Mở cánh cửa ra thế giới, thu hút “đại bàng công nghệ”
![]() |
| Intel - Tập đoàn công nghệ đầu tiên của thế giới đầu tư vào Việt Nam. Ảnh: Lê Toàn |
Hội nhập sâu rộng - bồi đắp nội lực cho nền kinh tế
Ngay từ sau công cuộc Đổi mới, Việt Nam đã lựa chọn con đường chủ động hội nhập và mở cửa nền kinh tế để thu hút nguồn lực từ bên ngoài phục vụ phát triển trong nước. Việc từng bước hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế đã giúp Việt Nam hình thành nền tảng quan trọng để thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các dự án công nghệ.
Theo chia sẻ của TS. Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, ngay sau ngày đất nước thống nhất, lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước đã sớm tính đến việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài như một giải pháp phát triển dài hạn. Tháng 4/1977, việc ban hành Điều lệ Đầu tư nước ngoài được xem là bước đi mở đường, đặt nền móng đầu tiên cho việc thể chế hóa chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam.
Đặc biệt, việc Quốc hội thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 là một dấu mốc mang tính bước ngoặt, mở ra thời kỳ mới trong thu hút đầu tư quốc tế. Từ đó đến nay, hệ thống pháp luật về đầu tư không ngừng được sửa đổi, hoàn thiện theo hướng thông thoáng, phù hợp thông lệ quốc tế, góp phần đưa dòng vốn đầu tư nước ngoài trở thành động lực quan trọng của công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế đất nước.
Những con số về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong thời gian gần đây tiếp tục cho thấy sức hấp dẫn và độ mở của môi trường đầu tư tại Việt Nam. Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), chỉ trong 3 tháng đầu năm 2026, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đã đạt trên 15,2 tỷ USD, tăng 42,9% so với cùng kỳ; trong khi vốn thực hiện ước đạt trên 5,4 tỷ USD, tăng 9,1%. Đây không chỉ là tín hiệu tích cực về dòng vốn, mà còn phản ánh niềm tin ngày càng rõ nét của nhà đầu tư quốc tế đối với triển vọng phát triển của nền kinh tế.
Ở góc nhìn dài hạn, bức tranh thu hút đầu tư càng trở nên rõ nét hơn khi tính lũy kế đến ngày 31/3/2026, cả nước đã có 46.198 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký trên 542 tỷ USD. Trong đó, số vốn đã được giải ngân đạt khoảng 355,652 tỷ USD, tương đương 65,6% tổng vốn đăng ký.
Tỷ lệ này cho thấy các dự án đầu tư nước ngoài không chỉ dừng ở cam kết trên giấy, mà đang được triển khai thực chất, từng bước đóng góp vào năng lực sản xuất, xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam. Đến năm 2026, nhiều tập đoàn công nghệ và bán dẫn hàng đầu thế giới như Intel, Samsung, Amkor, Qualcomm hay NVIDIA đã đầu tư, mở rộng hiện diện hoặc bày tỏ quan tâm hợp tác tại Việt Nam, cho thấy xu hướng dịch chuyển rõ nét của dòng vốn toàn cầu vào các lĩnh vực công nghệ cao và công nghiệp chiến lược.
Theo ông Phan Hữu Thắng, trong 40 năm qua, thành công của Việt Nam về thu hút FDI đã giúp Việt Nam mở rộng quan hệ kinh tế và hợp tác quốc tế với nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có sự hiện diện của nhiều tập đoàn, công ty công nghệ - là các “đại bàng” công nghệ toàn cầu trong các lĩnh vực đã đầu tư vào Việt Nam.
“Đến nay, Việt Nam đã thu hút được 20-25 tập đoàn công nghệ lớn toàn cầu đến đầu tư tại Việt Nam; trong đó nổi trội có các tập đoàn lớn như: Intel, Samsung, LG, Foxconn và một số tập đoàn có tên tuổi khác như: Apple, IBM, Microsoft, SONY, Panasonic, CANON, Bosch, Goertek (Trung Quốc)”, ông Phan Hữu Thắng nhấn mạnh.
Cũng theo Cục Đầu tư nước ngoài, điểm sáng của thu hút FDI 3 tháng đầu năm 2026 là Việt Nam tiếp tục thu hút được dự án công nghệ cao quy mô lớn, qua đó cho thấy xu hướng nâng dần chất lượng dòng vốn FDI, là minh chứng cho định hướng thu hút FDI có chọn lọc, ưu tiên công nghệ tiên tiến, công nghệ nền tảng, giá trị gia tăng cao và khả năng lan tỏa sang khu vực doanh nghiệp trong nước.
