Tác động của tăng trưởng kinh tế đến thực hiện tiến bộ xã hội ở Việt Nam sau 40 năm đổi mới (1986-2026)
GS.TS.Ngô Thắng Lợi
Đại học Kinh tế Quốc dân
Email: [email protected]
LUẬN CỨ CHO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Thứ nhất, phát triển lĩnh vực kinh tế và phát triển lĩnh vực xã hội là hai mặt của quá trình phát triển nền kinh tế. Theo đó, phát triển lĩnh vực kinh tế nhằm mục tiêu gia tăng thu nhập, tạo nên và phát triển tiềm lực kinh tế của đất nước, còn phát triển lĩnh vực xã hội có mục tiêu không ngừng cải thiện sự tiến bộ xã hội cho con người. Trong hai nội dung trên, thực hiện tiến bộ xã hội cho con người, với các nội dung cụ thể (theo nghĩa hẹp) là nâng cao mức sống dân cư (đo bằng mức thu nhập thực), phát triển con ngươi (tính bằng HDI), xóa đói giảm nghèo (đo bằng tỷ lệ hộ nghèo) và thực hiện công bằng xã hội, cả theo chiều rộng (đo bằng hệ số GINI) và chiều sâu (đo bằng hệ số giãn cách thu nhập và tiêu chuẩn 40) là mục tiêu cuối cùng của phát triển, trong khi đó phát triển lĩnh vực kinh tế (thành quả được đo bằng tốc độ tăng trưởng GDP và GDP/người) là điều kiện cần để thực hiện mục tiêu nói trên.
Thứ hai, sự phát triển quan điểm của Đảng và Chính phủ Việt Nam về gắn kết tăng trưởng kinh tế với thực thực hiện tiến bộ xã hội. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001-2010 (phê duyệt tại Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam) đã đặt ra vấn đề gắn kết tăng trưởng kinh tế nhanh với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay từ đầu và trong toàn tiến trình phát triển. Đến Đại hội XIII, XIV và đặc biệt trong Nghị quyết Trung ương 19-NQ/TW, quan điểm Phát triển xã hội bền vững, được Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện rõ với 3 nội dung có liên quan đến gắn kết tăng trưởng kinh tế, đó là: (i) Gắn kết chặt chẽ các chính sách kinh tế với chính sách xã hội; (ii) Phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm để nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước; (iii) Các thành quả của phát triển xã hội phải được bảo đảm vững chắc bằng các thành quả về phát triển kinh tế.
Dựa vào hai luận cứ nói trên, bài viết đưa ra các tiêu chí để đánh giá sự tác động của tăng trưởng đến 4 khía cạnh chủ yếu của tiến bộ xã hội cho con người như Bảng 1.
| BẢNG 1: TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI BỀN VỮNG | ||
| Tiêu chí | Công thức tính toán | Yêu cầu của tính bền vững |
| 1. Hệ số tăng trưởng vì nâng cao mức sống dân cư (GLR) | GLR = % ΔC/% ΔGNI/người | Giá trị GLR nhận giá trị dương (>0) và giá trị dương càng lớn thì mức độ lan tỏa của tăng trưởng đến mức sống dân cư càng cao |
| 2. Hệ số tăng trưởng vì phát triển con người (GHR) | GHR = % ΔHDI/% ΔGNI/người | Giá trị GHR nhận giá trị dương (>0) và giá trị dương càng lớn thì mức độ lan tỏa của tăng trưởng đến phát triển con người càng cao |
| 4. Hệ số tăng trưởng - bất công bằng (GETI) | GETI = % ΔGINI/% ΔGNI/người | Giá trị GETI nhận giá trị nhỏ hơn hoặc bằng không (≤) là tốt. Tuy nhiên trong bối cảnh Việt Nam hiện nay đang nhấn mạnh tăng trưởng nhanh thì có thể chấp nhận GETI dương nhưng và giá trị dương có xu hướng nhỏ dần. |
Nguồn: Đề xuất của tác giả
Dựa vào các tiêu chí trên, bài viết đề xuất 3 cấp độ phản ánh sự tác động của tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ xã hội nhằm để đánh giá thục tế. Theo đó: (i) Cấp độ 1: Thành quả tăng trưởng kinh tế tạo ra sự thay đổi tích cực của các yếu tố tiến bộ xã hội với mức độ cải thiện (thể hiện ở giá trị nhận được ở các tiêu chí) ngày càng cao theo thời gian (giai đoạn sau lớn hơn giai đoạn trước); (ii) Cấp độ 2: Thành quả tăng trưởng kinh tế tạo ra sự thay đổi tích cực của các yếu tố tiến bộ và công bằng xã hội nhưng mức độ cải thiện (thể hiện ở) giá trị nhận được của tiêu chí có xu hướng thấp dần hoặc không ổn định; (iii) Cấp độ 3: Thành quả tăng trưởng kinh tế tạo ra sự thay đổi không tích cực của yếu tố tiến bộ và công bằng xã hội với giá trị nhận được của các tiêu chí có xu hướng ngược chiều so với yêu cầu đặt ra.
