Phát triển vùng nhằm khơi thông nguồn lực, phát huy các cực tăng trưởng
![]() |
| Quang cảnh Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị. Ảnh: VGP |
Phát triển vùng nhằm khai thác hiệu quả không gian phát triển mới
Phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, tổ chức lại không gian phát triển, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh mới.
Đây là nội dung trọng tâm của Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới.
Báo cáo các nội dung trọng tâm của Nghị quyết tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị được tổ chức sáng 3/9, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương nhấn mạnh, sau hơn 3 năm thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị khóa XIII về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh 6 vùng kinh tế - xã hội, nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của phát triển vùng được nâng cao; liên kết vùng được tăng cường; tiềm năng, lợi thế của địa phương và vùng từng bước phát huy hiệu quả.
Tuy nhiên, phát triển các vùng chưa đạt mục tiêu đề ra; chưa khơi thông và phát huy hiệu quả các nguồn lực xã hội; quy hoạch còn chồng lấn, thiếu đồng bộ và thiếu liên kết; kết cấu hạ tầng vẫn là một điểm nghẽn. Các hành lang kinh tế, cụm liên kết ngành phát triển chậm; một số đô thị lớn, cực tăng trưởng chưa phát huy được vai trò hạt nhân, lan tỏa; liên kết vùng còn yếu và chưa hiệu quả.
Trong bối cảnh đó, để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, phát huy hơn nữa tiềm năng, lợi thế của từng vùng, thúc đẩy liên kết và khai thác hiệu quả không gian phát triển mới của các địa phương và vùng sau sắp xếp đơn vị hành chính, thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bảo đảm các địa phương, các vùng và cả nước được kết nối chặt chẽ, thông suốt, Bộ Chính trị khóa XIV đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW.
Nghị quyết xác định 3 quan điểm chỉ đạo lớn. Thứ nhất, phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, tổ chức lại không gian phát triển, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh mới. Theo đó, cần đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển, mô hình tăng trưởng; chuyển từ chủ yếu dựa vào nguồn lực sẵn có sang kiến tạo, dẫn dắt, khơi thông và kích hoạt mọi nguồn lực.
Nội lực được xác định là cơ bản, chiến lược, lâu dài, quyết định, kết hợp hiệu quả với ngoại lực, qua đó bảo đảm phát triển nhanh, bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và có sức chống chịu cao.
Thứ hai, tổ chức lại không gian phát triển quốc gia thống nhất trên cơ sở xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng, lợi thế, bản sắc và sứ mệnh phát triển của từng vùng trong tổng thể phát triển đất nước.
Nghị quyết đặt yêu cầu phát huy liên kết, bổ trợ và lan tỏa giữa các vùng, vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, chuỗi đô thị và các trung tâm kinh tế; khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới trong giới hạn sinh thái, phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường, khắc phục tư duy cục bộ, phát triển dàn trải, trùng lặp.
Thứ ba, xây dựng cơ chế liên kết, điều phối vùng thật sự mạnh, thực chất, hiệu quả được xác định là khâu đột phá. Cơ chế này phải bảo đảm đồng bộ, liên thông trong quy hoạch, đầu tư, phát triển hạ tầng, dữ liệu và phân bổ nguồn lực; đồng thời xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, địa phương, hài hòa lợi ích giữa địa phương, vùng và quốc gia.
Phát huy vai trò dẫn dắt, lan tỏa của các vùng động lực
Về mục tiêu tổng quát, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh, phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới nhằm tái cấu trúc, quản lý và khai thác hiệu quả không gian phát triển vùng đồng bộ với không gian phát triển quốc gia, trên cơ sở phát huy tối đa ưu điểm nổi trội, lợi thế cạnh tranh, bản sắc văn hóa của từng vùng và từng địa phương.
![]() |
| Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương. Ảnh: TTXVN |
Cùng với đó là phát huy vai trò đi đầu, dẫn dắt, lan tỏa của các vùng động lực, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng; bảo đảm yêu cầu về tự chủ chiến lược, an ninh năng lượng, an ninh lương thực và an ninh nguồn nước; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; duy trì môi trường hòa bình, ổn định.
Về mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030, Nghị quyết đề ra mục tiêu và 22 chỉ tiêu cụ thể cho từng vùng, phù hợp với tiềm năng, lợi thế so sánh, thực tiễn phát triển và yêu cầu đóng góp vào sự phát triển chung của cả nước. Định hướng phát triển từng vùng được xác định trên cơ sở tiềm năng, lợi thế để các vùng liên kết chặt chẽ, hữu cơ với nhau và thống nhất thực hiện mục tiêu phát triển chung của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Theo đó, vùng Trung du và miền núi phía Bắc phát triển xanh, nhanh và bền vững; khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế về tài nguyên, kinh tế cửa khẩu, du lịch; hình thành một số cực tăng trưởng động lực. Vùng Đồng bằng sông Hồng phát triển nhanh, bền vững, bao trùm; là vùng động lực của cả nước, có các trung tâm đổi mới sáng tạo, công nghệ cao và kinh tế số cực lớn.
