nghiệp trong nước.
Dòng vốn tăng mạnh, nhưng yêu cầu chất lượng cao hơn
Thực tiễn 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy, sức hấp dẫn của Việt Nam vẫn rất lớn. Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ; vốn FDI thực hiện đạt 13,03 tỷ USD, tăng 11,2%, mức cao nhất của 6 tháng đầu năm trong 5 năm gần đây. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là lĩnh vực chủ lực, phản ánh vai trò của Việt Nam trong mạng lưới sản xuất khu vực và toàn cầu.
Những con số này là tín hiệu tích cực, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng gay gắt, chuỗi cung ứng quốc tế tái cấu trúc, các nền kinh tế đều tìm cách giành dòng vốn công nghệ cao. Việt Nam có lợi thế về ổn định chính trị, vị trí địa kinh tế, quy mô thị trường, hội nhập sâu rộng và triển vọng tăng trưởng.
Trong xu thế này, các chuyên gia lưu ý rằng chính khi FDI tăng nhanh, yêu cầu quản trị chất lượng dòng vốn càng phải được đặt ra nghiêm túc hơn. Nếu FDI tăng về quy mô nhưng liên kết với doanh nghiệp trong nước còn mỏng, chuyển giao công nghệ hạn chế, tỷ lệ nội địa hóa thấp, lao động chủ yếu ở khâu gia công, thì nền kinh tế có thể lớn lên về sản lượng nhưng chậm trưởng thành về năng lực.
Khi đó, Việt Nam có thể xuất khẩu nhiều hơn, nhưng giá trị giữ lại trong nước chưa tương xứng; công nghiệp phát triển nhanh hơn, nhưng doanh nghiệp nội địa vẫn đứng ngoài các khâu có giá trị cao. Vì vậy, phát triển FDI thế hệ mới phải gắn với mục tiêu nâng cấp mô hình tăng trưởng. Dự án FDI tốt không chỉ là dự án vốn lớn, mà là dự án tạo ra công nghệ mới, kỹ năng mới, chuẩn quản trị mới, thị trường mới và cơ hội mới cho doanh nghiệp Việt Nam.
Cạnh tranh bằng thể chế, hạ tầng và nhân lực
Theo PGS.TS. Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam, trong bối cảnh thuế tối thiểu toàn cầu và cạnh tranh đầu tư thay đổi, ưu đãi thuế không còn là lợi thế tuyệt đối, nhà đầu tư chiến lược ngày càng quan tâm nhiều hơn đến tính ổn định, minh bạch, khả năng dự báo của chính sách; chất lượng hạ tầng logistics, năng lượng, dữ liệu; khả năng cung ứng lao động kỹ thuật; và hiệu quả thực thi của bộ máy công quyền.
![]() |
| “Ưu đãi thế hệ mới” nằm ở thể chế tốt, thủ tục nhanh, hạ tầng đồng bộ và môi trường kinh doanh đáng tin cậy |
Vì vậy, “ưu đãi thế hệ mới” không chỉ nằm ở thuế suất, mà nằm ở thể chế tốt, thủ tục nhanh, hạ tầng đồng bộ và môi trường kinh doanh đáng tin cậy. Điều đó đòi hỏi chính sách FDI phải chuyển từ cạnh tranh bằng ưu đãi sang cạnh tranh bằng năng lực thực thi. Cải cách thủ tục hành chính, minh bạch hóa quy hoạch, rút ngắn thời gian phê duyệt dự án, số hóa quy trình đầu tư, bảo đảm quyền tài sản và nâng cao trách nhiệm giải trình phải trở thành nền tảng thu hút FDI chất lượng cao.
Cùng với đó, cần chuyển từ thu hút nhà đầu tư đơn lẻ sang xây dựng hệ sinh thái công nghiệp. Một dự án FDI lớn chỉ thật sự có ý nghĩa khi kéo theo mạng lưới nhà cung ứng, trung tâm nghiên cứu, dịch vụ logistics, đào tạo nhân lực và doanh nghiệp hỗ trợ trong nước. Nếu thiếu hệ sinh thái, FDI dễ trở thành những “ốc đảo sản xuất”: hoạt động hiệu quả nhưng liên kết hạn chế với nền kinh tế bản địa.