![]() |
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ĐẾN TIẾN BỘ XÃ HỘI Ở VIỆT NĂM SAU 40 NĂM ĐỔI MỚI (TÍNH TỪ 1986 ĐẾN 2026)
Những minh chứng tích cực
Một là, Việt Nam là quốc gia đạt mức tăng trưởng GDP trong nhóm cao nhất thế giới
Hình 1 cho thấy, trong thời gian 40 năm, tăng trưởng GDP Việt Nam đạt 6,4%, cao gấp hơn 2 lần so với mức tăng trưởng trung bình toàn cầu, cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Với tốc độ tăng trưởng này, quy mô nền kinh tế đã tăng lên từ 6,7 tỷ USD (năm 1986, đứng thứ 85 thế giới, kém Thái Lan khoảng 13 lần) đến 514 tỷ USD vào năm 2025 (đứng thứ 32 trong bảng xếp hạng toàn cầu và chỉ còn kém Thái lan 12%). Với kết quả trên, Việt Nam đã vượt qua được 2 “cửa ải” quan trọng: từ một nước nằm trong nhóm nghèo nhất thế giới (năm 1986, GDP/người chỉ đạt 99 USD, đứng thứ 122/130 nước), trở thành nước có mức thu nhập trung bình thấp (năm 2009) và nước có mức thu nhập trung bình cao (năm 2025). Sau 17 năm Việt Nam thoát bẫy thu nhập trung bình thấp (nhanh hơn Thái Lan-23 năm, Indonesia, Philipines (khoảng 30 năm) trong bối cảnh với dòng chảy kinh tế thế giới phải trải qua giai đoạn kinh tế toàn cầu đầy biến động, chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch bệnh và các cuộc khủng hoảng chuỗi cung ứng quốc tế, việc duy trì tốc độ tăng trưởng liên tục để thăng hạng được, Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá là một nỗ lực bền và hoàn toàn hợp lý.
Hai là, một số chỉ tiêu phản ánh thành quả tiến bộ xã hội có xu hướng được cải thiện tích cực cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế nhanh
| BẢNG 2: KẾT QUẢ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI CỦA VIỆT NAM | |||
| Năm | Chỉsố HDI | Thứ hạng | Trình độ phát triển |
| 1986 | 0,479 | 122/130 | Phát triển thấp |
| 2000 | 0,583 | 108/174 | Phát triển trung bình |
| 2010 | 0,661 | 113/169 | Phát triển trung bình |
| 2020 | 0,710 | 115/189 | Phát triển cao |
| 2025 | 0,766 | 93/193 | Phát triển cao |
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu Báo cáo phát triển con người của UNDP
Thứ nhất, những thành quả trong phát triển con người
Số liệu Bảng 3 cho thấy, sau 40 năm đổi mới, cùng với thành quả của tăng trưởng GDP, chỉ số HDI (đánh giá phát triển con người) của Việt Nam có một sự thăng hạng đáng kể. Năm 1996, chúng ta nằm trong nhóm nước có chỉ số HDI thuộc nhóm phát triển thấp (đạt 0, 479), đến nay, mặc dù về kinh tế, Việt Nam đang thuộc nhóm phát triển ở mức khởi đầu của trình độ trung bình cao, nhưng với giá trị HDI đạt 7,66, chúng ta đã nằm trong nhóm nước có trình độ phát triển con người thuộc nhóm phát triển cao (theo tiêu chí của UN).
