Đẩy mạnh cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và đổi mới quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp
Nguyễn Thị Thùy Dương
Cục Phát triển Doanh nghiệp nhà nước, Bộ Tài chính
Đoàn Thanh Thảo
Cục Phát triển Doanh nghiệp nhà nước, Bộ Tài chính
Email: doanhthanhthao1@mof.gov.vn
MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, doanh nghiệp nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy phát triển bền vững. Bên cạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp nhà nước còn thực hiện các nhiệm vụ chính trị - xã hội, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, củng cố quốc phòng, an ninh và cung cấp dịch vụ công ích thiết yếu. Vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước được thể hiện rõ trong các lĩnh vực then chốt như năng lượng, viễn thông, tài chính - ngân hàng, kết cấu hạ tầng, khai khoáng và công nghiệp nặng.
Thời gian qua, công tác đổi mới, sắp xếp và cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước đã đạt nhiều kết quả tích cực; bộ máy từng bước được tinh gọn, chất lượng quản trị được nâng cao, nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong đầu tư phát triển và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của một số doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa tương xứng với nguồn lực được giao; năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và hiệu quả sử dụng vốn còn hạn chế; tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn và tái cơ cấu tại một số đơn vị chưa đạt yêu cầu; cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước vẫn còn vướng mắc.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, cạnh tranh chiến lược gia tăng, cùng yêu cầu chuyển đổi xanh và phát triển bền vững, Việt Nam cần tiếp tục cơ cấu lại nền kinh tế và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực. Vì vậy, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và đổi mới phương thức quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2030.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Quan điểm của Đảng về phát triển doanh nghiệp nhà nước
Quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội là phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và doanh nghiệp nhà nước là lực lượng quan trọng để thực hiện vai trò này. Vai trò chủ đạo được thể hiện ở năng lực dẫn dắt, điều tiết và định hướng nền kinh tế; bảo đảm các cân đối vĩ mô lớn; đầu tư vào những công trình, lĩnh vực chiến lược, then chốt mà khu vực tư nhân chưa có điều kiện hoặc chưa đủ nguồn lực tham gia.
Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 3/6/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước và Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đã đặt nền móng cho quá trình cơ cấu lại theo hướng hiện đại. Các nghị quyết xác định chủ trương thu hẹp diện doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt, địa bàn quan trọng về quốc phòng, an ninh và các lĩnh vực công ích thiết yếu. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, trong đó yêu cầu kinh tế nhà nước thực sự trở thành công cụ quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô.
Ngày 06/01/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, đánh dấu bước đổi mới quan trọng về tư duy chiến lược. Nghị quyết yêu cầu cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo hướng thực chất, hiệu quả; giảm đầu mối trung gian; nâng cao quy mô, năng lực tài chính và quản trị để doanh nghiệp nhà nước phát huy vai trò lớn hơn, chủ động hơn trước các thách thức toàn cầu. Nghị quyết số 79-NQ/TW đồng thời khuyến khích các tập đoàn, tổng công ty nhà nước lớn, có đủ năng lực đầu tư ra nước ngoài trong những lĩnh vực có lợi thế so sánh, thị trường tiềm năng hoặc khả năng tiếp cận công nghệ lõi, công nghệ mới. Mục tiêu là từng bước hình thành các tập đoàn đa quốc gia do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối, mở rộng không gian kinh tế, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và nâng cao mức độ tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Yêu cầu đặt ra trong bối cảnh mới
Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và xu hướng phát triển bền vững đang định hình lại cấu trúc kinh tế toàn cầu. Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp nhà nước cần đổi mới phương thức hoạt động, phát huy vai trò tiên phong trong đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học - công nghệ, phát triển hạ tầng số và nâng cao năng suất lao động.
