Củng cố vai trò kinh tế nhà nước để dẫn dắt tăng trưởng dài hạn
TS.Phạm Sỹ An
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Email: [email protected]
TS.Nguyễn Anh Quang
Học viện Tài chính
GIỚI THIỆU
Kinh tế nhà nước (KTNN) luôn được coi trọng phát triển. Tại khoản 1 Điều 51 Hiến pháp năm 2013 nêu, KTNN giữ vai trò chủ đạo. Và thực tế trong giai đoạn phát triển vừa qua, KTNN đã phát huy nhiều mặt tích cực, góp phần rất lớn vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, phát triển KTNN chưa được như kỳ vọng và chưa tương xứng với nguồn lực đầu tư dành cho khu vực này. Ngày 06/1/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 79/ NQ-TW về phát triển KTNN. Đây là một trong những Nghị quyết quan trọng sẽ định hình sự phát triển nền kinh tế nói chung và KTNN nói riêng trong giai đoạn phát triển mới sắp tới. Nghị quyết số 79/NQ-TW khá toàn diện, bao gồm việc xác định phạm vi của KTNN, quan điểm phát triển, mục tiêu phát triển và các giải pháp thực hiện.
Trong thời gian tới, mục tiêu cho tăng trưởng kinh tế đặt ra là rất cao. Mục tiêu tăng trưởng trên 10% cho thấy quyết tâm rất lớn của Đảng, Nhà nước trong việc thúc đẩy mạnh mẽ nền kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tránh đất nước rơi vào bẫy thu nhập trung bình, tụt hậu trong quá trình phát triển. Vì thế, các bộ phận trong nền kinh tế sẽ cần đồng loạt phát huy sức mạnh của bản thân, cùng với đó là phối hợp hài hòa với các bộ phận khác nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp, đưa nền kinh tế tăng trưởng cao như mục tiêu đề ra.
Bài viết này tập trung phân tích đánh giá vai trò của KTNN trong việc dẫn dắt tăng trưởng kinh tế dài hạn và đề xuất các giải pháp quan trọng để củng cố vai trò của KTNN.
VAI TRÒ KTNN TRONG DẪN DẮT TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ DÀI HẠN
Nghị quyết số 79/NQ-TW về phát triển KTNN, với mục tiêu tổng quát là nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong, định hướng chiến lược của KTNN trong những ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược; dẫn dắt, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển; góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia; thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống người dân; góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Như vậy, với mục tiêu đề ra thì KTNN đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn như “phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong, định hướng… trong những ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược; dẫn dắt, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển; góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững…”. Dưới đây sẽ đánh giá từng nội dung trong vai trò của KTNN để tìm hiểu nguyên nhân, từ đó đề ra các giải pháp thực hiện.

Thứ nhất, khu vực KTNN đã dần nâng cao hiệu quả mặc dù có nhiều hạn chế.
KTNN đã đóng vai trò quan trọng cho nền kinh tế trong giai đoạn đầu đổi mới, khi các khu vực kinh tế khác còn non trẻ. Với nòng cốt là các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), khu vực này đã đảm nhận trọng trách cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công thiết yếu như điện, nước, xăng dầu và xây dựng hệ thống hạ tầng xương sống quốc gia. KTNN hiện vẫn giữ vai trò trụ cột trong việc đảm bảo các cân đối lớn, ổn định kinh tế vĩ mô và là công cụ hữu hiệu để Nhà nước điều tiết nền kinh tế trước các biến động thị trường. Nhiều tập đoàn lớn như: Viettel, EVN, PVN đã khẳng định được năng lực dẫn dắt trong các ngành trọng yếu, tích cực ứng dụng khoa học công nghệ và tiên phong trong chuyển đổi số. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của khu vực này nhìn chung vẫn còn thấp và chưa tương xứng với nguồn lực được giao phó. Tỷ trọng đóng góp của KTNN vào GDP có xu hướng giảm mạnh, từ hơn 40% những năm đầu Đổi mới xuống còn khoảng 20% hiện tại (Phương Đông, 2026). Hiệu quả sử dụng vốn (chỉ số ROA, ROE) và năng suất lao động của khối DNNN thường thấp hơn so với khu vực tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Hệ số ICOR của DNNN cao hơn so với khu vực tư nhân, phản ánh khả năng tạo giá trị gia tăng trên vốn còn hạn chế. Quá trình tái cơ cấu, cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước diễn ra chậm chạp, gặp nhiều vướng mắc về định giá tài sản và xác định giá trị quyền sử dụng đất. Tư duy quản lý ở nhiều nơi vẫn mang nặng tính bao cấp, bộ máy cồng kềnh và thiếu tính tự chủ. Đặc biệt, tình trạng đầu tư dàn trải cùng hiện tượng lãng phí, tham nhũng tại một số tập đoàn đã gây thất thoát lớn tài sản công.
