Giải pháp kinh tế - tài chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 2 con số ở Việt Nam
ThS.Lê Thị Mai Liên
Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính
Email: [email protected]
TS.Phạm Thị Thanh Hương
Khoa Kinh tế, Học viện Hành chính và Quản trị công
Mail: [email protected]
TS.Lương Thị Huyền
Khoa Kế toán- Trường Đại học Lao động xã hội
Email: [email protected]
TĂNG TRƯỞNG 2 CON SỐ: MỤC TIÊU LỚN VÀ YÊU CẦU CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN
Sau gần 4 thập kỷ đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng về tăng trưởng và phát triển. Quy mô nền kinh tế không ngừng mở rộng (Theo Cục Thống kê, quy mô GDP Việt Nam tăng từ 346,6 tỷ USD năm 2020 lên trên 514 tỷ USD năm 2025, tương đương tăng khoảng 167,4 tỷ USD, hay 48,3% chỉ sau 5 năm), kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại (Giai đoạn 2020-2025, tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ trong GDP đã tăng từ 78,6% lên 80,4%, trong khi tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 12,7% xuống 11,6%), năng suất lao động từng bước được cải thiện, xuất khẩu duy trì tốc độ tăng trưởng cao và vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế thế giới ngày càng được nâng lên. Các chính sách tài khóa, tiền tệ, đầu tư công, phát triển thị trường tài chính, hỗ trợ doanh nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế đã đóng góp quan trọng vào quá trình này.
Tuy nhiên, yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới đã thay đổi. Mục tiêu tăng trưởng cao không chỉ nhằm cải thiện quy mô GDP mà còn hướng tới nâng cao thu nhập, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và tạo nền tảng để Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
Định hướng mục tiêu tăng trưởng 2 con số được đặt trong bối cảnh năm 2025 tăng trưởng 8,02%, sau đó duy trì tốc độ trên 10% trong giai đoạn 2026-2030. Đây là mục tiêu rất cao nếu so với lịch sử tăng trưởng của Việt Nam: kể từ khi bắt đầu công cuộc “Đổi mới” năm 1986, Việt Nam mới chỉ có 2 năm đạt mức tăng trưởng trên 10%. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng tiềm năng của nền kinh tế chỉ khoảng 6,1-6,25% trong giai đoạn 2016-2024 (giai đoạn 2021-2025 tăng trưởng bình quân đạt 6,2%) và có thể tăng lên khoảng 7,4% trong giai đoạn 2026-2030. Như vậy, để đạt tăng trưởng 2 con số, Việt Nam phải tạo ra một bước nhảy đáng kể về năng lực cung ứng, năng suất và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Điều này cho thấy tăng trưởng 2 con số không thể đạt được chỉ bằng việc mở rộng đầu tư hay gia tăng tổng cầu trong ngắn hạn. Mục tiêu này đòi hỏi một sự chuyển đổi căn bản mô hình tăng trưởng, trong đó năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả sử dụng vốn phải trở thành những động lực trung tâm.
NHẬN DIỆN NHỮNG “ĐIỂM NGHẼN” CỦA MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG
Thực tế cho thấy nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều động lực tăng trưởng tích cực nhưng chưa hình thành đầy đủ các điều kiện nền tảng để duy trì tốc độ tăng trưởng 2 con số trong thời gian dài.
Thứ nhất, chất lượng tăng trưởng còn hạn chế. Năng suất lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) mặc dù đã được cải thiện nhưng chưa tạo ra bước đột phá đủ lớn để nâng tốc độ tăng trưởng tiềm năng lên mức 2 con số. Năm 2025, năng suất lao động theo giá so sánh tăng 6,83%, cao hơn năm trước; tuy nhiên, tốc độ tăng năng suất lao động bình quân 5 năm chỉ đạt 5,21%/năm, thấp hơn mục tiêu đề ra (6,5%/năm). Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 47%, nghĩa là hơn một nửa mức tăng trưởng vẫn đến từ việc gia tăng vốn và lao động. Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư còn thấp (Hệ số ICOR bình quân giai đoạn 2021-2025 ở mức 6,43; giai đoạn 2016-2020 là 6,77; mục tiêu giai đoạn 2026-2030 là 4,5-4,8), trong khi tăng trưởng vẫn phụ thuộc tương đối lớn vào việc gia tăng vốn và mở rộng các yếu tố đầu vào.