Tư duy quản lý vốn nhà nước cũng cần chuyển mạnh từ “quản lý hành chính”, can thiệp sâu vào hoạt động điều hành thường xuyên, sang “quản trị đầu tư hiện đại”. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước cần được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như hiệu quả đầu tư, tỷ suất sinh lời trên vốn, năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng tạo ra cho chuỗi giá trị ngành, thay vì chỉ tập trung kiểm soát quy trình, thủ tục. Cách tiếp cận này góp phần tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, phù hợp với các cam kết quốc tế và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
THỰC TRẠNG ĐẨY MẠNH CƠ CẤU LẠI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ ĐỔI MỚI QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC
Kết quả đạt được
Quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước
Thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, khu vực doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam đã trải qua quá trình tái cấu trúc sâu rộng, đạt được nhiều chuyển biến tích cực trên 3 phương diện: Quy mô, cơ cấu ngành nghề và chất lượng quản trị. Quá trình cơ cấu lại không còn mang tính phong trào hoặc chỉ nhằm giảm số lượng một cách cơ học, mà ngày càng đi vào thực chất, tập trung tối ưu hóa nguồn lực công.
Hệ thống pháp luật, với nòng cốt là Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp (Luật số 69/2014/QH13), đã được thay thế bằng Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp (Luật số 68/2025/ QH15). Ngay sau khi Luật số 68/2025/QH15 được ban hành, Bộ Tài chính đã khẩn trương xây dựng và trình Chính phủ ban hành 3 nghị định hướng dẫn thi hành, gồm: Nghị định số 365/NĐ-CP ngày 31/12/2025 về giám sát, kiểm tra, đánh giá, xếp loại, báo cáo và công khai thông tin trong quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Nghị định số 366/NĐ-CP ngày 31/12/2025 về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Nghị định số 57/NĐ-CP ngày 12/02/2026 về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Các quy định này đã tạo lập hành lang pháp lý tương đối toàn diện, phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan đại diện chủ sở hữu và doanh nghiệp. Tuy nhiên, trước yêu cầu của kinh tế số và hội nhập, mô hình quản lý hiện hành đã bộc lộ một số điểm nghẽn. Yêu cầu cấp bách hiện nay là tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện thể chế theo hướng phân định rõ chức năng quản lý nhà nước (ban hành chính sách, thanh tra, kiểm tra) với chức năng đại diện chủ sở hữu vốn (đầu tư, giám sát tài chính); đồng thời cắt giảm các thủ tục hành chính mang tính “xin - cho”, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp gắn với cơ chế hậu kiểm, giám sát và trách nhiệm giải trình của người đứng đầu.
Kết quả nổi bật trước hết là việc thu hẹp hợp lý, có lộ trình phạm vi đầu tư của Nhà nước. Nhà nước đã chủ động rút vốn, giảm tỷ lệ nắm giữ hoặc cổ phần hóa tại các ngành, lĩnh vực mà khu vực tư nhân có thể thực hiện hiệu quả hơn. Nguồn vốn thu hồi và tài sản công được tập trung, tích tụ và tái đầu tư vào các ngành kinh tế xương sống, có sức lan tỏa cao như sản xuất và truyền tải điện, khai thác dầu khí, viễn thông - hạ tầng số, ngân hàng thương mại quy mô lớn, kết cấu hạ tầng giao thông quốc gia (đường cao tốc, cảng biển, hàng không) và công nghiệp quốc phòng. Mô hình cơ cấu lại này góp phần tối ưu hóa việc phân bổ nguồn lực quốc gia, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, đồng thời tạo dư địa phát triển cho khu vực kinh tế tư nhân.
Thực tiễn cho thấy, các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước đóng vai trò là “bộ giảm xóc” quan trọng của nền kinh tế trước các cú sốc và biến động quốc tế. Trong thời kỳ đại dịch COVID-19 hoặc khi chuỗi cung ứng toàn cầu bị đứt gãy, các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực năng lượng, lương thực và viễn thông đã đi đầu trong việc ổn định giá cả thị trường, duy trì cung ứng điện, xăng dầu, lương thực và hạ tầng kết nối thông suốt, bảo đảm an sinh xã hội, tạo bệ đỡ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của toàn xã hội.
