Linh hoạt tỷ giá gắn với củng cố “bộ đệm” tài chính - tiền tệ
![]() |
| Chính sách tiền tệ của Việt Nam đang mang tính đa mục tiêu, bao gồm hỗ trợ tăng trưởng, kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá. Ảnh minh hoạ: Đức Thanh |
Theo Ấn phẩm Đánh giá Kinh tế Việt Nam thường niên 2025 của Đại học Kinh tế Quốc dân vừa công bố, năm 2026 là năm mở đầu giai đoạn 2026-2030, với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu này, báo cáo lưu ý dư địa chính sách tiền tệ đang bị thu hẹp do áp lực lạm phát, tỷ giá và những rủi ro nội tại của hệ thống tài chính - tiền tệ, trong khi tỷ lệ tín dụng/GDP và cung tiền/GDP đã ở mức cao.
Nhóm nghiên cứu của Đại học Kinh tế Quốc dân chỉ ra rằng, tăng trưởng cao những năm gần đây vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng, trong khi các kênh thị trường vốn như cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp chưa phát triển tương xứng. Điều này khiến chính sách tiền tệ cùng lúc phải thực hiện nhiều mục tiêu: hỗ trợ tăng trưởng, kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và bảo đảm an toàn hệ thống.
![]() |
| Nguồn: Cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ước tính của ADB |
Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp trong những tháng đầu năm 2026, ông Nguyễn Bá Hùng, Chuyên gia Kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam cho hay, áp lực thanh khoản, nợ xấu gia tăng và thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn hạn chế có thể tác động đến tăng trưởng tín dụng và đẩy chi phí vốn lên cao. Những yếu tố này khiến việc điều hành lãi suất, tỷ giá và tín dụng càng cần thận trọng hơn.
Diễn biến từ thị trường quốc tế cũng tạo thêm áp lực lên điều hành chính sách. Theo báo cáo tăng trưởng kinh tế Việt Nam quý I/2026 thực hiện bởi Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore), không chỉ gây áp lực lên lạm phát, cú sốc năng lượng còn tác động trực tiếp đến tỷ giá và kỳ vọng thị trường.
Khi chi phí nhập khẩu đầu vào gia tăng và cán cân thương mại chuyển sang thâm hụt trong ngắn hạn, áp lực lên đồng nội tệ có xu hướng lớn hơn, buộc chính sách tiền tệ phải cân nhắc kỹ giữa ổn định tỷ giá và hỗ trợ tăng trưởng.
GS.TS. Tô Trung Thành, Trưởng phòng Quản lý Khoa học, Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết, chính sách tiền tệ của Việt Nam đang mang tính đa mục tiêu, bao gồm hỗ trợ tăng trưởng, kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá. Khi xuất hiện biến động lớn về tỷ giá, nếu tiếp tục giữ ổn định tỷ giá để hỗ trợ nền kinh tế, Việt Nam sẽ phải chấp nhận đánh đổi. Ngoài ra, tỷ giá biến động mạnh mà chính sách vẫn ưu tiên giữ ổn định, dư địa tác động của chính sách tiền tệ đến tăng trưởng sẽ suy giảm.
Các chuyên gia cho rằng, đây chính là biểu hiện rõ của “bộ ba bất khả thi”, khi một nền kinh tế không thể đồng thời duy trì ổn định tỷ giá, tự do dòng vốn và độc lập chính sách tiền tệ ở mức tối đa. Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu, dòng vốn và thương mại biến động nhanh, việc neo quá chặt vào một mục tiêu có thể làm giảm khả năng ứng phó của chính sách với các cú sốc mới.
Theo GS.TS. Tô Trung Thành, hướng xử lý trong dài hạn là chính sách tỷ giá cần linh hoạt hơn. Tuy nhiên, quá trình chuyển sang cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn phải đi cùng việc xây dựng cấu trúc hệ thống tài chính - tiền tệ đủ mạnh, đủ sức làm bộ đệm trước các cú sốc. Linh hoạt tỷ giá gắn với củng cố “bộ đệm” tài chính - tiền tệ
Các chuyên gia của UOB cũng cho rằng, trong bối cảnh áp lực lạm phát chủ yếu đến từ phía cung, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nhiều khả năng sẽ duy trì mặt bằng lãi suất ổn định trong năm 2026, thay vì vội vàng thắt chặt. UOB dự báo NHNN sẽ tiếp tục giữ nguyên lãi suất tái cấp vốn ở mức 4,5% trong suốt năm 2026. Điều này cho thấy trọng tâm điều hành đang nghiêng về ổn định vĩ mô và kiểm soát kỳ vọng thị trường, hơn là kích thích tăng trưởng bằng mọi giá.
Theo khuyến nghị của Ấn phẩm Đánh giá Kinh tế Việt Nam thường niên 2025, chính sách tiền tệ năm 2026 nên chuyển sang trạng thái “thận trọng linh hoạt”, tập trung ổn định lãi suất và tỷ giá để giữ vững kỳ vọng lạm phát. Việc điều hành lãi suất và tỷ giá cần phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa.
Báo cáo cũng khuyến nghị quyết định điều chỉnh lãi suất cần gắn với biến động của CPI và giá dầu Brent. Đây là điểm đáng chú ý trong bối cảnh cú sốc năng lượng có thể quay trở lại, làm tăng chi phí đầu vào và tạo áp lực lạm phát nhập khẩu. Nếu hạ lãi suất quá nhanh trong khi tỷ giá và giá dầu cùng chịu sức ép, rủi ro không chỉ nằm ở lạm phát, mà còn ở kỳ vọng thị trường và hành vi nắm giữ ngoại tệ.