Thứ hai, khu vực kinh tế tư nhân chưa phát huy đầy đủ vai trò động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Quy mô, năng lực cạnh tranh, khả năng tích lũy và năng lực đổi mới công nghệ của phần lớn doanh nghiệp tư nhân còn hạn chế. Tính đến cuối tháng 6/2026, cả nước có khoảng 1,062 triệu doanh nghiệp đang hoạt động; khu vực tư nhân chiếm khoảng 96% số doanh nghiệp và 78,2% tổng vốn đăng ký. Sáu tháng đầu năm 2026 có 111,7 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và 58,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, nâng tổng số gia nhập và tái gia nhập thị trường lên 169,8 nghìn doanh nghiệp, nhưng đồng thời có khoảng 151,1 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Đáng chú ý, nhóm doanh nghiệp có vốn từ 0-10 tỷ đồng tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất với 49.959 doanh nghiệp, tương đương 85,9% tổng số doanh nghiệp quay lại hoạt động; quy mô vốn bình quân chỉ khoảng 12,1 tỷ đồng. Quy mô nhỏ, tích lũy hạn chế và tỷ lệ rút lui cao làm giảm khả năng đầu tư dài hạn cho công nghệ, quản trị, tiêu chuẩn chất lượng và mở rộng thị trường. Khả năng tiếp cận đất đai, tín dụng, vốn dài hạn, công nghệ và nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu. Đây là “điểm nghẽn” cần được quan tâm bởi trong một nền kinh tế hướng tới tăng trưởng cao, khu vực tư nhân phải trở thành lực lượng chủ yếu tạo ra việc làm, đầu tư, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất.
Thứ ba, thị trường vốn chưa phát triển tương xứng với nhu cầu vốn của nền kinh tế. Hệ thống tài chính vẫn dựa nhiều vào tín dụng ngân hàng, trong khi các kênh huy động vốn trung và dài hạn như thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư và các định chế đầu tư dài hạn chưa phát huy đầy đủ vai trò. Đến cuối tháng 6/2026, tăng trưởng tín dụng ước đạt 7,73%, tương đương bổ sung khoảng 1,4 triệu tỷ đồng cho nền kinh tế. Trong khi đó, tổng mức huy động vốn qua thị trường chứng khoán 6 tháng mới khoảng 173,8 nghìn tỷ đồng, tương đương 9,6% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và 17,9% vốn đầu tư khu vực ngoài nhà nước.
Thứ tư, đầu tư công chưa thực sự phát huy hết vai trò dẫn dắt. Trong khi nguồn lực công có khả năng tạo ra hiệu ứng lan tỏa và “vốn mồi” để thu hút đầu tư tư nhân, hiệu quả đầu tư công còn chịu ảnh hưởng bởi những hạn chế về chuẩn bị dự án, giải phóng mặt bằng, phân bổ vốn, tiến độ thực hiện và năng lực quản lý. Theo kế hoạch đầu tư công năm 2026 là khoảng 1,08 triệu tỷ đồng, mức cao nhất từ trước đến nay; tuy nhiên, 06 tháng đầu năm 2026 mới giải ngân gần 357 nghìn tỷ đồng, đạt 35,5% kế hoạch. Vẫn còn 7 bộ, cơ quan có tỷ lệ giải ngân dưới 5% hoặc chưa giải ngân; 15 dự án, dự án thành phần giao thông trọng điểm giải ngân dưới 5%, trong đó 10 dự án chưa giải ngân. Cả nước đã nhận diện 4.606 dự án vướng mắc, nhưng mới tháo gỡ được 1.789 dự án; 273 dự án với tổng mức đầu tư khoảng 286,5 nghìn tỷ đồng đã hoàn thành, đưa vào sử dụng.