Công tác sắp xếp, hợp nhất, giải thể các doanh nghiệp nhỏ lẻ, hoạt động thua lỗ hoặc chồng chéo chức năng cũng được triển khai quyết liệt, qua đó giảm đáng kể đầu mối quản lý, tinh gọn bộ máy và cắt giảm chi phí hành chính. Phương thức quản trị doanh nghiệp tại các tập đoàn lớn từng bước tiệm cận chuẩn mực quốc tế thông qua việc áp dụng quản trị chiến lược, xây dựng hệ thống báo cáo tài chính minh bạch được kiểm toán độc lập, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và tự động hóa dây chuyền sản xuất; nhờ đó, năng suất lao động từng bước được cải thiện.
Đổi mới quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp
Cùng với việc sắp xếp lại doanh nghiệp, mô hình và công cụ quản lý vốn nhà nước cũng đạt được những bước tiến đáng kể theo hướng chuyên nghiệp hóa. Việc củng cố vai trò của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước, từng bước phát triển thành tổ chức kinh doanh vốn chuyên nghiệp, là minh chứng rõ nét cho quyết tâm tách bạch chức năng quản lý hành chính nhà nước với chức năng đầu tư, kinh doanh vốn.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ngày càng đồng bộ, xác định rõ hơn quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm giải trình của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Cơ chế giám sát tài chính được chuyển đổi mạnh mẽ từ tiền kiểm sang kết hợp giám sát từ xa với hậu kiểm. Các chỉ tiêu đánh giá được lượng hóa rõ ràng, tập trung vào khả năng sinh lời, hệ số an toàn nợ và tốc độ bảo toàn, phát triển vốn. Việc công khai thông tin tài chính của doanh nghiệp nhà nước trên các cổng thông tin điện tử quốc gia được thực hiện nghiêm túc hơn, qua đó tăng cường tính minh bạch trước công luận và các cơ quan giám sát.
Một số hạn chế
Một là, hiệu quả sử dụng nguồn lực chưa thực sự tương xứng, doanh nghiệp nhà nước đang nắm giữ khối tài sản và nguồn vốn lớn, nhưng đóng góp vào tăng trưởng GDP và hệ số sinh lời trên tài sản (ROA), hệ số sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) ở nhiều doanh nghiệp vẫn thấp hơn so với kỳ vọng và thấp hơn so với khu vực tư nhân hiệu quả hay khu vực FDI.
Hai là, tiến độ thực hiện kế hoạch cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước chưa đạt được như kỳ vọng so với đề án được duyệt. Nguyên nhân nghẽn lại chủ yếu do các vướng mắc phức tạp trong việc phê duyệt phương án sử dụng đất đai, xác định giá trị lợi thế quyền sử dụng đất, giá trị thương hiệu và tài sản vô hình của doanh nghiệp nhà nước, dẫn đến tâm lý e ngại, sợ sai phạm, sợ làm thất thoát tài sản nhà nước của những người thực hiện.
Ba là, quản trị doanh nghiệp còn chậm đổi mới, mô hình quản trị tại nhiều doanh nghiệp nhà nước vẫn mang nặng tính hành chính, phòng ban hóa, thiếu linh hoạt trước các biến động nhanh chóng của thị trường. Hệ thống quản trị rủi ro, kiểm toán nội bộ còn mang tính hình thức, chưa dự báo và ngăn ngừa được các rủi ro tài chính lớn. Cơ chế đãi ngộ, tiền lương còn mang tính cào bằng, chưa tạo được động lực mạnh mẽ để thu hút và giữ chân các nhà quản trị giỏi.