Trong bối cảnh mới, KTNN đang đứng trước yêu cầu phải chuyển mình mạnh mẽ từ mô hình phát triển “nâu” dựa vào tài nguyên sang mô hình “xanh” bền vững. KTNN phải trở thành lực lượng dẫn dắt đổi mới sáng tạo và đầu tư vào các lĩnh vực rủi ro cao mà kinh tế tư nhân chưa đủ điều kiện tham gia (Nguyễn Trọng Hoài và Huỳnh Thanh Điền (2011), Nguyễn Quang Thuấn (2014), Viện Quản lý kinh tế Trung ương (2016), Nguyễn Đức Thọ (2025).
Thứ hai, KTNN đã khẳng định được vị thế trụ cột trong các ngành, lĩnh vực then chốt và chiến lược, dù vẫn còn những khoảng cách nhất định so với kỳ vọng về năng lực dẫn dắt và định hướng hiện đại hóa. KTNN hiện đóng vai trò nòng cốt trong việc đảm bảo các cân đối lớn và an ninh quốc gia thông qua việc chi phối các lĩnh vực huyết mạch.
KTNN là lực lượng vật chất quan trọng gánh vác các hạ tầng kinh tế - xã hội xương sống ngay từ đầu thời kỳ Đổi mới. Hiện nay, các DNNN vẫn giữ vị trí trọng yếu trong việc xây dựng và vận hành hạ tầng điện lực, viễn thông, và giao thông chiến lược (Nguyễn Đức Thọ, 2025). Ví dụ tiêu biểu là các tập đoàn như: EVN, Viettel, VNPT hay PVN đã đảm bảo an ninh năng lượng, thông tin và tạo nền tảng cho công nghiệp hóa. KTNN sản xuất tỷ trọng lớn lượng than sạch và công suất điện toàn quốc, cho thấy sự chi phối tuyệt đối trong các ngành cung ứng đầu vào chiến lược. Đồng thời, KTNN cũng đã đi đầu trong việc khai phá các lĩnh vực mới hoặc đòi hỏi vốn đầu tư khổng lồ mà khu vực tư nhân chưa đủ khả năng tham gia. Các dự án đường cao tốc, cảng hàng không quốc tế và hạ tầng số đã tạo ra “hệ sinh thái” để các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. Đặc biệt, trong chuyển đổi số, các tập đoàn như Viettel và MobiFone đã đi đầu trong việc xây dựng hạ tầng cho chính phủ số và kinh tế số.
Tuy nhiên, việc phát huy vai trò định hướng vẫn còn những hạn chế đáng kể. KTNN chưa thực sự mạnh mẽ trong việc dẫn dắt nền kinh tế chuyển dịch từ mô hình khai thác tài nguyên thô (“nâu”) sang mô hình bền vững (“xanh”). Một số tập đoàn lớn vẫn phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên như than và dầu khí. Hiệu quả ứng dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để thay đổi đột phá phương thức sản xuất ngoài khối công nghệ vẫn chưa rõ nét. Thêm vào đó, năng lực định hướng thị trường đôi khi bị hạn chế bởi sự lồng ghép quá nhiều nhiệm vụ chính trị - xã hội, làm giảm sức cạnh tranh tự thân của DNNN trong môi trường hội nhập.
Thứ ba, về vai trò dẫn dắt các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, KTNN đã thực hiện sứ mệnh lịch sử khi xây dựng hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội xương sống ngay từ giai đoạn đầu Đổi mới.