Thứ hai, những cải thiện đáng kể của mức độ công bằng xã hội trong phân phối thu nhập
Bảng 3 cho thấy, nếu so với chuẩn quốc tế, trong thời kỳ 40 năm, mức độ công bằng xã hội trong phân phối thu nhập của Việt Nam có sự biến động, tuy nhiên cho đến nay, các tiêu chí bất công bằng theo chiều rộng (hệ số GINI) và bất công bằng theo chiều sâu (Chỉ số Khoảng giãn cách thu nhập, và Tiêu chuẩn 40) về thu nhập, chúng ta đang ở mức bất công bằng thấp. Đây chính là cơ sở, tiền đề quan trọng để Chính phủ Việt Nam đưa ra các mức phấn đấu cao vào những năm tiếp sau.
| BẢNG 3: MỘT SỐ CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH TIẾN BỘ XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 1990-2020 | |||
| Nhóm/tiêu chí | Giãn cách thu nhập | Tiêu chuẩn “40” | Hệ số GINI (thu nhập/tài sản) |
| Tiêu chuẩn quốc tế | |||
| Bất công bằng cao | Trên 10 lần | Dưới 12% | Trên 0,5 |
| Bất công bằng vừa | Từ 8–10 lần | Từ 12%–17% | Từ 0,4–0,5 |
| Bất công bằng thấp | Dưới 8 lần | Trên 17% | Nhỏ hơn 0,4 |
| Việt Nam | |||
| 1991–2000 | 7,43 | 18,7 | 0,39 |
| 2001–2010 | 8,90 | 16,84 | 0,43 |
| 2011–2020 | 9,35 | 15,15 | 0,37 |
| 2021–2025 | 7,21 | 15,03 | 0,374 |
Nguồn: Tính toán từ số liệu Niên giám Thống kê và Điều tra mức sống dân cư
Những hạn chế, bất cập
(1) Biên độ tăng trưởng đang có xu hướng giảm dần sau 40 năm
Hình 2 cho thấy, nếu chia quá trình đổi mới của đất nước (cụ thể là từ 1990 đến nay) theo 4 giai đoạn, thì biên độ tăng trưởng bình quân/năm của các giai đoạn sau đang chậm dần. Nếu như giai đoạn 1991- 2000, tốc độ tăng trưởng bình quân/năm đạt 7,58%, giai đoạn 2001-2010 là 7,28%, thì giai đoạn 2011-2020 chỉ 6,58% và 2021-2025 xuống 6,23%. Điều này đặt ra vấn đề, với xu hướng đi xuống của biên độ tăng trưởng này, khả năng thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số Chính phủ đặt ra cho giai đoạn 2026-2030 trở nên khó khăn hơn nhiều.
![]() |
Nguyên nhân của sự suy giảm tốc độ tăng trưởng trong các giai đoạn sau có thể tổng hợp ở 3 lý do chính: (i) Mô hình tăng trường thời gian qua ngày càng trở nên lạc hậu, do tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào vốn, tốc độ tăng trưởng vốn tuy có giảm nhưng vẫn cao hơn so với tốc độ tăng trưởng GDP), trong khi đó tốc độ tăng trưởng TFP (năng suất nhân tố tổng hợp) chậm hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng GDP và TFP đóng góp vào tăng trưởng tuy có tăng nhưng thấp hơn nhiều so với các nước có trình độ phát triển cao; (ii) Tăng trưởng GDP của Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài; (iii) Khu vực doanh nghiệp trong nước còn yếu: số doanh nghiệp trên 1 vạn dân chỉ đạt xấp xỉ 100, thấp hơn nhiều so với Trung Quốc (400 doanh nghiệp/vạn dân) hoặc Thái lan (450 doanh nghiệp/vạn dân), tỷ lệ doanh nghiệp siêu nhỏ tới 80% tổng số doanh nghiệp, khu vực doanh nghiệp tư nhân hiện tại vẫn là khu vực yếu nhất trên các lĩnh vực: áp dụng khoa học công nghệ và hiệu quả kinh tế.