Bốn là, việc đầu tư còn dàn trải và dự án chưa thực sự hiệu quả, một số doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa tập trung cao nguồn lực vào ngành nghề kinh doanh cốt lõi. Công tác thẩm định, chuẩn bị dự án đầu tư chưa thực sự chặt chẽ, dẫn đến tình trạng nhiều dự án lớn bị chậm tiến độ nhiều năm, đội vốn đầu tư hoặc khi hoàn thành đưa vào vận hành thì thua lỗ, trở thành gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp và quốc gia.
Năm là, mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan liên quan và cơ quan đại diện chủ sở hữu trong một số trường hợp chưa thực sự thông suốt. Quy trình phê duyệt một dự án đầu tư phát triển, phê duyệt phương án tăng vốn điều lệ hay mua sắm tài sản lớn phải qua quá nhiều tầng nấc, thủ tục kéo dài, làm mất đi cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường cạnh tranh.
Nguyên nhân của những hạn chế
Về khách quan: Môi trường kinh tế quốc tế diễn biến phức tạp; cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi xanh diễn ra với tốc độ quá nhanh, tạo áp lực chi phí đầu tư đổi mới công nghệ vô cùng lớn cho doanh nghiệp. Thêm vào đó, hệ thống luật pháp của nước ta đang trong giai đoạn hoàn thiện nên còn tồn tại những khoảng trống, có sự chồng chéo, xung đột khiến doanh nghiệp lúng túng khi áp dụng thực tế.
Về chủ quan: Đây là nguyên nhân quyết định. Tư duy quản lý của một bộ phận lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước và cơ quan chủ quản chưa nhạy bén với thị trường. Sự phân cấp, phân quyền giữa chủ sở hữu và ban điều hành chưa triệt để, dẫn đến tình trạng “quyền lực không đi đôi với trách nhiệm”. Đặc biệt, hiện tượng một bộ phận cán bộ có tâm lý co cụm, sợ trách nhiệm, né tránh các quyết định đột phá, đùn đẩy lên cấp trên đang là rào cản kìm hãm sự sáng tạo và chủ động của doanh nghiệp.
GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ
Trong giai đoạn từ nay đến năm 2030 và các giai đoạn tiếp theo, yêu cầu đặt ra đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ dừng ở mục tiêu “bảo toàn vốn” theo hướng thụ động, mà phải chủ động tạo ra giá trị gia tăng đột phá, tiên phong đầu tư vào các công nghệ tương lai như năng lượng tái tạo, hydro xanh, chip bán dẫn, hạ tầng viễn thông 5G/6G và trí tuệ nhân tạo. Đồng thời, phương thức quản lý vốn nhà nước cần được đổi mới căn bản, chuyển từ tư duy kiểm soát hành chính sang quản trị danh mục đầu tư chuyên nghiệp theo cách tiếp cận của một “nhà đầu tư tài chính thông minh”, lấy hiệu quả cuối cùng làm thước đo quan trọng nhất. Để đạt được các yêu cầu nêu trên, các giải pháp khuyến nghị được đề xuất gồm:
Thứ nhất, hoàn thiện đồng bộ thể chế về quản lý vốn nhà nước, theo đó tập trung rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật còn chồng chéo, xung đột. Quy định rõ Nhà nước quản lý dòng vốn đầu tư tại doanh nghiệp với tư cách là chủ sở hữu vốn, không quản lý pháp nhân doanh nghiệp. Ban hành danh mục phân cấp, phân quyền cho Hội đồng thành viên/Hội đồng quản trị doanh nghiệp trong việc quyết định các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh phù hợp với chiến lược đã được phê duyệt. Tách bạch hoàn toàn chức năng quản lý nhà nước của các bộ chuyên ngành với chức năng đại diện chủ sở hữu và các tổ chức kinh doanh vốn chuyên nghiệp.