Thứ năm, liên kết vùng và liên kết ngành còn yếu, chưa phát huy đầy đủ vai trò lan tỏa của các cực tăng trưởng. Các nguồn lực chưa được tổ chức và phân bổ tối ưu giữa các vùng kinh tế động lực; hạ tầng kết nối, logistics và các chuỗi giá trị trong nước chưa đồng bộ, làm hạn chế khả năng lan tỏa của tăng trưởng. Chi phí logistics của Việt Nam vẫn ở mức cao (khoảng 18-21% GDP), cao hơn đáng kể so với mức bình quân toàn cầu; trong khi vận tải đường bộ chiếm tới trên 70% khối lượng hàng hóa vận chuyển (năm 2025), cho thấy cơ cấu vận tải và kết nối đa phương thức còn chưa phát triển đồng bộ. Chất lượng logistics cũng chưa theo kịp yêu cầu phát triển, thể hiện qua việc thứ hạng của Việt Nam trên Chỉ số năng lực logistics của World Bank tăng chậm từ 48 năm 2014 lên 43 năm 2023. Bên cạnh đó, liên kết giữa khu vực doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI và các chuỗi giá trị còn hạn chế; khu vực FDI năm 2025 chiếm khoảng 75,9% kim ngạch xuất khẩu không kể dầu thô và 69% kim ngạch nhập khẩu; khu vực này xuất siêu khoảng 49,6 tỷ USD, trong khi khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu trên 30,6 tỷ USD. Cơ cấu trên phản ánh năng lực xuất khẩu cao nhưng đồng thời cho thấy mức độ phụ thuộc lớn vào khu vực FDI và đầu vào nhập khẩu, trong khi khả năng cung ứng nội địa và tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào các khâu có giá trị gia tăng cao còn hạn chế. Những hạn chế này cho thấy các nguồn lực chưa được kết nối và phân bổ tối ưu giữa các vùng, hạ tầng logistics và mạng lưới cung ứng chưa đồng bộ, qua đó làm giảm khả năng truyền dẫn và lan tỏa của tăng trưởng từ các vùng kinh tế động lực sang các địa phương và khu vực khác.
Thứ sáu, năng lực khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo còn khoảng cách đáng kể so với các quốc gia phát triển trong khu vực. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra nhanh chóng, năng lực làm chủ công nghệ, đặc biệt trong các lĩnh vực chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn và công nghệ số, sẽ quyết định khả năng nâng cao năng suất và duy trì tăng trưởng cao. Việt Nam xếp thứ 44/139 nền kinh tế trong Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025, xếp thứ 55 thế giới về chỉ số hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu và xếp thứ 6/40 quốc gia về Chỉ số AI Thế giới năm 2025. Việt Nam cũng chưa có cụm đổi mới sáng tạo nào thuộc nhóm dẫn đầu toàn cầu. Bên cạnh đó, tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện đổi mới sáng tạo năm 2025 đạt 34,6%, giảm 4,2 điểm phần trăm so với năm 2024. Kinh tế số đã chiếm khoảng 14,02% GDP năm 2025, song phần số hóa của các ngành kinh tế ngoài lõi số mới đóng góp khoảng 5,60% GDP. Các số liệu này cho thấy Việt Nam có lợi thế về ứng dụng và đầu ra công nghệ, nhưng năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi, liên kết viện - trường - doanh nghiệp và mức độ số hóa sâu trong các ngành truyền thống vẫn là điểm nghẽn