Các DNNN đã “đi trước một bước” để đầu tư vào những dự án khổng lồ, rủi ro cao và thời gian thu hồi vốn dài như năng lượng, viễn thông và giao thông vận tải - những lĩnh vực mà khu vực tư nhân thời điểm đó chưa đủ năng lực gánh vác. Chính những nền tảng vật chất này đã tạo ra “sân chơi” và môi trường tối thiểu để các thành phần kinh tế khác hình thành và tham gia phát triển (Nguyễn Văn Thắng, 2025). Hiện nay, KTNN tiếp tục dẫn dắt trong các xu hướng mới như chuyển đổi số, xây dựng hạ tầng 4G, 5G và trung tâm dữ liệu, tạo ra “hệ sinh thái” kinh doanh để thu hút doanh nghiệp tư nhân vào các ngành công nghiệp hỗ trợ. Bên cạnh đó, KTNN cung ứng các sản phẩm, dịch vụ đầu vào thiết yếu với mức giá ổn định như điện, xăng dầu và than, giúp các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác duy trì năng lực cạnh tranh. Thông qua quá trình cổ phần hóa, KTNN mở cơ hội cho các nhà đầu tư tư nhân và nước ngoài tham gia vào chuỗi cung ứng, học hỏi kinh nghiệm quản trị và công nghệ. Mối quan hệ giữa hai khu vực này đang dần chuyển dịch từ cạnh tranh sang hợp tác, nơi các DNNN lớn đóng vai trò hạt nhân kéo theo hàng trăm doanh nghiệp vệ tinh cùng phát triển.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, KTNN vẫn chưa phát huy hết tiềm năng hỗ trợ do một số vấn đề tồn tại. Trong một thời gian dài, đầu tư công của KTNN có dấu hiệu lấn át đầu tư tư nhân (Tô Trung Thành, 2012) và trong một nghiên cứu cho vùng Bắc Trung Bộ giai đoạn gần đây 2010-2023 cho thấy, cho dù đầu tư công không lấn át đầu tư tư nhân trong ngắn hạn nhưng về dài hạn lại lấn át (Trần Thị Hồng Lam, 2024), DNNN tập trung vào những lĩnh vực mà khu vực tư nhân có thể làm tốt thay vì tập trung vào các lĩnh vực “mồi” mang tính dẫn dắt, định hướng. Một số DNNN vẫn được hưởng lợi thế về tiếp cận vốn ưu đãi và đất đai, vô tình tạo ra một “sân chơi không phẳng” và chèn ép sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
KTNN đã thực hiện tốt vai trò tạo nền móng dẫn dắt, nhưng để thực sự trở thành động lực hỗ trợ mạnh mẽ, khu vực này cần tiếp tục thu hẹp phạm vi hoạt động, rút dần khỏi các lĩnh vực cạnh tranh để tập trung vào vai trò dẫn dắt bằng đổi mới sáng tạo và công nghệ cao, tạo điều kiện tối đa cho các thành phần kinh tế khác vươn mình.
GIẢI PHÁP CỦNG CỐ VAI TRÒ KTNN ĐỂ DẪN DẮT TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ DÀI HẠN
Để củng cố vai trò của KTNN nhằm dẫn dắt tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong dài hạn, từ các phân tích trên, cần triển khai đồng bộ và quyết liệt các nhóm giải pháp mang tính chiến lược và hệ thống như sau:
Thứ nhất, cần hoàn thiện thể chế và khung khổ pháp lý để tạo môi trường hoạt động minh bạch, hiện đại cho KTNN, đặc biệt là cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo từ các nghị quyết mới nhất của Đảng như Nghị quyết số 79/NQ-TW. Việc hoàn thiện thể chế phải tập trung vào việc tách bạch rõ ràng giữa chức năng quản lý nhà nước và chức năng quản trị kinh doanh của DNNN, đồng thời xác định cụ thể danh mục các ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu và chiến lược mà Nhà nước cần nắm giữ để tránh đầu tư dàn trải, chồng chéo với khu vực tư nhân.
Thứ hai, tập trung nâng cao hiệu quả quản trị và sử dụng tài sản công, đặc biệt là nguồn lực đất đai và vốn nhà nước. Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước cần áp dụng các chuẩn mực quản trị quốc tế hiện đại, tăng cường tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Việc xử lý dứt điểm các dự án thua lỗ, kém hiệu quả và các doanh nghiệp có lỗ lũy kế kéo dài là điều kiện tiên quyết để khơi thông nguồn lực, bảo đảm mỗi đồng vốn nhà nước bỏ ra đều phải tạo được giá trị gia tăng tối ưu và đóng góp thực chất vào GDP quốc gia.
Thứ ba, đẩy mạnh vai trò tiên phong của KTNN trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia và ứng dụng thành tựu của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Các tập đoàn viễn thông lớn như: MobiFone, Viettel, VNPT cần tiếp tục giữ vững vị thế dẫn dắt trong việc xây dựng hạ tầng số, làm nền tảng cho sự phát triển của kinh tế số và xã hội số. KTNN phải là lực lượng đi đầu trong việc đầu tư vào các công nghệ lõi, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các nền tảng dùng chung để hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng nâng cao năng lực công nghệ.