Vùng Bắc Trung Bộ phát triển nhanh, bền vững, là vùng động lực quan trọng về công nghiệp, dịch vụ lớn, các khu kinh tế ven biển và hệ thống đô thị ven biển hiện đại. Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên phát triển xanh, bền vững với nền tảng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kết hợp hài hòa và khai thác hiệu quả không gian liên kết phát triển giữa vùng biển, cao nguyên và biên giới.
Đông Nam Bộ được định hướng là vùng động lực tăng trưởng lớn nhất cả nước; trung tâm công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp công nghệ số và logistics quốc tế, đồng thời là trung tâm tài chính quốc tế, cực tăng trưởng của vùng. Đồng bằng sông Cửu Long phát triển theo hướng văn minh, đậm bản sắc vùng sông nước; là trung tâm kinh tế nông nghiệp hiện đại, bền vững, năng động và hiệu quả của quốc gia, khu vực và thế giới.
Về một số chỉ tiêu kinh tế trọng tâm đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân của 6 vùng được xác định ở các mức từ 9% đến 11%/năm tùy vùng. Trong đó, Đồng bằng sông Hồng đạt 11%; Đông Nam Bộ 10-11%; Bắc Trung Bộ 10,5%; Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên 10%; Trung du và miền núi phía Bắc 9-10%; Đồng bằng sông Cửu Long 9-9,5%.
GRDP bình quân đầu người của Đông Nam Bộ được đặt mục tiêu đạt 14.500 USD, cao nhất trong 6 vùng; Đồng bằng sông Hồng đạt 12.000-12.500 USD; Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên 8.000 USD; Bắc Trung Bộ 7.000 USD; Đồng bằng sông Cửu Long 6.610 USD và Trung du và miền núi phía Bắc 6.000 USD.
Cùng với tăng trưởng về quy mô, cơ cấu và chất lượng tăng trưởng cũng được đặt ra. Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GRDP của Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ cùng đạt 30-32%; Bắc Trung Bộ đạt 30%; Đồng bằng sông Cửu Long 23-24%; Trung du và miền núi phía Bắc 20-22%; Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên 14%.
Kinh tế số tiếp tục giữ vai trò đáng chú ý trong cơ cấu kinh tế các vùng. Tỷ trọng giá trị gia tăng của kinh tế số trong GRDP tại Đông Nam Bộ được đặt mục tiêu đạt 35-40%; Đồng bằng sông Hồng 35%; Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên cùng đạt 30%; Trung du và miền núi phía Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long cùng ở mức 25-30%.
Về tầm nhìn đến năm 2045, các vùng phát triển và vận hành theo phương thức của kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế dữ liệu, kinh tế tuần hoàn; có kết cấu hạ tầng đồng bộ, thông minh, xanh, an toàn, khả năng chống chịu cao và kết nối thông suốt.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực chính của tăng trưởng và phát triển; liên kết chặt chẽ giữa các địa phương trong vùng và giữa các vùng. Người dân được hưởng thụ các dịch vụ xã hội chất lượng cao, góp phần xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao.
Khơi thông nguồn lực, phát triển các động lực tăng trưởng mới
Để thực hiện các mục tiêu trên, Nghị quyết đề ra 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm về tổ chức không gian và quy hoạch vùng; hoàn thiện thể chế; đổi mới mô hình tăng trưởng; phát triển hạ tầng; hệ thống đô thị và các cực tăng trưởng; nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; văn hóa, xã hội và an sinh; môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu; quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.
Trong đó, về tổ chức không gian phát triển và quy hoạch vùng, Nghị quyết yêu cầu tổ chức không gian kinh tế - xã hội theo hướng đa tầng, đa cực, liên kết đồng bộ đất liền, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm, không gian số và các không gian phát triển mới. Quy hoạch vùng được điều chỉnh đồng bộ với Quy hoạch tổng thể quốc gia và quy hoạch ngành, gắn với đổi mới mô hình phát triển đất nước.
Các hành lang kinh tế được hình thành, phát triển để kết nối hiệu quả các vùng động lực, cực tăng trưởng quốc gia, tạo thành những trục giao thông và không gian kinh tế xuyên suốt, kết nối các trung tâm kinh tế, đô thị và cảng biển quan trọng; đồng thời tăng cường kết nối các hành lang kinh tế trong nước với khu vực và quốc tế.