Thứ hai, tiếp tục cơ cấu lại danh mục doanh nghiệp nhà nước một cách thực chất, xây dựng và ban hành tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhà nước chính xác cho giai đoạn mới. Nhà nước nắm giữ 100% vốn hoặc cổ phần chi phối tại các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực hạ tầng chiến lược quốc gia, an ninh quốc phòng, cung ứng dịch vụ công thiết yếu mà tư nhân không làm. Đối với các lĩnh vực còn lại, thực hiện đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn triệt để. Đối với doanh nghiệp, dự án thua lỗ kéo dài, không có khả năng phục hồi, kiên quyết áp dụng các biện pháp theo cơ chế thị trường như bán, chuyển nhượng, cho phá sản hoặc giải thể để thu hồi tối đa tài sản cho Nhà nước, giải phóng nguồn lực đất đai và lao động, đưa vào các hoạt động kinh tế có hiệu quả cao hơn.
Thứ ba, đổi mới căn bản mô hình quản trị doanh nghiệp phù hợp với thông lệ của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD); áp dụng Bộ nguyên tắc quản trị doanh nghiệp của OECD vào thực tiễn doanh nghiệp nhà nước Việt Nam. Nâng cao vai trò, quyền hạn và trách nhiệm cá nhân của Hội đồng thành viên (HĐTV), đồng thời phân định rõ với Ban điều hành (Tổng Giám đốc). HĐTV tập trung hoạch định chiến lược dài hạn, quản trị rủi ro tổng thể và giám sát việc thực hiện mục tiêu; không can thiệp sâu vào hoạt động tác nghiệp hằng ngày của Tổng Giám đốc. Thiết lập bộ phận kiểm toán nội bộ trực thuộc HĐTV để giám sát tính tuân thủ và phát hiện sớm rủi ro về dòng tiền. Đánh giá định kỳ kết quả hoạt động của doanh nghiệp và ban điều hành dựa trên hệ thống chỉ số KPI được lượng hóa chặt chẽ: hiệu quả tổng thể = f(ROE, ROA, năng suất lao động, tỷ lệ đóng góp ESG).
Thứ tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đổi mới cơ chế tuyển chọn người đại diện vốn, xóa bỏ tư duy bổ nhiệm cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước theo quy trình hành chính thuần túy. Tiến tới áp dụng rộng rãi cơ chế thi tuyển công khai, minh bạch hoặc thuê tổng giám đốc, các nhà quản trị cấp cao theo hợp đồng thị trường. Thiết lập cơ chế tiền lương, thưởng cạnh tranh sòng phẳng với khu vực tư nhân, gắn chặt thu nhập của ban điều hành với kết quả tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận và mức độ bảo toàn vốn nhà nước. Nếu làm thua lỗ, yếu kém do chủ quan thì kiên quyết bãi nhiệm và quy trách nhiệm bồi thường tài sản.
Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong quản trị doanh nghiệp, chuyển đổi số không còn là lựa chọn mà là mệnh lệnh sinh tồn. doanh nghiệp nhà nước cần số hóa 100% các quy trình nghiệp vụ cốt lõi, triển khai hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp tổng thể, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn vào phân tích thị trường và quản trị rủi ro. Việc số hóa toàn diện sẽ giúp loại bỏ triệt để các khâu trung gian, cắt giảm chi phí vận hành, tối ưu hóa quản lý chuỗi cung ứng vật tư, nâng cao tốc độ ra quyết định kinh doanh lên gấp nhiều lần và đặc biệt là hạn chế tối đa các hành vi nhũng nhiễu, thiếu minh bạch trong bộ máy.
Thứ sáu, hoàn thiện cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn theo kết quả đầu ra; đổi mới tư duy giám sát từ “giám sát quy trình” sang “giám sát kết quả đầu ra”. Hiệu quả sử dụng vốn cần được đánh giá trên cơ sở tổng thể, dài hạn của cả danh mục đầu tư, phù hợp với nguyên tắc thị trường: có dự án sinh lời cao, có dự án hiệu quả thấp hoặc tiềm ẩn rủi ro trong giai đoạn đầu, với điều kiện tổng thể danh mục vẫn bảo toàn và phát triển được vốn. Xây dựng và vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia tập trung về doanh nghiệp nhà nước; ứng dụng công nghệ để tự động cảnh báo sớm các chỉ số tài chính có nguy cơ mất an toàn, giúp cơ quan đại diện chủ sở hữu kịp thời can thiệp, xử lý trước khi xảy ra khủng hoảng.
