Bài 2: Nâng hạng thị trường chứng khoán: Mở thêm cánh cửa vốn cho nền kinh tế
![]() |
| Nâng hạng mở ra thêm cơ hội kết nối dòng vốn quốc tế. |
Vị thế mới mở rộng không gian vốn
Một nền kinh tế hướng tới tăng trưởng nhanh và bền vững cần một lượng vốn trung và dài hạn ngày càng lớn cho đầu tư hạ tầng, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Tín dụng ngân hàng tiếp tục giữ vai trò quan trọng, nhưng một cấu trúc tài chính lành mạnh cần nhiều kênh dẫn vốn cùng tham gia. Thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ tài chính khác, khi được phát triển đồng bộ, sẽ tạo thêm lựa chọn cho doanh nghiệp và góp phần đưa nguồn lực xã hội đến những khu vực có nhu cầu đầu tư và khả năng tạo giá trị.
Trong bài toán ấy, việc FTSE Russell đưa Việt Nam từ nhóm thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp mở rộng không gian kết nối của thị trường vốn Việt Nam với các nhà đầu tư quốc tế. Chứng khoán Việt Nam có thêm điều kiện hiện diện trong phạm vi phân bổ tài sản của các quỹ đầu tư toàn cầu. Các quỹ thụ động như ETF có thêm cơ sở để xem xét phân bổ vốn, trong khi các quỹ chủ động có thêm động lực tìm kiếm cơ hội tại một thị trường đã cải thiện đáng kể về khả năng tiếp cận.
Ý nghĩa của sự thay đổi này vì thế không nằm đơn thuần ở một vị trí mới trên bảng phân loại; điều đáng kể hơn là thị trường Việt Nam có thêm cơ hội kết nối với hệ thống phân bổ vốn của những định chế tài chính có quy trình đầu tư và tiêu chuẩn đánh giá mang tính toàn cầu.
Quy mô nguồn vốn đầu tư của nền kinh tế trong giai đoạn tới càng cho thấy ý nghĩa của việc mở rộng không gian huy động vốn. Theo ông Bùi Hoàng Hải, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), giai đoạn 2026 - 2030, nhu cầu vốn đầu tư của nền kinh tế có thể lên tới khoảng 38 triệu tỷ đồng, trong khi nguồn lực từ ngân sách nhà nước dự kiến khoảng 8,5 triệu tỷ đồng. Phần còn lại cần được huy động từ khu vực tư nhân và các nguồn vốn quốc tế. Trong bối cảnh đó, thị trường chứng khoán được kỳ vọng phát huy mạnh hơn vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, sẽ là chưa đầy đủ nếu đo ý nghĩa của nâng hạng bằng một con số vốn ngoại dự kiến chảy vào thị trường. Dòng vốn quốc tế không tự động tìm đến mọi thị trường chỉ vì một quyết định phân loại. Quy mô vốn thực tế còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế vĩ mô toàn cầu, tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng, chất lượng hàng hóa trên thị trường và sức hấp dẫn nội tại của từng doanh nghiệp. Nguồn vốn chỉ thực sự tạo ra giá trị khi gặp được những tài sản có khả năng tạo lợi suất tương xứng và môi trường đủ thuận lợi để vận hành.
Bởi vậy, giá trị sâu hơn của ngày 21/9 nằm ở việc Việt Nam bước vào một phạm vi kết nối rộng hơn với hệ thống phân bổ vốn quốc tế. Theo ông Lê Xuân Hải, Tổng Giám đốc Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam (VNX), nâng hạng tạo thêm điều kiện để thị trường vốn phát huy tốt hơn vai trò là kênh huy động vốn trung và dài hạn. Khi thanh khoản và độ sâu thị trường được cải thiện, doanh nghiệp có thêm điều kiện tiếp cận nguồn vốn trong nước và quốc tế với chi phí hợp lý hơn, phục vụ đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh cũng như tiến trình cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước.