Cùng với tổ chức lại không gian phát triển, Nghị quyết xác định hoàn thiện cơ chế phối hợp, điều phối và huy động nguồn lực vùng thật sự mạnh, thực chất, hiệu quả là khâu đột phá. Các cực tăng trưởng, đô thị động lực được tạo cơ chế tham gia điều phối phát triển vùng ở một số lĩnh vực; thiết lập cơ chế chia sẻ nguồn lực và lợi ích giữa quốc gia, vùng và địa phương theo nguyên tắc cùng phát triển.
Liên kết vùng được đẩy mạnh theo không gian phát triển và chuỗi giá trị, lấy các hành lang kinh tế, cực tăng trưởng, đô thị động lực làm hạt nhân. Đồng thời, hoàn thiện thể chế để xác lập mô hình tăng trưởng mới, phát triển các mô hình kinh tế mới, vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, khu kinh tế đặc biệt, đặc khu công nghệ, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế và trung tâm dữ liệu quốc gia.
Một trọng tâm khác là đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng vùng, hướng tới kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu, trục xuyên suốt trong phát triển vùng. Các động lực tăng trưởng mới của từng vùng được xác định gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Nghị quyết cũng đặt yêu cầu phát triển đồng bộ các thị trường liên quan đến sản xuất, kinh doanh, nhất là thị trường khoa học - công nghệ, thị trường vốn và thị trường lao động; phát triển kết cấu hạ tầng trở thành một ngành kinh tế chiến lược. Các công trình đường sắt, năng lượng, đô thị, cảng biển và hạ tầng số phải thúc đẩy song hành sự phát triển của các ngành công nghiệp nội địa.
Các ngành, lĩnh vực có giá trị gia tăng cao, khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu được khuyến khích phát triển; trong đó có công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ tài chính, logistics, thương mại điện tử, du lịch chất lượng cao và nông nghiệp công nghệ cao, sinh thái, bền vững.
Đáng chú ý, Nghị quyết tiếp tục nhấn mạnh chuyển tư duy phát triển từ chủ yếu dựa vào nguồn lực sẵn có sang kiến tạo, dẫn dắt, khơi thông và kích hoạt nguồn lực toàn xã hội. Đầu tư công tập trung vào các công trình nền tảng, thiết yếu, liên vùng, hạ tầng công ích, hạ tầng xã hội thiết yếu và vùng khó khăn; đồng thời tạo điều kiện để khu vực tư nhân phát triển mạnh mẽ, trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.
Đến năm 2045, phấn đấu xây dựng ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế
Về hạ tầng, nguồn lực được tập trung cho hạ tầng chiến lược, hạ tầng số, hạ tầng công nghệ, chuyển đổi xanh và chuyển đổi năng lượng. Hệ thống giao thông được phát triển hiện đại, đồng bộ, tăng kết nối giữa các ngành, các vùng, giữa địa phương với các trung tâm kinh tế lớn và giữa trong nước với nước ngoài; tăng liên thông giữa các phương thức vận tải, giao thông với năng lượng, logistics và đô thị.
Nghị quyết ưu tiên hạ tầng giao thông trục xương sống Bắc - Nam và hành lang Đông - Tây thế hệ mới; phát triển vận tải đa phương thức, nâng cao năng lực logistics, giảm chi phí vận tải. Đồng thời, tập trung xử lý điểm nghẽn hạ tầng đô thị, hạ tầng xã hội, hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm liên vùng, có tính lan tỏa và hạ tầng kết nối các khu kinh tế biển, khu kinh tế cửa khẩu.
Hệ thống đô thị được quy hoạch theo hướng phát triển các cực tăng trưởng, hành lang kinh tế - đô thị, trung tâm kinh tế và đô thị động lực; phát triển các mô hình đô thị xanh, đô thị thông minh, đô thị nén. Trong đó, ưu tiên phát triển hai cực tăng trưởng lớn nhất đất nước là vùng đô thị Hà Nội và vùng đô thị TP. Hồ Chí Minh. Đến năm 2045, phấn đấu xây dựng ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế.
Cùng với hạ tầng và đô thị, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị cho biết, Nghị quyết đặt trọng tâm vào phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực then chốt như công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ cao, công nghệ số, logistics, tài chính, năng lượng, nông nghiệp công nghệ cao; xây dựng cơ chế thu hút chuyên gia, nhà khoa học, nhân tài trong và ngoài nước.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được ưu tiên đầu tư trong tất cả các lĩnh vực. Nghị quyết định hướng hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, các trung tâm nghiên cứu - phát triển (R&D), khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung; phát triển hạ tầng số, tài nguyên số, không gian số, cơ sở dữ liệu lớn và kinh tế dữ liệu; phát triển các cụm trung tâm dữ liệu quốc gia gắn với các vùng động lực, cực tăng trưởng.