Thứ bảy, những điểm nghẽn về thể chế, môi trường đầu tư kinh doanh và chất lượng nguồn nhân lực vẫn là các rào cản lớn. Áp lực lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô có thể gia tăng khi tổng cầu được kích thích mạnh. Số liệu 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy CPI bình quân tăng 4,38% so với cùng kỳ; giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 4,18%, trong khi giá sản xuất nguyên, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất tăng 5,40%. Điều này cho thấy việc thúc đẩy tăng trưởng cần được thực hiện đồng thời với kiểm soát chi phí đầu vào và ổn định mặt bằng giá. Ngoài ra, trong 6 tháng đầu năm 2026 (tính đến ngày 13/6/2026), có 743 TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp bộ đã được cắt giảm; bãi bỏ 697 TTHC, cắt giảm 1.754 điều kiện kinh doanh không cần thiết; 673 TTHC được đơn giản hoá; giảm 53% thời gian giải quyết TTHC và 54,6% chi phí tuân thủ. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn gặp khó tại các khâu quyết định như quy hoạch, đất đai, xác định giá đất, cấp phép xây dựng, hoàn thuế và phối hợp liên ngành. Chỉ số B-READY 2025 xếp Việt Nam thứ 14/30 tại châu Á và 42/101 trên toàn cầu (trung bình 63,8 điểm). Điểm số này giảm nhẹ so với mức 64,34 điểm của năm 2024 do một số vấn đề như phá sản doanh nghiệp, chất lượng dịch vụ công và cạnh tranh thị trường còn hạn chế. Đồng thời, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2025 mới đạt 29,2%, chưa đáp ứng nhanh nhu cầu nhân lực cho bán dẫn, AI, dữ liệu, năng lượng và dịch vụ chuyên môn. Do đó, chất lượng thực thi, năng lực cấp cơ sở và nguồn nhân lực đang trở thành giới hạn trực tiếp đối với tốc độ tăng trưởng. Đây là những yếu tố có tính nền tảng, tác động đồng thời đến cả phía cung và phía cầu của nền kinh tế.
Như vậy, thách thức lớn nhất đối với mục tiêu tăng trưởng 2 con số không phải đơn thuần là thiếu vốn, mà là khả năng chuyển hóa nguồn lực thành năng lực sản xuất, năng suất và giá trị gia tăng. Nếu hiệu quả sử dụng vốn không được cải thiện, việc mở rộng đầu tư có thể dẫn tới áp lực lạm phát, gia tăng nợ và mất cân đối vĩ mô mà không tạo ra mức tăng trưởng tương ứng.
GIẢI PHÁP KINH TẾ - TÀI CHÍNH THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Chính sách tài khóa và yêu cầu chuyển từ “hỗ trợ” sang “kiến tạo động lực tăng trưởng”
Trong điều kiện mục tiêu tăng trưởng cao, chính sách tài khóa cần chuyển mạnh từ tư duy “bảo đảm cân đối ngân sách” sang “tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nguồn lực tài khóa”, nhưng vẫn giữ vững kỷ luật và an toàn tài chính quốc gia. Trọng tâm trước hết là nâng cao hiệu quả chi ngân sách. Các khoản chi thường xuyên cần tiếp tục được cơ cấu lại theo hướng tiết kiệm, hiệu quả, dành thêm nguồn lực cho đầu tư phát triển, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục, y tế và chuyển đổi số. Cần đánh giá chi tiêu công dựa trên kết quả đầu ra, thay vì chỉ dựa vào mức độ hoàn thành. Đồng thời, cần ưu tiên nguồn lực ngân sách cho những dự án có khả năng tạo ra “hiệu ứng số nhân” cao. Đó là các dự án hạ tầng giao thông liên vùng, đường sắt tốc độ cao, cảng biển, sân bay, hạ tầng năng lượng, hạ tầng số, trung tâm dữ liệu và các công trình thích ứng biến đổi khí hậu.
Điểm quan trọng là đầu tư công phải đóng vai trò “vốn mồi” để tạo hạ tầng và không gian phát triển để thu hút đầu tư tư nhân, thay vì dàn trải nguồn lực vào quá nhiều dự án. Theo hướng này, cần xây dựng danh mục dự án PPP quy mô lớn, minh bạch về phương án tài chính, chia sẻ rủi ro hợp lý giữa Nhà nước và nhà đầu tư, đồng thời giảm thời gian chuẩn bị và phê duyệt dự án. Đồng thời, cần chuyển từ tư duy “giải ngân bằng mọi giá” sang “giải ngân gắn với hiệu quả đầu ra”, đánh giá dự án theo khả năng tạo giá trị gia tăng, việc làm, thu ngân sách và tác động lan tỏa.