(2) Tốc độ tăng trưởng của các yếu tố tiến bộ xã hội có xu hướng chậm lại
Bảng 4 cho thấy, cùng với sự giảm sút của tăng trưởng GDP được đo bằng chỉ số tốc độ tăng GDP và tốc độ tăng GDP/ người, từ năm 1991 đến 2025, tốc độ cải thiện các tiêu chí về tiến bộ xã hội (bao gồm Mức sống dân cư, Phát triển con người, Công bằng xã hội) đều có xu hướng giảm đi với tốc độ ngày càng nhanh.
| BẢNG 4: TỐC ĐỘ TĂNG/GIẢM CÁC TIÊU CHÍ TIẾN BỘ XÃ HỘI (Đơn vị tính: %/năm) | |||||
| Giai đoạn | Tốc độ Tăng GDP | Tốc độ tăng GDP bình quân/ người, | Tốc độ tăng chi tiêu bình quân/ người | Tốc độ tăng HDI | Tốc độ giảm Hệ số GINI |
| 1986–1990 | 4,40 | 3,90 | 5,35 | – | – |
| 1991–2000 | 7,58 | 5,90 | 8,45 | 1,93 | 1,14 |
| 2001–2010 | 7,08 | 5,50 | 7,50 | 1,28 | 1,10 |
| 2011–2020 | 6,58 | 5,20 | 6,10 | 0,96 | - 1,38 |
| 2021–2025 | 6,23 | 5,10 | 4,90 | 0,79 | - 1,34 |
| BQ 1986–2025 | 6,58 | 4,90 | 6,88 | 1,30 * | - 0,77 |
(3) Hiệu ứng tích cực của tăng trưởng đến tiến bộ xã hội cho con người có biểu hiện giảm dần
Số liệu Bảng 5 cho thấy, tác động của tăng trưởng đến cả hai tiêu chí Mức sống dân cư và Phát triển con người đang tồn tại hiệu ứng tích cực, tức là tăng trưởng nhanh có dần đến cải thiện các tiêu chí này (các hệ số đang nhận giá trị dương), tuy nhiên mức độ cải thiện giảm dần theo chu kỳ 10 năm (các giá trị dương đang có xu hướng giảm dần). Theo cách phân nhóm mức độ tác động đề xuất ở trên, cho phép kết luận tác động tăng trưởng kinh tế đến các hai tiêu chí này đang đạt được ở cấp độ 2 (tác động tích cực đang có xu hướng giảm dần). Nói riêng về tác động của tăng trưởng đến công bằng xã hội trong phân phối thu nhập, qua Bảng 5 (cột 4) có thể thấy, các giá trị của hệ số GETI giai đoạn từ 2011-2020 và 2021- 2025 nhận được là âm có giá trị tuyệt đối tăng lên, điều này có nghĩa tác động tăng trưởng đến công bằng xã hội trong phân phối thu nhập ở cấp độ 1, tức là hiệu ứng tích cực đang có xu hướng tăng dần. Nhưng nếu xét trên một góc độ khác, về công bằng xã hội trong tiếp cận nguồn lực (đất đai và vốn), các số liệu tính toán cho thấy hệ số GINI về tiếp cận đất đai đang có xu hướng tăng lên, giá trị GINI nhận được ở giai đoạn 1991-2000 là 0,68 (khá cao), nhưng giai đoạn 2001-2010 lại lên 0,72, giai đoạn 2011-2020 là 0,75 và hiện nay, giai đoạn 2021-2025 là 0,76, bất công bằng trong tiếp cận đất đai theo chiều rộng trở nên ngày càng gay gắt hơn trong quá trình tăng trưởng nhanh. Nếu xét theo chiều sâu, bất công bằng trong tiếp cận đất đai thể hiện khá rõ nét về mức độ trầm trọng, 10% dân số giàu nhất hiện tại đang sở hữu 59% đất đai, trong khi đó 50% những người nghèo nhất chỉ chiếm 4,6%.