Do đó, mục tiêu không chỉ là mời được “đại bàng”, mà còn phải nuôi dưỡng được đội ngũ doanh nghiệp trong nước đủ năng lực tham gia chuỗi cung ứng. Nhà nước không áp đặt hành chính quan hệ liên kết, nhưng có thể kiến tạo nền tảng: cơ sở dữ liệu nhà cung ứng trong nước, chương trình nâng chuẩn doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ trợ đổi mới công nghệ, tín dụng phù hợp và cơ chế kết nối định kỳ giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam.
Ưu đãi có điều kiện, giám sát bằng kết quả
Nhìn từ góc độ tài chính quốc gia, vị chuyên gia cho rằng Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt ra yêu cầu hoàn thiện chính sách tài khóa theo hướng chọn lọc và hiệu quả hơn. Ưu đãi đầu tư cần gắn với hiệu quả kinh tế - xã hội, không dàn trải, không chạy đua giữa các địa phương bằng giảm thuế, giảm tiền thuê đất hoặc nới điều kiện môi trường. Mọi ưu đãi phải đi kèm cam kết cụ thể về công nghệ, đào tạo lao động, nội địa hóa, liên kết doanh nghiệp Việt Nam, tiêu chuẩn môi trường và đóng góp ngân sách.
![]() |
| Mục tiêu thu hút FDI thế hệ mới phải hướng đến liên kết chặt chẽ và nuôi dưỡng được đội ngũ doanh nghiệp trong nước đủ năng lực tham gia chuỗi cung ứng |
Đặc biệt, cần chuyển từ quản lý đầu vào sang đo lường đầu ra. Thay vì chỉ chú trọng số vốn đăng ký, diện tích đất sử dụng hay số dự án cấp phép, cần đánh giá FDI bằng các tiêu chí thực chất hơn: mức độ chuyển giao công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa, năng suất lao động, chi cho nghiên cứu và phát triển, chất lượng việc làm, liên kết với doanh nghiệp trong nước, tiêu chuẩn môi trường và khả năng lan tỏa quản trị hiện đại.
Để hiện thực hóa tinh thần của Nghị quyết số 10-NQ/TW đi vào cuộc sống tạo lực nhấn bứt phá thu hút FDI chất lượng cao, đóng góp cho việc thực hiện thành công mục tiêu tăng trưởng 2 con số, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long kiến nghị, cần triển khai đồng bộ một số giải pháp.
Thứ nhất, xây dựng danh mục ngành, lĩnh vực và đối tác ưu tiên trong thu hút FDI giai đoạn 2026–2030. Trọng tâm nên là công nghệ cao, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng sạch, logistics hiện đại, trung tâm dữ liệu, tài chính xanh, đổi mới sáng tạo và các ngành tạo giá trị gia tăng cao.
Thứ hai, thiết lập cơ chế ràng buộc mềm nhưng hiệu quả giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Các tập đoàn lớn cần được khuyến khích công bố nhu cầu nhà cung ứng, tiêu chuẩn kỹ thuật và lộ trình nội địa hóa; doanh nghiệp Việt Nam cần được hỗ trợ nâng chuẩn để đủ điều kiện tham gia.
Thứ ba, nâng cấp chính sách đào tạo nhân lực theo đơn đặt hàng của các ngành FDI chiến lược. Cần gắn doanh nghiệp FDI với trường đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và viện nghiên cứu; khuyến khích doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình đào tạo, đào tạo lại lao động và chuyển giao kỹ năng quản trị hiện đại.
Thứ tư, tăng cường quản trị rủi ro trong khu vực FDI, nhất là rủi ro chuyển giá, phụ thuộc thị trường, an ninh dữ liệu, tiêu chuẩn môi trường, lao động và chuỗi cung ứng. Quản lý FDI hiện đại không phải là gây khó cho nhà đầu tư, mà là tạo khuôn khổ minh bạch để nhà đầu tư chân chính yên tâm, đồng thời loại bỏ hành vi lợi dụng ưu đãi hoặc gây tổn hại cho lợi ích quốc gia.