Ngoài ra, cần tối ưu hóa cấu trúc thuế và phí theo hướng nuôi dưỡng nguồn thu, mở rộng cơ sở thuế và giảm chi phí biên bền vững cho nền kinh tế. Chính sách thuế cần tạo môi trường kinh doanh có tính dự báo cao, khuyến khích tích tụ vốn và đầu tư dài hạn, đặc biệt trong khu vực kinh tế tư nhân. Thay vì dựa quá nhiều vào các gói hỗ trợ ngắn hạn, cần xây dựng các chính sách ưu đãi thuế có lộ trình trung và dài hạn, tập trung vào các ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ cao và lĩnh vực có giá trị gia tăng lớn.
Kinh tế tư nhân phải trở thành động lực trung tâm
Một trong những vấn đề trọng tâm là không thể đạt tăng trưởng 2 con số nếu thiếu sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân. Để khu vực này thực sự trở thành động lực tăng trưởng, cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, cắt giảm chi phí tuân thủ, bảo đảm quyền tự do kinh doanh và khả năng tiếp cận bình đẳng các nguồn lực. Các doanh nghiệp tư nhân cần được tạo điều kiện tiếp cận tốt hơn với đất đai, tín dụng, thị trường vốn, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đặc biệt, cần phát triển các kênh tài chính dài hạn cho khu vực tư nhân, bao gồm thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ bảo lãnh tín dụng và các cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mục tiêu không chỉ là tăng số lượng doanh nghiệp mà phải nâng cao chất lượng, quy mô và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
Trong dài hạn, cần hình thành một lớp doanh nghiệp tư nhân có khả năng đầu tư vào công nghệ, nghiên cứu và phát triển, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và trở thành lực lượng dẫn dắt các ngành kinh tế mới.
Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực đột phá
Nếu vốn là điều kiện cần thì năng suất và công nghệ là điều kiện quyết định để duy trì tăng trưởng 2 con số trong dài hạn. Do đó, cần chuyển mạnh chính sách tài chính khoa học - công nghệ từ cơ chế phân bổ nguồn lực theo đầu vào sang tài trợ theo kết quả, sản phẩm và khả năng thương mại hóa. Nguồn lực nhà nước cần tập trung cho nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược và phát triển các công nghệ nền tảng; đồng thời, tạo cơ chế để doanh nghiệp tăng đầu tư cho R&D và đổi mới công nghệ.
Các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu số, điện toán đám mây, công nghệ sinh học, năng lượng mới và công nghệ xanh cần được xác định là những lĩnh vực ưu tiên. Chính sách tài chính cần hỗ trợ phát triển hạ tầng số, dữ liệu số và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; đồng thời, thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ và chuyển đổi số.
Đây là giải pháp có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng tốc độ tăng trưởng tiềm năng của nền kinh tế. Nếu không nâng được năng suất, tăng trưởng cao sẽ khó duy trì và dễ tạo ra những bất cân đối mới.
Huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực cho tăng trưởng cao
Để đạt tăng trưởng 2 con số, tổng nhu cầu vốn đầu tư sẽ rất lớn. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng bài toán nguồn lực không chỉ là huy động thêm vốn mà còn là nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng vốn.
Theo đó, cần phát triển đồng bộ các thị trường tài chính, đa dạng hóa nguồn vốn trung và dài hạn, tăng khả năng huy động vốn từ khu vực tư nhân và nâng cao chất lượng dòng vốn FDI. FDI cần được định hướng mạnh hơn vào các ngành công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, đổi mới sáng tạo và các lĩnh vực có khả năng kết nối với doanh nghiệp trong nước.
Đồng thời, cần nâng cao chất lượng đầu tư công để tạo hiệu ứng lan tỏa và dẫn dắt đầu tư tư nhân. Đầu tư công cần ưu tiên các dự án hạ tầng liên vùng, hạ tầng chiến lược, hạ tầng số và năng lượng; đồng thời khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, thiếu liên kết và hiệu quả thấp.