Thứ bảy, đẩy mạnh công khai, minh bạch tối đa và nâng cao trách nhiệm giải trình, buộc tất cả các doanh nghiệp nhà nước (kể cả các doanh nghiệp chưa niêm yết) phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc nghĩa vụ công bố thông tin định kỳ như một công ty đại chúng quy mô lớn trên thị trường chứng khoán. Nội dung công bố phải bao gồm: Báo cáo tài chính năm được kiểm toán bởi các tổ chức kiểm toán độc lập uy tín; báo cáo tình hình quản trị; báo cáo lương, thưởng của ban lãnh đạo; và báo cáo tác động môi trường. Gắn trách nhiệm giải trình cá nhân của người đứng đầu trước Quốc hội, Chính phủ và công luận về mọi quyết định đầu tư lớn trái thẩm quyền hoặc gây lãng phí nguồn lực nhà nước.
Thứ tám, tăng cường đầu tư cho khoa học công nghệ và phát triển bền vững theo ESG, trích lập tỷ lệ hợp lý từ lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp nhà nước để lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ hoạt động thực chất. Khuyến khích các tập đoàn lớn hình thành các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) đẳng cấp quốc tế, hợp tác sâu sắc với các trường đại học hàng đầu để thương mại hóa công nghệ lõi. Đồng thời, doanh nghiệp nhà nước phải là lực lượng đi đầu áp dụng bộ tiêu chuẩn ESG. Các dự án đầu tư mới của doanh nghiệp nhà nước phải vượt qua các yêu cầu về phát thải carbon, tiết kiệm năng lượng tuần hoàn, đóng vai trò hạt nhân giúp Việt Nam hiện thực hóa các cam kết về khí hậu và giảm phát thải.
Thứ chín, nâng cao năng lực hội nhập, đẩy mạnh ngoại giao kinh tế và vươn tầm quốc tế, hiện thực hóa định hướng đột phá của Nghị quyết số 79-NQ/ TW về việc các doanh nghiệp nhà nước lớn phải chủ động vươn ra thị trường thế giới. Tập trung hỗ trợ các tập đoàn có tiềm lực mạnh xây dựng chiến lược đầu tư quốc tế bài bản, thâm nhập các thị trường tiềm năng, thực hiện các thương vụ mua bán, sáp nhập (M&A) xuyên quốc gia để tiếp cận và làm chủ công nghệ nguồn, đồng thời phát triển chuỗi phân phối toàn cầu. Các cơ quan ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài cần phát huy vai trò tiên phong, tích cực cung cấp thông tin chiến lược về thị trường và pháp luật sở tại; hỗ trợ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp nhà nước khi tham gia tranh tụng quốc tế; tạo điều kiện thuận lợi để hình thành các tập đoàn đa quốc gia mạnh của Việt Nam.
Để các giải pháp được triển khai hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quản lý vốn nhà nước, bảo đảm môi trường pháp lý ổn định, minh bạch và thuận lợi cho doanh nghiệp nhà nước. Bộ Tài chính chủ trì rà soát các quy định về tài chính doanh nghiệp, đẩy mạnh chuyển đổi số trong giám sát và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước. Đồng thời, các cơ quan đại diện chủ sở hữu cần chuyên nghiệp hóa phương thức quản lý, nâng cao chất lượng người đại diện phần vốn nhà nước và gắn trách nhiệm với kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nhà nước chủ động đổi mới quản trị, chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực, thúc đẩy nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và xây dựng văn hóa doanh nghiệp minh bạch, liêm chính.
Tài liệu tham khảo:
- Ban Chấp hành Trung ương (2017a). Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017 về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.
- Ban Chấp hành Trung ương (2017b). Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
- Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước.
