Kiểm soát nợ công hiệu quả, củng cố nền tảng tài khóa quốc gia giai đoạn 2021-2025
![]() |
| Giai đoạn 2021-2025 ghi dấu bước chuyển quan trọng trong quản lý nợ công của Việt Nam khi các chỉ tiêu an toàn nợ tiếp tục được duy trì trong giới hạn cho phép. |
Hoàn thiện thể chế, chính sách về quản lý nợ công
Tại Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tại Chiến lược tài chính đến năm 2030 trong giai đoạn 2021-2025, Bộ Tài chính cho biết, một trong những dấu ấn quan trọng của giai đoạn này là việc tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về quản lý nợ công theo hướng đồng bộ, hiện đại và tiệm cận thông lệ quốc tế. Luật Quản lý nợ công cùng các văn bản hướng dẫn thi hành tiếp tục được cụ thể hóa, trong đó trao thêm thẩm quyền cho Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài chính trong một số nhiệm vụ quản lý nợ, đồng thời tăng tính chủ động và trách nhiệm của chính quyền địa phương trong sử dụng ngân sách.
Cùng với đó, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị trong quản lý nợ công được phân định rõ ràng hơn; nhiều thủ tục liên quan đến dự án đầu tư công, dự án sử dụng vốn vay nước ngoài được cắt giảm, đơn giản hóa. Việc mở rộng đối tượng được đề xuất vay ODA và vay ưu đãi nước ngoài, tăng cường minh bạch trong quản lý nợ, đẩy mạnh áp dụng các công cụ quản lý nợ chủ động và xây dựng cơ sở dữ liệu nợ công thống nhất đã tạo nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu quả quản trị nợ quốc gia.
Đặc biệt, thể chế quản lý nợ công được hoàn thiện theo hướng gắn chặt với chiến lược tài chính quốc gia, kế hoạch tài chính - ngân sách trung hạn và kế hoạch đầu tư công trung hạn. Qua đó, việc kiểm soát trần nợ công, nợ Chính phủ và nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ được thực hiện chặt chẽ hơn, bảo đảm trong giới hạn an toàn theo nghị quyết của Quốc hội.
Bên cạnh đó, chính sách vay nợ được điều hành theo hướng nâng cao tính dự báo và bền vững, hạn chế tình trạng vay ngắn hạn cho mục tiêu dài hạn; ưu tiên sử dụng vốn vay cho các dự án trọng điểm, có khả năng lan tỏa và tạo động lực phát triển. Cơ cấu danh mục nợ cũng được cải thiện theo hướng tăng tỷ trọng vay trong nước, kéo dài kỳ hạn vay, giảm chi phí vay và quản lý chặt chẽ nợ nước ngoài.
Nhờ các giải pháp đồng bộ, các chỉ tiêu an toàn nợ trong giai đoạn 2021-2025 đều được duy trì trong ngưỡng Quốc hội cho phép. Đến cuối năm 2025, nợ công khoảng 33,8% GDP; nợ Chính phủ khoảng 32% GDP; nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 26,5% GDP. Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với tổng thu ngân sách nhà nước khoảng 17,2%, trong khi nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ khoảng 6-7%.
Đáng chú ý, mặc dù quy mô nợ công tiếp tục tăng từ mức 2,87 triệu tỷ đồng năm 2016 lên khoảng 4,3 triệu tỷ đồng năm 2025, song tốc độ tăng nợ đã giảm mạnh qua từng giai đoạn. Nếu giai đoạn 2011-2015, nợ công tăng bình quân 18,1%/năm thì giảm xuống còn 6,7%/năm trong giai đoạn 2016-2020 và tiếp tục giảm còn khoảng 4,4%/năm trong giai đoạn 2021-2025. Điều này cho thấy hiệu quả rõ nét trong kiểm soát vay nợ và cơ cấu lại nền tài chính quốc gia.
Đối với nợ nước ngoài của quốc gia, Việt Nam tiếp tục kiểm soát chặt chẽ dưới mức trần 50% GDP do Quốc hội cho phép. Đến cuối năm 2025, nợ nước ngoài của quốc gia ước khoảng 26,5% GDP. Trong bối cảnh thị trường tài chính toàn cầu biến động mạnh, lãi suất tăng cao giai đoạn 2021-2022, các doanh nghiệp và tổ chức tín dụng trong nước chủ yếu thực hiện trả nợ, hạn chế vay mới nhằm giảm rủi ro tỷ giá.
Cùng với đó, việc điều hành chính sách tiền tệ và tín dụng linh hoạt trong nước đã tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tiếp cận vốn nội địa, qua đó giảm dần sự phụ thuộc vào vốn vay nước ngoài. Quy mô nợ nước ngoài của khu vực công tiếp tục giảm từ 14,7% GDP năm 2021 xuống khoảng 7,3% GDP năm 2025. Trong khi đó, tỷ trọng nợ nước ngoài tự vay, tự trả của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng tăng từ 61,4% năm 2021 lên khoảng 72,4% năm 2025, phản ánh xu hướng chuyển dịch theo hướng thị trường và nâng cao trách nhiệm của khu vực doanh nghiệp.
Tổ chức huy động vốn với chi phí - rủi ro hợp lý
Song song với kiểm soát nợ công, công tác huy động vốn cho ngân sách nhà nước và đầu tư phát triển cũng được đổi mới mạnh mẽ. Trong giai đoạn 2021-2025, thị trường trái phiếu Chính phủ tiếp tục được xác định là trụ cột trong huy động vốn vay trong nước. Bộ Tài chính đã đa dạng hóa kỳ hạn phát hành trái phiếu, tập trung vào kỳ hạn trung và dài hạn nhằm kéo dài kỳ hạn bình quân danh mục nợ, giảm áp lực trả nợ ngắn hạn.