“Đại bàng công nghệ” xây tổ - minh chứng cho sức hấp dẫn của nội lực
Các yếu tố như môi trường chính trị ổn định, nguồn nhân lực trẻ, chi phí cạnh tranh và vị trí địa lý thuận lợi đã giúp Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư công nghệ và đang trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu nhờ hội tụ nhiều lợi thế cạnh tranh.
Trong những năm gần đây, sự hiện diện và mở rộng đầu tư của nhiều tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới tại Việt Nam đã trở thành minh chứng rõ nét cho xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng và niềm tin của nhà đầu tư quốc tế đối với môi trường đầu tư trong nước.
![]() |
| Trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) của Tập đoàn Samsung. Ảnh: SS |
Các tập đoàn công nghệ lớn đến Việt Nam không chỉ dừng lại ở việc xây dựng nhà máy sản xuất, mà còn từng bước mở rộng sang các hoạt động nghiên cứu, phát triển và tham gia sâu hơn vào hệ sinh thái công nghiệp địa phương. Không chỉ tạo ra việc làm và đóng góp cho tăng trưởng xuất khẩu, quan trọng hơn, những dự án đầu tư quy mô lớn còn góp phần nâng cao trình độ quản trị, tiêu chuẩn kỹ thuật và năng lực sản xuất của ngành công nghiệp trong nước, từng bước giúp Việt Nam chuyển từ vai trò gia công sang tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu.
Đơn cử, Intel - Tập đoàn công nghệ đầu tiên của thế giới đã đầu tư mạnh vào cơ sở lắp ráp và kiểm định chip tại Việt Nam, qua đó giúp nâng cao năng lực tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng toàn cầu trong ngành công nghiệp bán dẫn.
Bên cạnh đó, Samsung là một điển hình khi tập đoàn này đã liên tục mở rộng quy mô đầu tư tại Việt Nam, đồng thời thành lập trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) quy mô lớn, góp phần đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật cao và thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực điện tử.
Các doanh nghiệp công nghệ khác như LG Electronics hay Foxconn cũng không ngừng mở rộng sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm và tăng cường hợp tác với doanh nghiệp nội địa.
Theo TS. Phan Hữu Thắng, Việt Nam có lực lượng lao động trẻ, chi phí cạnh tranh, môi trường chính trị ổn định và chính sách ưu đãi thu hút đầu tư vào công nghệ cao, những yếu tố này rất hấp dẫn trong mắt nhà đầu tư quốc tế. Các công ty hàng đầu như Samsung, Intel, LG, Foxconn... đã và đang mở rộng sản xuất tại Việt Nam, biến Việt Nam thành cứ điểm sản xuất lớn trong lĩnh vực điện tử và công nghệ.
Đánh giá về xu hướng dịch chuyển đầu tư công nghệ vào Việt Nam trong giai đoạn 2025-2030, TS. Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE) cho rằng, trong giai đoạn 2025-2030, xu hướng dịch chuyển đầu tư công nghệ vào Việt Nam sẽ tập trung vào các ngành công nghiệp mới, có hàm lượng công nghệ cao và phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế thế giới.
Có thể kể đến một số lĩnh vực như công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu lớn, năng lượng sạch và các ngành liên quan đến chăm sóc sức khỏe, giáo dục và đào tạo. Đây là những lĩnh vực đóng vai trò quan trọng trong quá trình hiện đại hóa nền kinh tế, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.
Sự xuất hiện của các tập đoàn công nghệ lớn trong thời gian gần đây cho thấy Việt Nam đang từng bước tham gia vào chuỗi giá trị của các ngành công nghiệp mới. Điều đáng mừng là nhiều tập đoàn quốc tế đã đánh giá cao tiềm năng nguồn nhân lực của Việt Nam, đặc biệt là khả năng tiếp cận các lĩnh vực công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo và công nghiệp bán dẫn.
Tuy nhiên, ông Tuấn nhận định, để tận dụng được cơ hội này, Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm. Trong đó, 2 vấn đề quan trọng là bảo đảm nguồn năng lượng, đặc biệt là năng lượng sạch và nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho các ngành công nghiệp công nghệ cao. Đồng thời, cần có cơ chế phù hợp để thu hút và giữ chân nhân tài, kể cả người Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài tham gia vào quá trình phát triển các ngành công nghiệp mới.