| BẢNG 5: HỆ SỐ CO GIÃN CỦA CÁC TIÊU CHÍ TIẾN BỘ XÃ HỘI SO VỚI TĂNG TRƯỞNG THU NHẬP BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI (GIÁ HIỆN HÀNH), VIỆT NAM 1986–2025 | |||
| Giai đoạn | GLR | (GHR) | (GETI) |
| 1986–1990 | 0,976 | – | – |
| 1991–2000 | 0,967 | 0,079 | + 0,093 |
| 2001–2010 | 0,966 | 0,062 | + 0,022 |
| 2011–2020 | 0,955 | 0,108 | - 0,167 |
| 2021–2025 | 0,876 | 0,093 | - 0,431 |
| BQ 40 năm (1986–2025) | 0,951 | 0,078 | -0,010 |
Nguồn:Tính toán theo số liệu của Niên giám Thống kê, Điều tra Mức sống dân cư và Báo cáo phát triển con người của UNDP.
Từ các phân tích nói trên, có thể rút ra kết luận: Trong thời gian qua (sau 40 năm đổi mới) tăng trưởng kinh tế mặc dù nhanh nhưng chưa đủ sức để tạo ra các đột phá trong thực hiện các mục tiêu về tiến bộ xã hội cho con người và hiệu ứng của tăng trưởng kinh tế đến thực hiện tiến bộ xã hội đang có dấu hiệu giảm dần.
Nguyên nhân của những bất cập được nhìn nhận chủ yếu ở góc độ phát triển thiếu bao trùm (hài hòa) trong thời gian qua, nhất là ở góc độ doanh nghiệp thể hiện sự không công bằng trong các khía cạnh về tiếp cận nguồn lực, quá trình kinh doanh và phân phối thu nhập. Môi trường đầu tư và cơ hội bỏ vốn giữa các loại hình doanh nghiệp, nhất là giữa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân trong nước. Ngoài ra, nguyên nhân của tình trạng trên còn thể hiện ở những bất cập trong chính sách phân phối thu nhập tạo ra cho các nhu cầu liên quan đến cải thiện tiến bộ xã hội cho con người. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ chi cho Giáo dục ở Việt Nam hiện nay chỉ đạt 2,9% GDP, con số này thấp hơn ngưỡng của UNESCO khuyến nghị (4-6% GDP); chi cho Y tế của Việt Nam hiện đạt 4,59%, thấp hơn ngưỡng tham chiếu của WHO (trên 5%), chi cho nghiên cứu và triển khai (R&D) cũng chỉ đạt 0,43%, thấp hơn so với ngưỡng chuẩn của OECD và WB (trên 1%).