Các nhiệm vụ về văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và xây dựng hệ thống chính trị cũng được đặt trong tổng thể phát triển vùng. Theo đó, bản sắc văn hóa và các giá trị truyền thống của các vùng được xác định là nguồn lực phát triển; thúc đẩy liên kết để hình thành các trục di sản, văn hóa, du lịch liên vùng và phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới. Hệ thống y tế, an sinh xã hội được phát triển theo hướng toàn diện, đồng bộ, hiện đại và bao trùm.
Đối với môi trường và biến đổi khí hậu, Nghị quyết yêu cầu tăng cường liên kết vùng trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; chú trọng các công trình phòng, chống thiên tai, kiểm soát sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn và bảo đảm an ninh nguồn nước. Việc khai thác, sử dụng đất đai, tài nguyên và khoáng sản quan trọng phải gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững.
Phát triển kinh tế - xã hội đồng thời phải gắn chặt với bảo đảm quốc phòng, an ninh và tăng cường hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế. Các địa phương được phát huy vai trò trong hợp tác với những quốc gia có trình độ phát triển về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, du lịch và phát triển kết cấu hạ tầng.
Về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, Nghị quyết yêu cầu hoàn thiện mô hình, tổ chức bộ máy chính quyền các cấp ở địa phương phù hợp với đặc điểm từng vùng; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm và địa phương chịu trách nhiệm”. Đồng thời, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, chia sẻ dữ liệu giữa các địa phương và lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả công tác của các tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị.
Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị cũng cho biết, Nghị quyết số 27-NQ/TW phân công nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan trong tổ chức thực hiện. Nghị quyết thay thế các nghị quyết của Bộ Chính trị khóa XIII về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh ở các vùng kinh tế - xã hội, thể hiện tư duy mới, tầm nhìn mới về tổ chức lại không gian phát triển quốc gia và phát triển 6 vùng kinh tế - xã hội, nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và hướng tới 2 mục tiêu 100 năm của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.
Tin tức khác
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt kỷ lục 770,14 tỷ USD
Niềm tin của Nhân dân không đo bằng số hội nghị hay văn bản
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Giá trị nghị quyết phải thể hiện ở chuyển biến thực tế
Thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh bằng việc làm cụ thể
Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị
Tổng mức bán lẻ và tiêu dùng 8 tháng năm 2026 đạt hơn 5,2 triệu tỷ đồng
Chỉ số PMI đạt 53,3 điểm, ngành sản xuất của Việt Nam tiếp tục mạnh lên
PODCAST: Bộ Tài chính đề xuất siết chi tiền mặt và mở rộng thanh toán qua tài khoản qua Kho bạc
VIDEO: Cải cách quản lý thuế hải quan: Bước tiến thực chất từ Nghị định 252 và Thông tư 86
VIDEO: Bất ngờ thành chủ doanh nghiệp ma: Cảnh báo bẫy lừa từ lộ thông tin cá nhân
PODCAST: Bộ Tài chính ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 19 về đổi mới mô hình phát triển
PODCAST: Kỳ họp không thường lệ thứ nhất: Khơi thông nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng
Chuẩn bị từ sớm, từ xa, nâng chất lượng lập pháp trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ hai
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt kỷ lục 770,14 tỷ USD
Phát triển vùng nhằm khơi thông nguồn lực, phát huy các cực tăng trưởng
Niềm tin của Nhân dân không đo bằng số hội nghị hay văn bản
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Giá trị nghị quyết phải thể hiện ở chuyển biến thực tế
Thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh bằng việc làm cụ thể
Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị
Tổng mức bán lẻ và tiêu dùng 8 tháng năm 2026 đạt hơn 5,2 triệu tỷ đồng
Chỉ số PMI đạt 53,3 điểm, ngành sản xuất của Việt Nam tiếp tục mạnh lên
Ngành thủy sản Cà Mau: Tận dụng hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do
Hơn 500 nhà mua hàng quốc tế tìm kiếm nguồn cung từ Việt Nam
Mô hình phát triển mới: Mở thêm “biên giới tăng trưởng” cho nền kinh tế
TS.KTS. Đào Ngọc Nghiêm: Quy hoạch mới tạo dư địa để Hà Nội nâng tầm vị thế
Thành tựu xuất nhập khẩu - Dấu ấn của nền kinh tế năng động, hội nhập
Đổi mới mô hình phát triển: Bước chuyển chiến lược đưa Việt Nam tiến vào kỷ nguyên phát triển mới
Kỳ tích 40 năm Đổi mới và hành trình tới quốc gia thu nhập cao
Thu hút FDI thế hệ mới: Bước chuyển tư duy gắn với mô hình phát triển mới