Chủ động cải cách, tạo sức hút mới trong cạnh tranh toàn cầu
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược và chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng sâu sắc, các quốc gia đang thu hút đầu tư vào các lĩnh vực then chốt như công nghệ cao, công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo hay năng lượng mới, chủ động lựa chọn những dự án có khả năng lan tỏa công nghệ, nâng cao năng suất và tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.
Việt Nam cũng không nằm ngoài quỹ đạo chuyển dịch này. Chủ trương này đã được xác định rõ trong Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài, nhấn mạnh yêu cầu chủ động thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc, ưu tiên các dự án sử dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ sạch và quản trị hiện đại, có khả năng kết nối doanh nghiệp trong nước với chuỗi cung ứng toàn cầu.
Hiện nay, Việt Nam đang trình Bộ Chính trị dự thảo Nghị quyết về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, Nghị quyết này nhằm hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng dòng vốn, chú trọng công nghệ cao, kinh tế xanh và phát triển đồng bộ hệ sinh thái đầu tư trong tình hình mới.
Trên thực tế, Việt Nam đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, từ hoàn thiện thể chế pháp luật về đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển hạ tầng và khu công nghiệp, đào tạo nhân lực chất lượng cao đến xây dựng cơ chế ưu đãi và hỗ trợ nhà đầu tư theo hướng cạnh tranh hơn. Nói cách khác, cả “cỗ máy” đang chuyển động mạnh mẽ để xây tổ đón “đại bàng”.
Đáng chú ý, một số chính sách mới mang tính đột phá đã được ban hành, nhằm rút ngắn thời gian triển khai dự án, đặc biệt trong các lĩnh vực ưu tiên. Năm 2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 19/2025/NĐ-CP quy định thủ tục đầu tư đặc biệt đối với các dự án công nghệ cao và công nghiệp bán dẫn theo hướng chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, qua đó tạo điều kiện để các dự án quy mô lớn, hàm lượng công nghệ cao sớm đi vào hoạt động.
Song song với hoàn thiện chính sách, Việt Nam cũng chủ động xây dựng chiến lược phát triển các ngành công nghệ nền tảng. Trong lĩnh vực bán dẫn, Việt Nam đã từng bước tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, thu hút hơn 50 doanh nghiệp thiết kế chip với khoảng 7.000 kỹ sư, cùng nhiều dự án về đóng gói và kiểm thử. Đến cuối năm 2025, cả nước thu hút 241 dự án FDI trong lĩnh vực bán dẫn, với tổng vốn đăng ký trên 14,2 tỷ USD - những con số cho thấy dòng vốn đầu tư đang dịch chuyển ngày càng rõ nét vào các ngành công nghệ cao và công nghiệp chiến lược.
![]() |
| Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng làm việc với 52 doanh nghiệp hàng đầu của Hoa Kỳ vào chiều ngày 16/4/2026. |
Bên cạnh đó, thời gian qua, Việt Nam đã duy trì cách tiếp cận chủ động và liên tục trong việc quảng bá, tiếp cận và làm việc trực tiếp với các tập đoàn lớn trên thế giới, đặc biệt là các tập đoàn công nghệ lớn thông qua các chuyến thăm cấp cao và các hoạt động xúc tiến đầu tư ở tầm quốc gia.
Mới nhất, chiều ngày 16/4/2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã làm việc với 52 doanh nghiệp hàng đầu của Hoa Kỳ, tiếp tục khẳng định thông điệp nhất quán về việc chủ động kết nối, lắng nghe và tạo điều kiện thuận lợi để các tập đoàn lớn mở rộng đầu tư, gắn bó lâu dài với Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh hợp tác khoa học - công nghệ đang trở thành một trụ cột quan trọng trong quan hệ kinh tế song phương.
Cùng với chuyển động tích cực của nhà nước, các địa phương, doanh nghiệp cũng đã tích cực triển khai thu hút FDI công nghệ. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thái Nguyên, Nghệ An… là những địa phương đã chủ động vào cuộc mạnh mẽ và trở thành những điểm sáng trong thu hút vốn ngoại.