Nhiều phương thức phát hành linh hoạt như đấu thầu, phát hành riêng lẻ, hoán đổi và mua lại trái phiếu Chính phủ được triển khai đồng bộ, qua đó hỗ trợ quản lý chủ động danh mục nợ. Đồng thời, cơ sở nhà đầu tư tiếp tục được mở rộng với sự tham gia ngày càng lớn của các tổ chức tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ đầu tư và các nhà đầu tư dài hạn, góp phần nâng cao chiều sâu và tính ổn định của thị trường vốn.
Trong quản lý và sử dụng vốn vay, Bộ Tài chính cũng từng bước hoàn thiện cơ chế theo hướng chặt chẽ, minh bạch và gắn với trách nhiệm trả nợ. Các khoản vay chỉ được xem xét khi có phương án trả nợ rõ ràng, khả thi; trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương, giữa cơ quan quyết định đầu tư và đơn vị sử dụng vốn vay được phân định cụ thể hơn. Đồng thời, trách nhiệm giải trình của các cơ quan, đơn vị sử dụng vốn vay cũng được tăng cường nhằm bảo đảm hiệu quả đầu tư và an toàn tài chính quốc gia.
| Một điểm sáng khác là công tác xếp hạng tín nhiệm quốc gia tiếp tục đạt kết quả tích cực. Bộ Tài chính đã chủ trì làm việc với các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế lớn gồm Moody’s, S&P và Fitch Ratings. Kết quả, Việt Nam tiếp tục duy trì hệ số tín nhiệm tích cực khi Fitch Ratings và S&P đánh giá ở mức BB+, còn Moody’s đánh giá ở mức Ba2 với triển vọng ổn định. Trong bối cảnh nhiều quốc gia trong khu vực bị hạ triển vọng tín nhiệm, kết quả này phản ánh sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, dư địa tài khóa được cải thiện và hiệu quả điều hành kinh tế của Chính phủ, Bộ Tài chính trong thời gian qua. Đây cũng là cơ sở quan trọng để Việt Nam tiếp tục nâng cao khả năng huy động vốn với chi phí hợp lý, củng cố niềm tin của nhà đầu tư và tăng cường sức chống chịu của nền tài chính quốc gia trong giai đoạn phát triển mới. |
Tin tức khác
Việt Nam - Nhật Bản: Mở rộng hợp tác đầu tư, hướng tới phát triển bền vững
Có đủ cơ sở để kiểm soát lạm phát dưới 5% trong năm 2026
Đảng ủy VINAFOR phát huy vai trò lãnh đạo, tạo nền tảng hoàn thành mục tiêu kinh doanh
Hợp tác quốc tế sâu rộng, tạo nền tảng hiện đại hóa tài chính công
TP. Hồ Chí Minh: Tỷ lệ giải ngân đầu tư công đạt 36,8%, cao hơn mức bình quân cả nước
Giải ngân đầu tư công tăng tốc, tạo dư địa cho tăng trưởng 2 con số
Bài 4: Phần nổi là chỉ số, phần chìm mới quyết định xu hướng thị trường
VIDEO: Quy định mới về quản lý thuế xuất nhập khẩu: Không phải nộp lại chứng từ đã có trên các cổng thông tin số
VIDEO: Siết chặt nhập khẩu ô tô biếu tặng: Kiểm soát hồ sơ ngay từ đầu thay vì giám sát sau thông quan
VIDEO: Tăng cường hợp tác tài chính và đầu tư chất lượng cao với Australia
PODCAST: Nghị định mới về thuế thu nhập cá nhân; doanh nghiệp cần lưu ý gì?
VIDEO: Bảo hiểm xã hội Việt Nam tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm trong 6 tháng cuối năm 2026
Việt Nam - Nhật Bản: Mở rộng hợp tác đầu tư, hướng tới phát triển bền vững
Nghị quyết số 10-NQ/TW tạo lực đẩy FDI tăng tốc để hiện thực mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu giải ngân 100% vốn các chương trình mục tiêu quốc gia năm 2026
Phó Thủ tướng Phạm Gia Túc: Petrovietnam phải biến nguồn lực thành tăng trưởng
Chuyển dịch tư duy FDI thế hệ mới: Từ thu hút vốn sang kiến tạo năng lực tự chủ của nền kinh tế
Khẩn trương trình phân bổ vốn Chương trình Mục tiêu quốc gia năm 2026
Hà Nội không điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế 11%
Hà Nội cần xây dựng lại kịch bản tăng trưởng cụ thể đến từng ngành, lĩnh vực, địa phương
Thủ tướng Chính phủ: Không để tổ chức thực thi pháp luật trở thành "điểm nghẽn của điểm nghẽn"
TP. Hồ Chí Minh tìm lời giải tài chính xanh cho chuyển đổi khu công nghiệp
Thương hiệu quốc gia mở đường nâng tầm giá trị nông sản Việt
Tăng trưởng GDP 10%: Việt Nam bước vào quỹ đạo phát triển mới
Khu kinh tế Dung Quất viết tiếp hành trình bằng chuyển đổi xanh
Hợp tác xã phát triển theo chiều sâu để tăng sức cạnh tranh
VNVC và Sanofi thúc đẩy sản xuất vắc xin thế hệ mới tại Việt Nam
Kinh tế đêm trở thành động lực tăng trưởng mới của du lịch TP. Hồ Chí Minh
Nghị quyết số 10-NQ/TW tạo lực đẩy FDI tăng tốc để hiện thực mục tiêu tăng trưởng 2 con số