- Chính phủ (2025a). Nghị định số 365/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 về giám sát, kiểm tra, đánh giá, xếp loại, báo cáo và công khai thông tin trong quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
- Chính phủ (2025b). Nghị định số 366/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
- Chính phủ (2026). Nghị định số 57/2026/NĐ-CP ngày 12/02/2026 về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
- Quốc hội (2014). Luật số 69/2014/QH13 ngày 26/11/2014 về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.
- Quốc hội (2025). Luật số 68/2025/QH15 ngày 14/6/2025 về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
| Bài đã đăng Tạp trí Kinh tế - Tài chính bản in Kỳ 1 tháng 8/2026 |
Tin tức khác
LOTTE FINANCE chuyển đổi thành công ty tài chính tổng hợp và bổ sung hoạt động kinh doanh
Kiểm soát an toàn suất ăn tập thể bằng tấm vé thông hành “tick xanh trách nhiệm”
Doanh nghiệp bất động sản - xây dựng nộp ngân sách lớn nhất, vượt 234.000 tỷ đồng
Mở cơ hội nâng cấp công nghệ cho doanh nghiệp sản xuất
Petrolimex trao tặng “Phòng học thông minh”, thắp sáng hành trình tri thức tại Trường PTCS Nguyễn Đình Chiểu
Vingroup là doanh nghiệp nộp ngân sách lớn nhất Việt nam
PVEP phát động phong trào thi đua đưa hệ thống ERP go-live từ ngày 31/12/2026
PODCAST: Làm sạch mã số thuế năm 2026: Đòn bẩy giúp hơn 3.000 doanh nghiệp tái gia nhập thị trường
VIDEO: Bộ Tài chính tiếp tục thực hiện hiệu quả cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính
PODCAST: Chủ động điều hành giá, giữ ổn định cuối năm
PODCAST: Vốn hóa thị trường chứng khoán tương đương 78,7% GDP
PODCAST: Bộ Tài chính đề xuất siết chi tiền mặt và mở rộng thanh toán qua tài khoản qua Kho bạc
Điện Biên phấn đấu giải ngân 100% vốn đầu tư công trong năm 2026
Du lịch trở thành động lực tăng trưởng mới, hướng tới đóng góp 10-12% GDP vào năm 2030
Đổi cách tạo ra tăng trưởng, mở đường cho Việt Nam bứt phá đến năm 2045
Tạo điều kiện để Việt Nam tham gia các siêu dự án về bán dẫn, AI của Hàn Quốc
Hai tân Phó Tổng Thanh tra Chính phủ nhận nhiệm vụ mới
Việt Nam - Myanmar: Củng cố tin cậy, mở rộng hợp tác trong giai đoạn phát triển mới
Hợp tác nghị viện chặt chẽ, thúc đẩy triển khai tầm nhìn chiến lược về liên kết kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
Hỗ trợ sinh kế, tái định cư cho người dân bị thu hồi đất thực hiện dự án điện hạt nhân
Hôm nay, Hà Nội lấy ý kiến về Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tiến sát 50 tỷ USD, sức chống chịu là then chốt
Thu hút mạnh vốn đầu tư: Cách làm quyết liệt từ Lâm Đồng
Doanh nghiệp Ba Lan tìm kiếm đối tác, mở rộng cơ hội hợp tác tại Việt Nam
Nhà đầu tư châu Âu sẽ đồng hành, hiện thực hóa mục tiêu táo bạo của Nghị quyết 10-NQ/TW
Mở cơ chế, khơi nguồn lực cho doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt tăng trưởng
TP. Hồ Chí Minh hoàn thiện cơ chế ưu đãi cho Khu thương mại tự do và logistics tích hợp
Kích hoạt nguồn lực tư nhân từ “vốn mồi” ngân sách
Xuất khẩu thủy sản Việt Nam: Đa dạng thị trường để giữ đà tăng trưởng
