ĐỊNH HƯỚNG VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM TĂNG CƯỜNG SỰ TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ĐẾN THỰC HIỆN TIẾN BỘ XÃ HỘI NHỮNG NĂM TIẾP THEO
Định hướng mục tiêu tăng cường tác động tích cực của tăng trưởng kinh tế đến thực hiện tiến bộ xã hội
Nghị quyết số 19/NQ-TW ngày 27/8/2026 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV đã đưa ra quan điểm đổi mới mô hình phát triển đất nước, theo đó nền kinh tế Việt Nam sẽ đạt mục tiêu trở thành nước có mức thu nhập cao (vào năm 2045) dựa trên phương châm tăng trưởng nhanh, hiệu quả gắn với đạt được trình độ cao về tiến bộ xã hội. Vì thế, đứng trên góc độ tác động tăng trưởng kinh tế đến thực hiện tiến bộ xã hội, trong thời gian tới (đến 2030), hơn bao giờ hết Việt Nam cần hướng tới thực hiện con đường phát triển toàn diện ở mức độ cao và đồng bộ. Cụ thể, Mục tiêu được thể hiện ở việc cần phải thực hiện phát triển đất nước dựa trên việc chú trọng kết hợp ngay từ đầu và trong toàn tiến trình phát triển kinh tế cả hai mục tiêu đặt song song với nhau, đó là: tăng trưởng kinh tế nhanh và hiệu quả để tạo ra những đột phá về thu nhập và đạt được những thành tựu đáng kể trong thực hiện tiến bộ xã hội. Các hướng cụ thể là: (i) Thực hiện tăng trưởng kinh tế nhanh hơn trong điều kiện nâng cao chất lượng và hiệu quả tăng trưởng là điều kiện cần mang tính tiên quyết để giải quyết vấn đề thực hiện tiến bộ xã hội, trong bối cảnh xã hội phát triển với trên 50% dân số trung lưu; (ii) Cải thiện để tăng cường tác động đồng thuận giữa tăng trưởng kinh té với các tiêu chí đảm bảo tiến bộ xã hội cho con người ở mức độ cao hơn (cấp độ 1); (iii) Chú trọng phân phối thu nhập cho đầu tư các lĩnh vực liên quan đến tiến bộ xã hội, nhất là lĩnh vực y tế, giáo dục.

Một số khuyến nghị
Thứ nhất, tăng trưởng nhanh và hiệu quả hơn. Cần chuyển đổi mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên chất lượng và động lực là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, nhằm tăng hàm lượng chất xám và năng suất trong mỗi sản phẩm tạo ra với 4 chính sách đột phá sau đây:
(1) Thương mại hóa công nghệ và kích cầu đổi mới sáng tạo, bao gồm: (i) Đưa nghiên cứu ra thị trường, chuyển ưu đãi từ hiện tại cho các viện nghiên cứu sang các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất, ứng dụng công nghệ; (ii) Mở rộng sàn giao dịch công nghệ, xây dựng các sàn giao dịch công nghệ quốc gia để kết nối trực tiếp nhà khoa học với doanh nghiệp; (iii) Ưu tiên mua sắm công: Nhà nước tiên phong sử dụng, bao tiêu các sản phẩm công nghệ, giải pháp số “Make in Viet Nam” đạt chuẩn.
(2) Định hình nhanh vị thế trong các ngành công nghệ tương lai, bao gồm: (i) Đột phá công nghiệp bán dẫn: Hoàn thiện hệ sinh thái thiết kế, đóng gói, kiểm thử chip tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng; (ii) Làm chủ Trí tuệ nhân tạo (AI): Ứng dụng mạnh mẽ AI vào các ngành mũi nhọn như logistics, tài chính, nông nghiệp công nghệ cao để tối ưu năng suất lao động; (iii) Đẩy mạnh chuyển đổi xanh: Gắn chặt chuyển đổi số với chuyển đổi xanh (Chuyển đổi kép) để đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu khắt khe của EU, Mỹ.
(3) Nâng cấp chất lượng nguồn nhân lực số: (i) Tái đào tạo kỹ năng, cụ thể: chuyển đổi nhanh lực lượng lao động dệt may, da giày, lắp ráp thủ công sang các kỹ năng vận hành máy móc tự động và công nghệ số; (ii) Đào tạo kỹ sư chuyên sâu, đẩy nhanh chương trình đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn và chuyên gia AI chất lượng cao đến năm 2030; (iii) Thu hút nhân tài, ban hành chính sách đãi ngộ đặc biệt để thu hút các nhà khoa học, chuyên gia công nghệ gốc Việt ở nước ngoài về cống hiến.