Thứ tư, thực hiện quyết liệt chuyển đổi xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu để đảm bảo tăng trưởng bền vững. KTNN phải đóng vai trò chủ đạo trong việc chuyển dịch cơ cấu năng lượng, giảm dần điện than và tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo thông qua các tập đoàn trụ cột như EVN hay PVN. Việc tiên phong trong các mô hình kinh tế tuần hoàn và sản xuất sạch không chỉ giúp hiện thực hóa cam kết Net Zero vào năm 2050 mà còn tạo ra các tiêu chuẩn xanh dẫn dắt thị trường, giúp hàng hóa Việt Nam vượt qua các rào cản kỹ thuật khi hội nhập quốc tế.
Thứ năm, tăng cường cơ chế liên kết và hỗ trợ giữa KTNN với các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là kinh tế tư nhân. KTNN không nên lấn át mà phải đóng vai trò lôi kéo đầu tư, tạo ra các hệ sinh thái sản xuất và chuỗi giá trị mà ở đó doanh nghiệp nhà nước là hạt nhân, kéo theo sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước. Sự phối hợp này sẽ hình thành sức mạnh tổng hợp, giúp nền kinh tế độc lập, tự chủ và đủ sức chống chịu trước các cú sốc từ thị trường toàn cầu.
Thứ năm, chú trọng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý cấp chiến lược trong khu vực KTNN. Cần có cơ chế thu hút nhân tài, đãi ngộ thỏa đáng và bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung.
KẾT LUẬN
Việc củng cố vai trò của KTNN là điều kiện tiên quyết để Việt Nam hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đầy tham vọng trong giai đoạn tới. KTNN với nòng cốt là các tập đoàn, tổng công ty lớn, đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng để chuyển mình từ vị thế nắm giữ nguồn lực sang vị thế dẫn dắt và tạo động lực lan tỏa cho toàn bộ nền kinh tế. Mục tiêu tăng trưởng 2 con số là một thách thức lớn, đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng và cộng hưởng sức mạnh giữa KTNN với các thành phần kinh tế khác, trong đó KTNN phải giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt ở các lĩnh vực mang tính chiến lược, thiết yếu.
Để thực sự đóng vai trò chủ đạo, các doanh nghiệp nhà nước không thể mãi dựa vào lợi thế khai thác tài nguyên hay vị thế độc quyền tự nhiên, mà phải chuyển dịch mạnh mẽ sang đầu tư vào công nghệ lõi và đổi mới sáng tạo. Chỉ khi làm chủ được công nghệ và quy trình sản xuất hiện đại, KTNN mới có đủ năng lực để tạo ra sức bật cho quá trình chuyển đổi số và chuyển đổi xanh của quốc gia.
Mối quan hệ giữa KTNN và kinh tế tư nhân cần được nhìn nhận dưới lăng kính tương sinh và hỗ trợ thay vì cạnh tranh loại trừ. Thông qua việc tạo ra các đầu vào chiến lược với giá cả hợp lý và xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, chất lượng cao, KTNN sẽ trực tiếp cắt giảm chi phí trung gian và nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế nói chung và doanh nghiệp tư nhân nói riêng. Một nền tảng hạ tầng logistics vững chắc hay một hệ thống năng lượng ổn định chính là bệ phóng để các thành phần kinh tế khác vươn ra thị trường quốc tế. Ngược lại, những dự án đầu tư công kém hiệu quả hay hạ tầng yếu kém sẽ trở thành rào cản, kìm hãm sự phát triển chung. Do đó, việc nâng cao chất lượng đầu tư và hiệu quả quản trị tài sản công là nhiệm vụ cấp bách để bảo đảm mỗi đồng vốn nhà nước bỏ ra đều tạo được giá trị gia tăng tối ưu.
Tóm lại, hành trình đưa Việt Nam trở thành nước phát triển vào năm 2045 đặt lên vai khu vực KTNN một trọng trách nặng nề nhưng cũng đầy tự hào. Việc triển khai quyết liệt và đồng bộ các giải pháp từ thể chế, vốn cho đến nguồn nhân lực theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển KTNN, sẽ tạo ra một môi trường kinh tế năng động và bền vững. Khi KTNN thực hiện tốt vai trò định hướng và dẫn dắt, nó sẽ tạo ra niềm tin và không gian phát triển rộng lớn cho khu vực tư nhân, từ đó hình thành một sức mạnh tổng hợp để đưa đất nước vượt qua bẫy thu nhập trung bình và tiến tới thịnh vượng.