Ở quy mô nền kinh tế, một thị trường vốn phát triển hơn còn góp phần tạo sự cân bằng trong cấu trúc tài chính, giảm áp lực cung ứng vốn trung và dài hạn lên hệ thống ngân hàng thương mại. Khi thị trường chứng khoán thực hiện tốt hơn chức năng dẫn vốn, nguồn lực xã hội có thêm một con đường để đi từ nơi tích lũy đến nơi có nhu cầu đầu tư và khả năng tạo ra giá trị.
PGS.TS. Lê Vũ Nam, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh cho rằng, một thị trường vốn phát triển không nên được đo trước hết bằng tên gọi hay thứ hạng, mà bằng năng lực huy động, khả năng hấp thụ và phân bổ hiệu quả nguồn lực cho nền kinh tế. Nhìn từ góc độ đó, việc Việt Nam bước vào nhóm thị trường mới nổi thứ cấp vừa là sự ghi nhận quá trình cải cách nhiều năm, vừa mở ra yêu cầu phát triển thị trường vốn ở một cấp độ cao hơn.
Đây cũng là điểm chuyển trong cách nhìn về nâng hạng: Vị thế mới chỉ thực sự có ý nghĩa khi mở rộng được không gian vốn và giúp thị trường thực hiện tốt hơn chức năng dẫn vốn cho nền kinh tế.
Doanh nghiệp và nhà đầu tư cùng bước vào không gian mới
Đối với doanh nghiệp, tác động trực tiếp nhất của một thị trường được nâng hạng là có thêm lựa chọn trong bài toán huy động vốn. Khi cơ sở nhà đầu tư được mở rộng, khả năng tiếp cận nguồn vốn trong nước và quốc tế cũng được cải thiện, tạo thêm điều kiện để doanh nghiệp thực hiện các kế hoạch đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Nhưng không gian vốn rộng hơn cũng đặt ra chuẩn mực cao hơn với chính những doanh nghiệp muốn tiếp cận không gian ấy. Nhà đầu tư quốc tế không chỉ quan tâm doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nào hay tăng trưởng ra sao, mà còn đánh giá chất lượng quản trị, tính minh bạch và kịp thời của thông tin, quyền lợi cổ đông, hiệu quả sử dụng vốn và khả năng tạo giá trị trong dài hạn.
| Giá trị của nâng hạng không nằm ở lượng vốn đi qua thị trường, mà ở năng lực biến dòng vốn thành đầu tư, năng lực sản xuất và giá trị mới cho nền kinh tế. |
Vì thế, nâng hạng không đơn thuần đưa thêm vốn đến doanh nghiệp; nó đưa doanh nghiệp đến gần hơn với những chuẩn mực của thị trường vốn quốc tế.
Với doanh nghiệp niêm yết, yêu cầu ấy thể hiện từ vai trò của Hội đồng quản trị trong hoạch định chiến lược, quản trị nguồn lực và giám sát hoạt động đến cách thức công bố thông tin và xây dựng quan hệ với nhà đầu tư. Thông tin không thể chỉ dừng ở việc đáp ứng nghĩa vụ công bố mà phải trở thành nền tảng xây dựng niềm tin. Việc cung cấp thông tin đầy đủ, nhất quán bằng tiếng Việt và tiếng Anh, từng bước tiếp cận các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế, nâng cao chất lượng quan hệ nhà đầu tư và bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích của cổ đông, nhất là cổ đông thiểu số, sẽ quyết định khả năng doanh nghiệp kết nối với những dòng vốn chuyên nghiệp.
Theo ông Phan Lê Thành Long, Tổng Giám đốc Viện Thành viên Hội đồng quản trị Việt Nam (VIOD), vị thế mới mở ra khả năng tiếp cận rộng hơn các dòng vốn quốc tế dài hạn. Bên cạnh các quỹ toàn cầu và ETF, thị trường có thể có sự tham gia sâu hơn của những nhà đầu tư chủ động như quỹ hưu trí, doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ đầu tư quốc gia và các định chế tài chính lớn. Đây là nhóm nhà đầu tư thường có tầm nhìn dài hạn, qua đó có thể góp phần tạo thêm chiều sâu và tính ổn định cho thị trường.