Ở góc độ tín dụng, PGS.TS. Lê Thanh Tâm, Viện Ngân hàng - Tài chính, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, định hướng chuyển từ quản lý tăng trưởng tín dụng theo lượng sang theo chất cần được hiểu là dòng vốn phải hướng nhiều hơn vào các ngành sản xuất thực, các lĩnh vực thúc đẩy kinh tế số, khu vực kinh tế tư nhân và những trụ cột tạo nền tảng tăng trưởng. Ngược lại, các dòng vốn chảy vào những khu vực có thể gây rủi ro, như tiêu dùng quá mức hoặc bất động sản mang tính đầu cơ, cần được kiểm soát chặt hơn.
Theo PGS.TS. Lê Thanh Tâm, tăng trưởng tín dụng vẫn là một công cụ chính sách tiền tệ quan trọng trong bối cảnh thị trường tài chính chưa phát triển đầy đủ. Tuy nhiên, khi hệ thống ngân hàng đủ mạnh hơn, việc điều tiết cần dựa nhiều hơn vào mức độ lành mạnh của từng nhóm ngân hàng và mục đích sử dụng tín dụng, thay vì chỉ giao một con số tăng trưởng chung. Đây là cách để tín dụng tiếp tục hỗ trợ nền kinh tế nhưng giảm nguy cơ tích tụ rủi ro trong hệ thống tài chính.
Trước yêu cầu tăng trưởng cao, GS.TS. Tô Trung Thành cho rằng cần thay đổi tư duy, phải chuyển sang “muốn đi nhanh thì phải đi chắc”. Trong giai đoạn tới, chính sách tiền tệ nên ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn hệ thống, thay vì quá tập trung vào tăng trưởng. Dư địa thúc đẩy tăng trưởng cần được dành nhiều hơn cho chính sách tài khóa, trong đó chính sách phải mang tính dẫn dắt chứ không chỉ hỗ trợ.
Điều này đặc biệt quan trọng bởi nếu tiếp tục dùng tín dụng làm động lực chính cho tăng trưởng, nền kinh tế có thể đạt tốc độ cao trong ngắn hạn nhưng tích tụ rủi ro về nợ xấu, tài sản đầu cơ, thanh khoản và tỷ giá. Trong khi đó, đầu tư công có mục tiêu, nếu được triển khai hiệu quả, có thể mở rộng năng lực cung, giảm chi phí logistics, nâng chất lượng hạ tầng và tạo nền tảng tăng năng suất dài hạn.
Đặc biệt, GS.TS. Tô Trung Thành nhận định, kinh tế số là một động lực quan trọng để giảm mức độ thâm dụng vốn của nền kinh tế. Kinh tế số về bản chất là quá trình tái cấu trúc sản xuất, tiêu dùng và phân phối trên nền tảng công nghệ số, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Qua đó, kinh tế số có thể làm tăng năng suất, hỗ trợ tăng trưởng và giúp nền kinh tế bớt phụ thuộc vào vốn tín dụng.
Tin tức khác
Tăng tốc về đích năm 2026, Bảo Minh sẵn sàng cho chặng đường bứt phá 2027
NCB vượt mọi chỉ tiêu kinh doanh sau 9 tháng
Lãi, phí phải thu của VietABank tăng gấp đôi giữa lúc cơ quan quản lý yêu cầu kiểm soát chặt
Kênh phân phối nào đóng góp tỷ trọng cao nhất trên thị trưởng bảo hiểm nhân thọ?
Sacombank vượt 1 triệu tỷ đồng tài sản, thu ngoài lãi tăng mạnh
Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đồng loạt báo lãi, hứa hẹn tiếp tục kiến tạo giá trị mới cho khách hàng
Giá vàng hôm nay: Vàng miếng SJC tăng mạnh, giá vàng có thể 5.500 USD/ounce vào cuối quý I/2027?
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
Bộ trưởng Bộ Xây dựng: Không thể mua nhà ở xã hội rồi bán lại theo giá thị trường
Hưởng ưu đãi, doanh nghiệp phải có nghĩa vụ tương ứng về giá, chất lượng nhà cho thuê
Bài 1: Tầm nhìn mở lối, hiện thực hóa khát vọng phát triển
Bán lại sau 5 năm: Không để nhà ở xã hội trở thành cơ hội đầu cơ
Việt Nam nâng cao sức chống chịu, tạo động lực tăng trưởng mới
Đề xuất bổ sung hành vi tự ưu đãi, đánh giá giả, "siết" cạnh tranh trên nền tảng số
Xác định vị trí thống lĩnh thị trường từ ngưỡng thị phần 10% kèm sức mạnh thị trường đáng kể
Tạo không gian thử nghiệm, hiện đại hóa hạ tầng thị trường chứng khoán
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm, thúc đẩy hợp tác quốc tế
Chuyên gia kinh tế chia sẻ kinh nghiệm huy động nguồn lực cho phát triển bền vững
Hà Nội quyết định loạt chính sách lớn, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn phát triển
Khơi thông dòng vốn dài hạn, tạo sức bật cho tăng trưởng kinh tế
Hà Nội tăng tốc chuyển đổi các khu công nghiệp sang mô hình sinh thái
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm, thúc đẩy hợp tác quốc tế
Năng lượng sạch - động lực cho tăng trưởng xanh trong kỷ nguyên mới
Kinh tế bạc trong quy hoạch tổng thể TP. Hồ Chí Minh, tầm nhìn 100 năm
Bài 2: Ổn định vĩ mô - Giữ nhịp tăng trưởng trước sức ép lạm phát