Việc huy động nguồn lực cũng cần gắn với yêu cầu bảo đảm an toàn tài chính quốc gia. Tăng trưởng cao không thể dựa trên mở rộng bội chi và nợ công một cách thiếu kiểm soát. Do đó, cần duy trì kỷ luật tài khóa, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Tăng trưởng cao đi đôi với phát triển bền vững và nâng cao chất lượng
Một nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng dựa quá nhiều vào khai thác tài nguyên, vốn và lao động giá rẻ sẽ khó duy trì tốc độ cao trong dài hạn. Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng 2 con số cần được gắn với chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng xanh, số và dựa trên tri thức.
Cùng với phát triển các động lực tăng trưởng mới, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực khoa học - công nghệ, kỹ thuật và quản trị. Giáo dục nghề nghiệp và đào tạo đại học phải gắn chặt hơn với nhu cầu của doanh nghiệp và các ngành công nghệ mới.
Bên cạnh đó, cần thúc đẩy tiêu dùng trong nước, phát triển thị trường nội địa và nâng cao sức mua của người dân. Một nền kinh tế có quy mô lớn và tầng lớp trung lưu ngày càng mở rộng sẽ tạo ra động lực quan trọng cho tăng trưởng từ phía cầu.
Xuất khẩu tiếp tục là một động lực quan trọng, nhưng cần chuyển từ mô hình dựa nhiều vào gia công, lắp ráp sang nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng. Việc tận dụng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cần đi đôi với phát triển năng lực của doanh nghiệp trong nước và nâng cao khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, Việt Nam cần tạo ra những đột phá đủ mạnh về thể chế, năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, đầu tư và phát triển khu vực kinh tế tư nhân.
Để hiện thực hóa mục tiêu, cần tập trung vào sáu đột phá: (i) đột phá về thể chế và môi trường đầu tư kinh doanh, tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao tính dự báo của chính sách; (ii) đột phá về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, coi đây là động lực chủ yếu để nâng năng suất và tăng trưởng tiềm năng; (iii) đột phá về phát triển kinh tế tư nhân, tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân tiếp cận bình đẳng các nguồn lực và hình thành các doanh nghiệp quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh quốc tế; (iv) đổi mới chính sách tài khóa, chuyển từ tư duy quản lý nguồn thu - chi sang tư duy kiến tạo tăng trưởng; mở rộng cơ sở thuế, nuôi dưỡng nguồn thu và nâng cao hiệu quả chi ngân sách; (v) nâng cao hiệu quả đầu tư công và huy động nguồn lực xã hội, trong đó đầu tư công phải thực sự đóng vai trò dẫn dắt, tạo “vốn mồi” và mở rộng không gian cho đầu tư tư nhân; (vi) phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và các động lực tăng trưởng mới, đồng thời tăng cường liên kết vùng, liên kết ngành và nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Tăng trưởng 2 con số không đơn thuần là câu chuyện của một chỉ tiêu GDP. Đó là yêu cầu chuyển đổi toàn diện mô hình phát triển, từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn và lao động sang tăng trưởng dựa trên năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Trong quá trình đó, chính sách kinh tế - tài chính phải giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và huy động nguồn lực; khu vực tư nhân phải trở thành động lực quan trọng; đầu tư công phải tạo nền tảng và “vốn mồi”; còn khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo phải trở thành động lực đột phá.
Nếu thực hiện đồng bộ các cải cách này, Việt Nam không chỉ có khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026-2030 mà còn có thể từng bước nâng cao tốc độ tăng trưởng tiềm năng, tạo nền tảng vững chắc để hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Tài liệu tham khảo:
- Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương. (2026). Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 và cập nhật kịch bản tăng trưởng, đề xuất các nhiệm vụ và giải pháp để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 10% cho năm 2026 (Báo cáo nghiên cứu chuyên đề).
- Bộ Khoa học và Công nghệ (2026). Số liệu nổi bật lĩnh vực đổi mới sáng tạo năm 2025.