Mối quan hệ giữa vị thế thị trường và chất lượng doanh nghiệp cũng là quan hệ hai chiều. Thị trường có vị thế cao hơn giúp doanh nghiệp tiếp cận một không gian vốn rộng hơn; ngược lại, chất lượng doanh nghiệp quyết định thị trường có đủ sức hấp dẫn để thu hút và giữ được dòng vốn dài hạn hay không. Nhà đầu tư quốc tế sẽ nhìn vào kết quả kinh doanh, nhưng đồng thời đánh giá chất lượng quản trị, tính kịp thời của thông tin và mức độ bảo đảm quyền lợi cổ đông. Nâng hạng vì thế mở ra cơ hội, còn khả năng biến cơ hội thành nguồn lực phát triển phụ thuộc vào năng lực quản trị, hiệu quả sử dụng vốn và khả năng tạo giá trị của doanh nghiệp.
Từ doanh nghiệp, câu chuyện lại trở về với chất lượng của toàn bộ thị trường. PGS.TS. Lê Vũ Nam cho rằng, quyết định đầu tư dài hạn không chỉ phụ thuộc vào quy mô hay tính thanh khoản, mà còn phụ thuộc lớn vào chất lượng thể chế và năng lực điều hành trong lĩnh vực tài chính. Nhà đầu tư quan tâm đến tính ổn định của chính sách, khả năng dự báo của pháp luật, hiệu quả thực thi các quy định về công bố thông tin, quản trị công ty, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.
Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng khi thị trường muốn thu hút những dòng vốn có tầm nhìn dài hạn. Một thị trường có thể tạo sức hút trong ngắn hạn bằng những cơ hội sinh lời, nhưng để nhà đầu tư sẵn sàng cam kết lâu dài, nền tảng quyết định là niềm tin vào chất lượng thể chế và khả năng vận hành ổn định, minh bạch của thị trường. Ở chiều ngược lại, nhà đầu tư cũng bước vào một không gian lựa chọn rộng hơn. Sự hiện diện của các quỹ đầu tư chủ động, quỹ thụ động và ETF có thể góp phần mở rộng cơ sở nhà đầu tư, cải thiện thanh khoản và độ sâu của thị trường. Với nhà đầu tư trong nước, thị trường phát triển hơn cũng mở ra cơ hội tiếp cận đa dạng hơn với doanh nghiệp, sản phẩm tài chính và các dòng vốn tham gia thị trường.
Song, lợi ích đối với nhà đầu tư không nên được hiểu đơn giản là khả năng gia tăng lợi nhuận. Điều đáng kể hơn là môi trường đầu tư được cải thiện theo hướng minh bạch, thuận lợi và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế, giúp nhà đầu tư có thêm thông tin và điều kiện để đánh giá, lựa chọn cơ hội.
Từ đó hình thành mối liên kết hai chiều: doanh nghiệp có thêm lựa chọn để huy động vốn, nhà đầu tư có thêm cơ hội để phân bổ vốn. Khi hai phía gặp nhau trên một thị trường có chất lượng cao hơn, giá trị của nâng hạng bắt đầu vượt ra ngoài câu chuyện dòng vốn vào thị trường, hướng tới hiệu quả phân bổ nguồn lực của cả nền kinh tế.
Khi dòng vốn đi vào nền kinh tế thực
Đến đây, câu hỏi quan trọng nhất không còn là thị trường chứng khoán Việt Nam có thể nhận được bao nhiêu vốn sau ngày 21/9/2026. Câu hỏi lớn hơn là: nguồn vốn ấy có đi được đến nền kinh tế thực hay không?
Vốn tự thân chưa tạo ra tăng trưởng. Giá trị kinh tế chỉ xuất hiện khi nguồn vốn được chuyển hóa thành hạ tầng, nhà máy, công nghệ, sản phẩm mới, năng lực sản xuất và những mô hình kinh doanh có khả năng tạo giá trị trong dài hạn. Điều đó đặt ra yêu cầu về chất lượng phân bổ vốn: nguồn lực phải tìm được những doanh nghiệp có năng lực, những dự án có hiệu quả và những lĩnh vực có khả năng tạo động lực phát triển.