(4) Khơi thông nguồn vốn đầu tư mạo hiểm, cụ thể: (i) Kích thích nguồn vốn tư nhân thông qua khuyến khích các tập đoàn lớn thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm cho khởi nghiệp; (ii) Đơn giản hóa dòng vốn ngoại trên cơ sở tháo gỡ rào cản hành chính để các quỹ đầu tư mạo hiểm quốc tế dễ dàng giải ngân và rút vốn tại Việt Nam.
Thứ hai, tăng cường hiệu ứng của tăng trưởng đến cải thiện tiến bộ xã hội mạnh hơn. Cụ thể, thực hiện mô hình phát triển bao trùm để giải quyết ngày việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong quá trình tăng trưởng nhanh và hiệu quả dựa trên việc bảo đảm công bằng trong cơ hội tiếp cận nguồn lực, trong quá trình phát triển kinh doanh và phân phối thu nhập, cụ thể là nghĩa vụ nộp thuế, để các doanh nghiệp có chung một sân chơi, mà sân chơi đó giúp cho các doanh nghiệp thoả sức thực hiện phát triển kinh doanh.
Nội dung chính sách này bao gồm:
(i) Các chính sách tạo môi trường đầu tư và cơ hội bỏ vốn cho các loại hình doanh nghiệp, bất kể là loại hình sở hữu nào, khu vực kinh tế nào, quy mô nào, ngành nghề gì hay ở địa phương nào. Các chính sách cần nhấn mạnh đến không phân biệt sân chơi và tôn trọng quy luật của thị trường đối với các loại hình doanh nghiệp. Bài viết nhấn mạnh đến tính công bằng trong thuế gắn với thu nhập đối với các loại hình doanh nghiệp. Hiện nay chính sách thuế vẫn có vẻ thiên về tạo thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp FDI so với các doanh nghiệp khu vực tư nhân trong nước, trong khi đó khu vực doanh nghiệp nhà nước lại được hưởng nhiều đặc ân hơn và nhiều hoạt động không gắn với cơ chế thị trường.
(ii) Nhấn mạnh đến mở rộng mô hình kinh doanh tạo tác động và đặt hoạt động này nhiều hơn đối với các doanh nghiệp quy mô lớn, làm sao cho các doanh nghiệp lớn đóng được vai trò là các “sếu đầu đàn” trong phát triển lực lượng doanh nghiệp cả nước. Theo đó 3 việc cần đặt lên vai các doanh nghiệp lớn, đó là: Đi đầu trong các lĩnh vực đầu tư bảo đảm các điều kiện làm việc tốt nhất cho người lao động; Trong dây chuyền hoạt động kinh doanh, có bố trí được những bộ phận thu hút sự tham gia của những người yếu thế; và Có chiến lược thu hút các doanh nghiệp quy mô nhỏ hơn vào quỹ đạo hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên các chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm với vai trò trục xoay trung tâm là các doanh nghiệp quy mô lớn.
(iii) Chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Quan trọng là các chính sách tháo gỡ khó khăn về cho các doanh nghiệp loại hình này trên các khía cạnh: chính sách thuế, sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ các quy định về cấp phép kinh doanh, xuất nhập khẩu, quản lý thị trường, tạo mọi khả năng để các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ dễ dàng tiếp cận với các nguồn lực phát triển như: tài chính, đất đai, công nghệ, nhân lực. Riêng về chính sách thuế, cần nhấn mạnh ưu đãi thuế (miễn thuế) đối với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chuyển lên từ hộ kinh doanh. Quan điểm của bài viết là nên miễn giảm thuế không chỉ giai đoạn chuyển đổi mà cả một thời gian sau khi chuyển đổi cho đến khi doanh nghiệp hoạt động ổn định. Các chính sách phải bảo đảm tính đồng bộ, trong đó có cả các chính sách liên quan đến cải thiện môi trường đầu tư, chính sách tạo cơ hội bỏ vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, các chính sách hỗ trợ kỹ thuật: nhằm tháo gỡ khó khăn về năng lực trình độ cũng như công nghệ kỹ thuật, năng lực quản trị đối với các doanh nghiệp tư nhân nhỏ và siêu nhỏ, hỗ trợ trong đầu tư đổi mới trang thiết bị và bồi dưỡng nâng cao kỹ năng của nhà quản lý và công nhân trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tài liệu tham khảo:
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2021, 2026). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, XIV (tập 1, 2), Nxb Chính trị Quốc gia sự thật.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển đất nước.
- Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2016). Việt Nam 2035, Nxb Hồng Đức.
- Ngô Thắng Lợi (2019). Mối quan hệ tăng trưởng kinh tế với Phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hôi, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật.
- Tổng cục Thống kê (1996, 2001, 2006, 2011, 2015, 2021, 2026). Niêm giám thống kê năm 1995, 2000, 2005, 2010, 2015,2020, 2025; Niên giám thống kê, NxbThống kê.
- Tổng cục Thống kê (2022). Sách trắng doanh nghiệp 2023, 2025, Nxb Thống kê.
- Tổng cục Thống kê (1990, 2000, 2005, 2010, từ 2011- 2025). Kết quả điều tra mức sống dân cư, Nxb Thống kê.
- UNDP (1990, 2010, 2015, 2022, 2025). Human Development report, United national Development Programme, New York.
- Viện năng suất Việt nam (2025). Báo cáo năng suất V iệt Nam 2025
| Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in kỳ 1 tháng 9/2026 |
Tin tức khác
Hà Nội quyết định loạt chính sách lớn, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn phát triển
Khơi thông dòng vốn dài hạn, tạo sức bật cho tăng trưởng kinh tế
Hà Nội tăng tốc chuyển đổi các khu công nghiệp sang mô hình sinh thái
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm, thúc đẩy hợp tác quốc tế
Năng lượng sạch - động lực cho tăng trưởng xanh trong kỷ nguyên mới
Kinh tế bạc trong quy hoạch tổng thể TP. Hồ Chí Minh, tầm nhìn 100 năm
Bài 2: Ổn định vĩ mô - Giữ nhịp tăng trưởng trước sức ép lạm phát
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
Bộ trưởng Bộ Xây dựng: Không thể mua nhà ở xã hội rồi bán lại theo giá thị trường
Hưởng ưu đãi, doanh nghiệp phải có nghĩa vụ tương ứng về giá, chất lượng nhà cho thuê
Bài 1: Tầm nhìn mở lối, hiện thực hóa khát vọng phát triển
Bán lại sau 5 năm: Không để nhà ở xã hội trở thành cơ hội đầu cơ
Việt Nam nâng cao sức chống chịu, tạo động lực tăng trưởng mới
Đề xuất bổ sung hành vi tự ưu đãi, đánh giá giả, "siết" cạnh tranh trên nền tảng số
Xác định vị trí thống lĩnh thị trường từ ngưỡng thị phần 10% kèm sức mạnh thị trường đáng kể
Tạo không gian thử nghiệm, hiện đại hóa hạ tầng thị trường chứng khoán
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm, thúc đẩy hợp tác quốc tế
Chuyên gia kinh tế chia sẻ kinh nghiệm huy động nguồn lực cho phát triển bền vững
Hà Nội quyết định loạt chính sách lớn, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn phát triển
Khơi thông dòng vốn dài hạn, tạo sức bật cho tăng trưởng kinh tế
Hà Nội tăng tốc chuyển đổi các khu công nghiệp sang mô hình sinh thái
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm, thúc đẩy hợp tác quốc tế
Năng lượng sạch - động lực cho tăng trưởng xanh trong kỷ nguyên mới
Kinh tế bạc trong quy hoạch tổng thể TP. Hồ Chí Minh, tầm nhìn 100 năm
Bài 2: Ổn định vĩ mô - Giữ nhịp tăng trưởng trước sức ép lạm phát