Đơn cử, với việc chủ động chuẩn bị tốt hơn yêu cầu “5 sẵn sàng”: “Sẵn sàng về quy hoạch - Hạ tầng thiết yếu - Mặt bằng đầu tư - Nguồn nhân lực - Đổi mới, cải cách, đồng hành hỗ trợ doanh nghiệp, nhà đầu tư”, Nghệ An đã trở thành điểm đến của các tập đoàn lớn trên thế giới trong chuỗi cung ứng sản xuất công nghệ điện tử, năng lượng xanh như: Goertek; Luxshare - ICT, Everwin, JuTeng, Foxconn, Runergy, Shangdong, Sunny, YoungJin, Hoa Lợi…, bước đầu hình thành những ngành công nghiệp chủ lực của tỉnh.
Một câu chuyện thực tế từ phía doanh nghiệp cho thấy rõ hơn cách tiếp cận đồng hành với nhà đầu tư trong quá trình triển khai dự án. Bà Nguyễn Thị Hồng Chuyên, Phó Tổng giám đốc Capella Land - doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đầu tư và phát triển khu công nghiệp cho biết, để giúp doanh nghiệp FDI sớm triển khai dự án, đơn vị đã chủ động hỗ trợ nhà đầu tư ngay từ khâu chuẩn bị hồ sơ, thủ tục và làm việc với cơ quan chức năng nhằm rút ngắn thời gian xử lý ban đầu.
Theo bà Chuyên, việc đồng hành từ sớm giúp đẩy nhanh tiến độ giải ngân, tạo điều kiện để doanh nghiệp nhanh chóng triển khai xây dựng nhà máy và đưa dự án vào vận hành.
Dẫn chứng cụ thể, tại Khu công nghiệp Yên Lư (Bắc Ninh), năm 2024, dự án ECONY VINA (Hàn Quốc) đã triển khai với tiến độ rất nhanh. Từ thời điểm đăng ký thuê đất vào tháng 1/2024, nhà đầu tư được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trong tháng 2/2024, khởi công xây dựng vào tháng 4/2024 và hoàn thành nhà máy vào tháng 11/2024. Đại diện Capella Land cho biết, sự hỗ trợ sát sao của địa phương và chủ đầu tư khu công nghiệp là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp yên tâm triển khai và đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án.
Từ thu hút đến tự cường công nghệ - nền tảng cho bứt phá trong giai đoạn mới
Lợi thế, triển vọng của Việt Nam trong thu hút đại bàng công nghệ là điều rất rõ ràng, tuy nhiên, không phải không có những trở ngại. Thu hút được các ông lớn đầu tư là bước khởi đầu, nhưng giữ chân được đại bàng và nâng tầm doanh nghiệp công nghệ trong nước mới là yếu tố quyết định cho phát triển bền vững.
Theo ông Nguyễn Văn Toàn, chuyên gia đầu tư nước ngoài, để thu hút được các tập đoàn công nghệ lớn, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia, trước hết Việt Nam phải có một “tư thế” đủ mạnh để có thể bắt tay và hợp tác một cách bình đẳng với họ. Không thể chỉ đơn thuần kỳ vọng họ đến vì lợi thế chi phí, mà quan trọng hơn là phải tạo dựng được một hệ sinh thái bao gồm nhiều yếu tố, từ chính sách pháp luật, môi trường đầu tư, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng logistics, cho đến các điều kiện sống và làm việc cho chuyên gia, người lao động. Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất trong hệ sinh thái này vẫn là năng lực của hệ thống doanh nghiệp trong nước và chất lượng nguồn nhân lực.
Việc phát triển các doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực tham gia vào chuỗi cung ứng cũng là điều kiện hết sức quan trọng. Nếu không có các doanh nghiệp Việt Nam đủ tầm để hợp tác, thì dù các tập đoàn nước ngoài có đầu tư vào Việt Nam, hiệu quả lan tỏa đối với nền kinh tế trong nước vẫn sẽ rất hạn chế.
Về triển vọng thu hút đầu tư công nghệ cao trong thời gian tới, có thể thấy, Việt Nam đang nhận được sự quan tâm ngày càng lớn từ các tập đoàn công nghệ quốc tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng gay gắt, Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất được các tập đoàn công nghệ xem xét. Do vậy, phải tập trung nâng cao năng lực nội tại, đặc biệt là năng lực của doanh nghiệp trong nước để tạo lợi thế cạnh tranh bền vững.
TS. Phan Hữu Thắng phân tích, việc tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh của môi trường đầu tư - kinh doanh của Việt Nam cần được Chính phủ và chính quyền các địa phương triển khai một cách quyết liệt và đồng bộ. Chuyên gia cũng nhấn mạnh, cần tập trung vào đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu của các ngành công nghệ, đồng thời định hướng thu hút đầu tư theo hình thức doanh nghiệp liên doanh và từng bước hạn chế tình trạng doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm tỷ trọng quá lớn.