Giá trị sâu hơn của nâng hạng nằm ở đây. Khi thị trường vốn có thêm khả năng kết nối với các nguồn vốn quốc tế, lợi ích cuối cùng không nằm ở quy mô dòng tiền đi qua thị trường, mà ở khả năng chuyển dòng tiền ấy thành đầu tư và năng lực sản xuất của nền kinh tế.
Một doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn với chi phí hợp lý hơn có thể đẩy nhanh kế hoạch mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ hoặc phát triển sản phẩm mới. Một doanh nghiệp có quản trị tốt hơn sẽ có điều kiện sử dụng vốn hiệu quả hơn. Một nhà đầu tư tổ chức có tầm nhìn dài hạn có thể cung cấp nguồn vốn kiên nhẫn hơn cho những kế hoạch phát triển dài hơi. Khi ngày càng nhiều nguồn vốn được phân bổ thông qua thị trường, cấu trúc tài chính của nền kinh tế cũng có thêm khả năng cân bằng giữa các kênh huy động.
Theo logic ấy, chất lượng của thị trường chứng khoán, xét đến cùng, được phản ánh ở chất lượng tăng trưởng mà thị trường góp phần tạo ra. Muốn đạt được điều đó, thị trường cần tiếp tục nâng chất lượng ở cả phía cung và phía cầu. Phía cung là hàng hóa trên thị trường: doanh nghiệp niêm yết, chất lượng quản trị, tính minh bạch, hiệu quả sử dụng vốn và khả năng tạo giá trị. Phía cầu là cơ sở nhà đầu tư, đặc biệt là sự phát triển của các định chế đầu tư chuyên nghiệp và nguồn vốn dài hạn. Ở giữa hai phía là hệ thống trung gian, hạ tầng giao dịch - thanh toán và khuôn khổ pháp lý đủ minh bạch, ổn định, có khả năng dự báo.
![]() |
| Điều quan trọng của nâng hạng thị trường là hình thành năng lực hấp thụ vốn. |
Những yêu cầu đó cho thấy nâng hạng không phải điểm kết thúc của cải cách. Vị thế mới tạo ra một mặt bằng kỳ vọng mới đối với thị trường vốn Việt Nam. Những tiêu chuẩn cao hơn về tiếp cận thị trường, công bố thông tin, quản trị doanh nghiệp, bảo vệ nhà đầu tư, sản phẩm đầu tư và năng lực vận hành sẽ tiếp tục thúc đẩy thị trường nâng chất lượng.
Ở tầm nhìn xa hơn, mục tiêu hướng tới các chuẩn mực cao hơn, trong đó có MSCI, cũng cần được nhìn như một chương trình nâng chất lượng thị trường chứ không chỉ là một nấc thang phân hạng. Như PGS.TS. Lê Vũ Nam phân tích, hệ chuẩn quốc tế có thể trở thành cơ sở để Việt Nam tiếp tục soi chiếu, đánh giá và hoàn thiện chất lượng phát triển của thị trường vốn. Điều đó đòi hỏi tiếp tục nâng chất lượng thể chế, hàng hóa, quản trị doanh nghiệp, hiệu quả thực thi pháp luật và năng lực của các định chế trung gian.
Nâng hạng không nên được hiểu đơn thuần là thu hút thêm vốn ngoại. Điều quan trọng hơn là hình thành năng lực hấp thụ vốn. Một nền kinh tế có nhu cầu vốn lớn phải đồng thời có những doanh nghiệp đủ chất lượng để nhận vốn, những dự án đủ sức thuyết phục nhà đầu tư, hệ thống trung gian đủ năng lực kết nối và khuôn khổ thể chế đủ ổn định để dòng vốn vận hành minh bạch, hiệu quả.
Câu chuyện nâng hạng vì thế không dừng lại ở thị trường chứng khoán. Nếu nguồn vốn được huy động và phân bổ hiệu quả hơn, tác động cuối cùng sẽ lan sang khu vực doanh nghiệp và nền kinh tế: thêm nguồn lực cho đầu tư, thêm khả năng mở rộng sản xuất, thêm động lực đổi mới công nghệ và thêm dư địa cho những mô hình kinh doanh mới.