Thứ năm, bảo đảm phối hợp thống nhất giữa Trung ương và địa phương. Nếu Trung ương định hướng chọn lọc nhưng địa phương vẫn chạy theo số lượng dự án, nếu ưu đãi thiếu phối hợp, nếu hậu kiểm lỏng lẻo, thì mục tiêu FDI chất lượng cao khó đạt được. Cần đánh giá địa phương không chỉ bằng quy mô vốn FDI, mà bằng chất lượng dự án, mức lan tỏa, đóng góp ngân sách, bảo vệ môi trường và liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Tin tức khác
Hệ giải pháp năng lượng tích hợp Solar + BESS + EMS tại Solar & Storage Live Vietnam 2026
Mở rộng không gian phát triển, định hình "cực tăng trưởng" công nghiệp miền Trung
Kinh tế Việt Nam tạo điểm sáng giữa nhịp giảm tốc của châu Á
Để mỗi đồng vốn tạo thêm tăng trưởng cho nửa cuối năm 2026
TP. Hồ Chí Minh hỗ trợ nhà đầu tư trên nền tảng số
Muốn tăng trưởng 2 con số, phải bắt đầu từ cải cách cho doanh nghiệp
INFOGRAPHIC: Kết quả thu hút đầu tư tại Khu kinh tế Dung Quất và các khu công nghiệp Quảng Ngãi
PODCAST: Nghị định mới về thuế thu nhập cá nhân; doanh nghiệp cần lưu ý gì?
VIDEO: Bảo hiểm xã hội Việt Nam tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm trong 6 tháng cuối năm 2026
VIDEO: Cách tính thời gian hưởng chế độ đối với người mắc bệnh dài ngày
Bài 3: Vững nguồn cung, ổn định giá lương thực, thực phẩm
PODCAST: Lưu ý các trường hợp tạm hoãn xuất cảnh do nợ thuế
Phó Thủ tướng Phạm Gia Túc: Petrovietnam phải biến nguồn lực thành tăng trưởng
Chuyển dịch tư duy FDI thế hệ mới: Từ thu hút vốn sang kiến tạo năng lực tự chủ của nền kinh tế
Khẩn trương trình phân bổ vốn Chương trình Mục tiêu quốc gia năm 2026
Hà Nội không điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế 11%
Hà Nội cần xây dựng lại kịch bản tăng trưởng cụ thể đến từng ngành, lĩnh vực, địa phương
Thủ tướng Chính phủ: Không để tổ chức thực thi pháp luật trở thành "điểm nghẽn của điểm nghẽn"
Dự kiến Quốc hội họp không thường lệ từ ngày 3 đến 24/8, xem xét 27 nội dung quan trọng
Quản trị doanh nghiệp nhà nước theo hướng hiện đại, có tính lan tỏa
Xây dựng tài chính xanh trở thành động lực huy động nguồn lực cho mục tiêu Net Zero
Phó Thủ tướng Phạm Gia Túc: Petrovietnam phải biến nguồn lực thành tăng trưởng
Chuyển dịch tư duy FDI thế hệ mới: Từ thu hút vốn sang kiến tạo năng lực tự chủ của nền kinh tế
Hệ giải pháp năng lượng tích hợp Solar + BESS + EMS tại Solar & Storage Live Vietnam 2026
Mở rộng không gian phát triển, định hình "cực tăng trưởng" công nghiệp miền Trung
Kinh tế Việt Nam tạo điểm sáng giữa nhịp giảm tốc của châu Á
Để mỗi đồng vốn tạo thêm tăng trưởng cho nửa cuối năm 2026
TP. Hồ Chí Minh hỗ trợ nhà đầu tư trên nền tảng số
Muốn tăng trưởng 2 con số, phải bắt đầu từ cải cách cho doanh nghiệp