Theo TS. Nguyễn Anh Tuấn, việc chuyển giao công nghệ, đặc biệt là công nghệ nguồn không phải là câu chuyện đơn giản. Do vậy, Việt Nam cần có những công cụ đòn bẩy đủ mạnh để khuyến khích quá trình chuyển giao công nghệ giữa các doanh nghiệp và tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước, trong đó, một trong những công cụ quan trọng là chính sách thuế, mục tiêu là tạo ra hiệu ứng lan tỏa giống như một con chim đầu đàn dẫn dắt cả đàn bay theo.
Theo các chuyên gia, việc đón nhận làn sóng đầu tư mới trong các lĩnh vực công nghệ, đặc biệt là lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và trung tâm dữ liệu sẽ mở ra cơ hội để Việt Nam nâng tầm vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Trong giai đoạn tới, mục tiêu không chỉ là thu hút đầu tư từ cac đại bàng công nghệ, quan trọng hơn, cần tạo điều kiện để các đại bàng công nghệ phát triển bền vững tại Việt Nam, thông qua việc hoàn thiện hệ sinh thái công nghiệp, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế.
Tin tức khác
Đánh thức nguồn lực 6 triệu người Việt Nam ở nước ngoài cho tăng trưởng
CEO Techcombank: Tăng trưởng GDP 10%, Việt Nam cần khoảng 1.100 tỷ USD vốn trong 5 năm tới
Rà soát kỹ hiệu quả, nguồn vốn và sự cần thiết đầu tư dự án cao tốc Bảo Hà - Lai Châu
Hướng tới tăng trưởng 10%, UOB nhấn mạnh hiệu quả sử dụng vốn
TP. Hồ Chí Minh tăng tốc các tháng cuối năm, đảm bảo tăng trưởng 2 con số
Mở dư địa mới cho thương mại biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc
Du lịch trải nghiệm Việt Nam: Chuyển tiềm năng thành giá trị tăng trưởng
VIDEO: Tham gia vào chỉ số thị trường mới nổi của FTSE GEIS - Dấu mốc lịch sử với thị trường tài chính Việt Nam
PODCAST: Thị trường chứng khoán Việt Nam tuần 14-18/9/2026
VIDEO: Tháo gỡ nút thắt tỷ giá tính thuế cho hàng xuất khẩu
VIDEO: Thu ngân sách hải quan 8 tháng tăng 17,4%: Động lực từ cải cách thủ tục và Hải quan số
PODCAST: Thông tin cá nhân bị dùng để lập doanh nghiệp: Người dân cần làm gì?
Thông điệp Việt Nam về hòa bình, hợp tác và củng cố lòng tin cùng phát triển
Giám đốc Kho bạc Nhà nước Trần Quân được điều động giữ chức Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lạng Sơn
Tổng kết thực hiện Luật Quốc phòng, Dân quân tự vệ và Giáo dục quốc phòng, an ninh
Triển khai Luật Phát triển đô thị từ ngày 1/10/2026
Hoàn thiện hành lang pháp lý, chuẩn hóa quy trình và thủ tục chỉ định thầu
Lượng hóa đóng góp của văn hóa vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Quản lý nguồn thu từ cơ cấu lại vốn nhà nước để đầu tư vào doanh nghiệp và hạ tầng trọng điểm
Ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật trên phạm vi toàn quốc
Giữ nhịp tăng trưởng cao, tạo sức bật dài hạn cho kinh tế Việt Nam
Vốn cho hạ tầng không thể chỉ dựa vào ngân hàng
Đánh thức nguồn lực 6 triệu người Việt Nam ở nước ngoài cho tăng trưởng
CEO Techcombank: Tăng trưởng GDP 10%, Việt Nam cần khoảng 1.100 tỷ USD vốn trong 5 năm tới
Rà soát kỹ hiệu quả, nguồn vốn và sự cần thiết đầu tư dự án cao tốc Bảo Hà - Lai Châu
Hướng tới tăng trưởng 10%, UOB nhấn mạnh hiệu quả sử dụng vốn
TP. Hồ Chí Minh tăng tốc các tháng cuối năm, đảm bảo tăng trưởng 2 con số
Mở dư địa mới cho thương mại biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc
Du lịch trải nghiệm Việt Nam: Chuyển tiềm năng thành giá trị tăng trưởng