Sau ngày 21/9, điều đáng chờ đợi không phải chỉ là một lượng vốn mới trên thị trường, mà là một năng lực dẫn vốn mới. Khi doanh nghiệp có thêm lựa chọn huy động, nhà đầu tư có thêm lựa chọn phân bổ, còn thị trường có đủ chất lượng để kết nối hai phía, nguồn vốn mới có cơ hội đi xa hơn khỏi những con số giao dịch để trở thành năng lực sản xuất và giá trị mới của nền kinh tế.
Nâng hạng, xét đến cùng, không phải đích đến tự thân. Đó là kết quả của một quá trình cải cách và cũng là điểm mở đầu cho một vòng nâng chuẩn mới. Giá trị của dấu mốc này sẽ được quyết định ở khả năng biến vị thế thành chất lượng, biến chất lượng thành năng lực huy động và phân bổ vốn, để nguồn vốn thực sự trở thành đầu tư, năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ và động lực tăng trưởng mới của đất nước.
Tin tức khác
VN-Index kiểm định vùng 1.850 điểm
Công ty fintech muốn thử nghiệm chứng khoán phải có vốn tối thiểu 100 tỷ đồng
Sáu doanh nghiệp sẽ trả cổ tức bằng tiền, cổ phiếu và cổ phiếu thưởng
Bài 1: Từ những viên gạch đầu tiên đến ngưỡng cửa nâng hạng
Thị trường chứng khoán Việt Nam trước ngưỡng cửa phát triển mới
VIMC muốn giữ lại 840 tỷ đồng lợi nhuận để tăng vốn
Đề xuất cho AI đặt lệnh chứng khoán
PODCAST: Bộ Tài chính đề xuất siết chi tiền mặt và mở rộng thanh toán qua tài khoản qua Kho bạc
VIDEO: Cải cách quản lý thuế hải quan: Bước tiến thực chất từ Nghị định 252 và Thông tư 86
VIDEO: Bất ngờ thành chủ doanh nghiệp ma: Cảnh báo bẫy lừa từ lộ thông tin cá nhân
PODCAST: Bộ Tài chính ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 19 về đổi mới mô hình phát triển
PODCAST: Kỳ họp không thường lệ thứ nhất: Khơi thông nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng
Kinh tế 8 tháng duy trì đà tăng trưởng, Chính phủ quyết liệt thực hiện các nhiệm vụ cuối năm
Việt Nam - Myanmar: Tạo động lực mới cho hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư
Kinh tế 8 tháng khởi sắc, tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Sửa Luật Kế toán, Kiểm toán độc lập: Đơn giản thủ tục, quản lý theo mức độ rủi ro
Chuẩn bị từ sớm, từ xa, nâng chất lượng lập pháp trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ hai
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt kỷ lục 770,14 tỷ USD
Phát triển vùng nhằm khơi thông nguồn lực, phát huy các cực tăng trưởng
Niềm tin của Nhân dân không đo bằng số hội nghị hay văn bản
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Giá trị nghị quyết phải thể hiện ở chuyển biến thực tế
Kinh tế Việt Nam 8 tháng đầu năm: Động lực tăng trưởng đang tạo thế cho chặng cuối năm
Việt Nam - Myanmar: Tạo động lực mới cho hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư
Vốn đầu tư nước ngoài vượt mốc 40 tỷ USD, nền tảng vững thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Ngành thủy sản Cà Mau: Tận dụng hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do
Hơn 500 nhà mua hàng quốc tế tìm kiếm nguồn cung từ Việt Nam
Mô hình phát triển mới: Mở thêm “biên giới tăng trưởng” cho nền kinh tế
TS.KTS. Đào Ngọc Nghiêm: Quy hoạch mới tạo dư địa để Hà Nội nâng tầm vị thế
Thành tựu xuất nhập khẩu - Dấu ấn của nền kinh tế năng động, hội nhập