- Bộ Tài chính (2026). Báo cáo đánh giá tình hình kinh tế - xã hội năm 2025; tổng kết tình hình thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2025 và Nghị quyết số 154/NQ-CP ngày 31/5/2025 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2025 (Báo cáo số 09/BC-BTC ngày 07/01/2026).
- Bộ Tài chính (2026). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2026 (Báo cáo số 509/BC-BTC ngày 03/07/2026).
- Cục Thống kê (2026). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội các quý và các năm.
- Cục Thống kê (2026). Bức tranh phát triển doanh nghiệp Việt Nam năm 2025.
- Cục Thống kê (2026). Thông cáo báo chí tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP, GRDP giai đoạn 2021-2025.
- Hồ, S. H. (2025). Hoàn thiện thể chế tài chính trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tạp chí Kinh tế - Tài chính (eMagazine).
- Lê, X. S. (2024). Phát triển khu vực kinh tế tư nhân trở thành động lực tăng trưởng quan trọng. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (11).
- Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. (2025). PCI 2024: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam-Đánh giá chất lượng điều hành kinh tế để thúc đẩy phát triển doanh nghiệp. Nhà xuất bản Dân Trí.
- Nguyễn, Đ. C. (2023). Cải cách thể chế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tạp chí Kinh tế Việt Nam, (18).
- Nguyễn, M. P. (2024). Động lực tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong bối cảnh mới. Tạp chí Tài chính, kỳ 1 tháng 5/2024.
- Nguyễn, T. T. A. (2023). Năng suất lao động và chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, (8).
- World Intellectual Property Organization. (2025). Viet Nam ranking in the Global Innovation Index 2025.
| Bài đã đăng Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in kỳ 1 tháng 8/2026 |
Tin tức khác
Hà Nội quyết định loạt chính sách lớn, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn phát triển
Khơi thông dòng vốn dài hạn, tạo sức bật cho tăng trưởng kinh tế
Hà Nội tăng tốc chuyển đổi các khu công nghiệp sang mô hình sinh thái
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm, thúc đẩy hợp tác quốc tế
Kinh tế bạc trong quy hoạch tổng thể TP. Hồ Chí Minh, tầm nhìn 100 năm
Bài 2: Phát triển “kinh tế bạc” thúc đẩy tăng trưởng cao
Để tăng trưởng 2 con số, cần chuyển hóa các nguồn lực thành giá trị gia tăng thực chất cho nền kinh tế
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
Bộ trưởng Bộ Xây dựng: Không thể mua nhà ở xã hội rồi bán lại theo giá thị trường
Hưởng ưu đãi, doanh nghiệp phải có nghĩa vụ tương ứng về giá, chất lượng nhà cho thuê
Bài 1: Tầm nhìn mở lối, hiện thực hóa khát vọng phát triển
Bán lại sau 5 năm: Không để nhà ở xã hội trở thành cơ hội đầu cơ
Việt Nam nâng cao sức chống chịu, tạo động lực tăng trưởng mới
Đề xuất bổ sung hành vi tự ưu đãi, đánh giá giả, "siết" cạnh tranh trên nền tảng số
Xác định vị trí thống lĩnh thị trường từ ngưỡng thị phần 10% kèm sức mạnh thị trường đáng kể
Tạo không gian thử nghiệm, hiện đại hóa hạ tầng thị trường chứng khoán
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm, thúc đẩy hợp tác quốc tế
Chuyên gia kinh tế chia sẻ kinh nghiệm huy động nguồn lực cho phát triển bền vững
Hà Nội quyết định loạt chính sách lớn, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn phát triển
Khơi thông dòng vốn dài hạn, tạo sức bật cho tăng trưởng kinh tế
Hà Nội tăng tốc chuyển đổi các khu công nghiệp sang mô hình sinh thái
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm, thúc đẩy hợp tác quốc tế
Năng lượng sạch - động lực cho tăng trưởng xanh trong kỷ nguyên mới
Kinh tế bạc trong quy hoạch tổng thể TP. Hồ Chí Minh, tầm nhìn 100 năm
Bài 2: Ổn định vĩ mô - Giữ nhịp tăng trưởng trước sức ép lạm phát