Tài liệu tham khảo:
- Nguyễn Văn Thắng (2025). Giải pháp thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước phát huy vai trò mở đường, dẫn dắt trong phát triển kinh tế - xã hội, Tạp chí Cộng sản.
- Nguyễn Đức Thọ (2025). Nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh mới, Tạp chí Cộng sản.
- Nguyễn Trọng Hoài, Huỳnh Thanh Điền (2011). Tái cấu trúc khu vực KTNN tiếp cận nâng cao khả năng điều tiết vĩ mô và tác động hỗ trợ, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 252, tr. 22-30.
- Nguyễn Quang Thuấn (2014). Cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam sau gần 30 năm Đổi mới: Thực trạng và giải pháp, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Phương Đông (2026). KTNN sau 40 năm Đổi mới, https://vnexpress.net/kinh-te-nha-nuoc-sau-40-nam-doi-moi-5005341.html
- Trần Thị Hồng Lam (2024). Tác động của đầu tư công, đầu tư tư nhân tới tăng trưởng kinh tế vùng Bắc Trung Bộ, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 329 tháng 11/2024.
- Tô Trung Thành (2012). Đầu tư công “lấn át” đầu tư tư nhân? Góc nhìn từ mô hình thực nghiệm VECM, Bài nghiên cứu NC-27, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương - CIEM (2016). Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước: Thực trạng và giải pháp, Báo cáo nghiên cứu.
| Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in Kỳ 1 - Tháng 4/2026 |
Tin tức khác
Top 10 Công ty uy tín ngành Bán lẻ năm 2026 và góc nhìn về xu hướng tăng trưởng thị trường
Khơi thông nguồn lực để nâng cao năng suất và hiệu quả tăng trưởng
Công nghiệp hàng hải mở rộng dư địa tăng trưởng, gia tăng giá trị kinh tế biển
Quan hệ đối tác Chiến lược Việt Nam – Canada: Từ nền tảng thương mại đến dư địa mới cho doanh nghiệp
Việt Nam nổi lên như điểm sáng tăng trưởng của Đông Nam Á
Ngành phân bón nâng giá trị, tăng tự chủ, mở rộng hội nhập
Nâng cao hiệu quả quản lý khu kinh tế và khu công nghiệp
PODCAST: Việt Nam: Thông điệp của hòa bình, trách nhiệm và khát vọng phát triển
PODCAST: Trợ lý ảo Chatbot đồng hành cùng hộ kinh doanh trên eTax Mobile
VIDEO: Dấu mốc mới với thị trường chứng khoán Việt Nam
PODCAST: Bộ Tài chính gắn hoàn thiện thể chế, điều hành tài khóa với mục tiêu tăng trưởng
VIDEO: Tham gia vào chỉ số thị trường mới nổi của FTSE GEIS - Dấu mốc lịch sử với thị trường tài chính Việt Nam
Giá điện theo giờ sẽ áp dụng theo lộ trình, hạn chế ảnh hưởng đến người dân
"Làm luật để tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, mở đường cho phát triển"
Đổi mới tư duy phát triển hạ tầng, tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn
Những xu hướng đáng chú ý trong tăng trưởng kinh tế thế giới và tác động đến thu hút FDI
Bảo đảm khung pháp lý đồng bộ khi Luật Dầu khí có hiệu lực
Khẩn trương triển khai Luật sửa đổi các luật về ngân hàng, phòng chống rửa tiền
Phát biểu chính sách của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Nghị viện Canada
Báo chí cách mạng Việt Nam - Cơ hội trong không gian phát triển mới
Bộ Tài chính góp sức khơi thông nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng
Nông, lâm, thủy sản chuyển từ tăng kim ngạch sang nâng giá trị gia tăng
Top 10 Công ty uy tín ngành Bán lẻ năm 2026 và góc nhìn về xu hướng tăng trưởng thị trường
Khơi thông nguồn lực để nâng cao năng suất và hiệu quả tăng trưởng
Công nghiệp hàng hải mở rộng dư địa tăng trưởng, gia tăng giá trị kinh tế biển
Quan hệ đối tác Chiến lược Việt Nam – Canada: Từ nền tảng thương mại đến dư địa mới cho doanh nghiệp
Việt Nam nổi lên như điểm sáng tăng trưởng của Đông Nam Á
Ngành phân bón nâng giá trị, tăng tự chủ, mở rộng hội nhập
Nâng cao hiệu quả quản lý khu kinh tế và khu công nghiệp








