Xây dựng cơ sở dữ liệu carbon xanh quốc gia để ứng phó với biến đổi khí hậu
![]() |
| Việc xây dựng cơ sở dữ liệu carbon xanh gắn chặt với chiến lược phát triển các hệ sinh thái tự nhiên – đặc biệt là rừng – vốn đang đóng góp tỷ lệ hấp thụ carbon lớn nhất hiện nay. |
Theo Cục Biến đổi khí hậu, cơ sở dữ liệu mới sẽ tích hợp thông tin về hấp thụ và lưu trữ carbon của các hệ sinh thái trọng yếu như rừng, nông nghiệp, đất ngập nước, biển – ven biển và mảng xanh đô thị. Dữ liệu được thu thập từ viễn thám, quan trắc hiện đại, kết hợp điều tra thực địa và các mô hình chuẩn quốc tế, nhằm tạo ra bộ dữ liệu thống nhất trên quy mô toàn quốc. Khi hoàn thành, đây sẽ là nền tảng phục vụ quản lý nhà nước, đàm phán quốc tế về tài chính khí hậu và vận hành thị trường carbon trong nước.
Việc xây dựng cơ sở dữ liệu carbon xanh gắn chặt với chiến lược phát triển các hệ sinh thái tự nhiên – đặc biệt là rừng – vốn đang đóng góp tỷ lệ hấp thụ carbon lớn nhất hiện nay. Việt Nam tham gia nhiều chương trình giảm phát thải trên nền tảng phát triển bền vững như REDD+, do vậy nhu cầu chuẩn hóa dữ liệu để xác định chính xác lượng carbon hấp thụ và giá trị tín chỉ carbon trở nên cấp thiết. Việc này đòi hỏi tính nhất quán, khả năng kiểm chứng độc lập và cập nhật thường xuyên.
Cùng với cơ sở dữ liệu, Việt Nam đang định hình lộ trình giảm phát thải từ carbon xanh đến năm 2035, hướng tới xây dựng hệ thống quản lý carbon thống nhất, theo dõi biến động carbon ở cấp quốc gia và địa phương, tính toán ngân sách carbon và xác định mức đóng góp phù hợp của từng ngành. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để hình thành thị trường các-bon nội địa, nơi doanh nghiệp có thể giao dịch tín chỉ carbon từ hoạt động hấp thụ và bảo tồn hệ sinh thái.
Theo đại diện Cục Biến đổi khí hậu, việc phát triển cơ sở dữ liệu carbon xanh không chỉ phục vụ quản trị trong nước mà còn nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe về minh bạch khí hậu. Các cơ chế tài chính như Quỹ Khí hậu xanh (GCF) hay thị trường tín chỉ carbon tự nguyện (VCM) đều yêu cầu dữ liệu có khả năng truy vết, đo lường chính xác và đồng bộ. Điều này sẽ tạo điều kiện để Việt Nam thu hút nguồn lực quốc tế phục vụ giảm phát thải và thích ứng khí hậu.
Trong bối cảnh sở hữu diện tích rừng lớn, hệ sinh thái đa dạng và tiềm năng phát triển nông – lâm – ngư nghiệp bền vững, Việt Nam được đánh giá có khả năng tạo ra lượng tín chỉ carbon đáng kể trong 10–15 năm tới. Tuy nhiên, thách thức đặt ra là sự phân tán dữ liệu giữa các ngành, phương pháp tính toán chưa thống nhất và hạn chế về năng lực quan trắc ở cấp địa phương.
Giai đoạn 2025–2030, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các đơn vị liên quan sẽ tập trung hoàn thiện khung pháp lý, đầu tư công nghệ MRV, đào tạo nhân lực và xây dựng cơ chế chia sẻ, liên thông dữ liệu. Đến năm 2035, cơ sở dữ liệu carbon xanh quốc gia phải đạt yêu cầu bao phủ toàn quốc, cập nhật theo thời gian thực và phục vụ trực tiếp cho công tác giám sát phát thải – hấp thụ carbon.
Một số địa phương như Lâm Đồng, Thừa Thiên – Huế, Quảng Trị đã bắt đầu số hóa dữ liệu rừng, lập bản đồ carbon và triển khai thí điểm tín chỉ carbon. Đây được xem là bước đi ban đầu trước khi tích hợp vào cơ sở dữ liệu quốc gia khi hệ thống hoàn thiện.
Các chuyên gia cho rằng cơ sở dữ liệu carbon xanh quốc gia sẽ trở thành hạ tầng cốt lõi của kinh tế xanh Việt Nam, tạo nền tảng khoa học cho chính sách, hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi xanh và nâng cao uy tín quốc gia trên trường quốc tế. Khi dữ liệu minh bạch, thị trường carbon sẽ vận hành hiệu quả hơn, giảm rủi ro cho doanh nghiệp và mở ra nguồn lực tài chính mới cho các giải pháp bảo tồn thiên nhiên.
Với sự vào cuộc đồng bộ của các cơ quan và quyết tâm thực thi cam kết khí hậu, Việt Nam đang hướng tới một mô hình quản trị carbon hiện đại, dựa trên bằng chứng khoa học, qua đó tăng tính cạnh tranh và bền vững của nền kinh tế trong dài hạn.
Tin tức khác
Nhiều hoạt động đặc sắc chào mừng Ngày Văn hóa Việt Nam
Nâng cao chất lượng công tác thống kê trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
Xuất cấp bổ sung hơn 450 tấn gạo hỗ trợ học sinh tỉnh Quảng Ngãi
Kết nối 3 bên, tạo nhịp cầu chiến lược giữa đào tạo và thị trường lao động
Du lịch Việt Nam: Tháo gỡ điểm nghẽn, tạo đột phá để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Để chính sách an sinh sát hơn với nữ công nhân môi trường
Xã hội hóa chăm sóc người cao tuổi: Cơ hội cho kinh tế tư nhân
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
VIDEO: Thu ngân sách gần 400.000 tỷ đồng: Ngành Hải quan tăng tốc số hóa cho chặng nước rút 2026
VIDEO: Ngành Thuế ngăn chặn vi phạm hóa đơn bằng công nghệ phân tích dữ liệu lớn
PODCAST: Doanh nghiệp chuyển phát gấp rút nâng cấp hệ thống theo Thông tư 142
PODCAST: Quyết liệt chống hàng giả online: Từ xử lý tài khoản ảo đến niêm phong kho thực
Việt Nam - EU và Bỉ: Dấu ấn chuyến thăm, mở rộng không gian hợp tác phát triển
Bộ Tài chính và loạt nhiệm vụ trọng tâm: Bảo đảm nguồn lực cho các mục tiêu phát triển
Xây dựng cơ chế tài chính đặc thù để thu hút, trọng dụng nhân tài
Tuyên bố chung về kết quả chuyến thăm chính thức Vương quốc Bỉ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm
Khai thác tiềm năng kinh tế, đưa văn hóa thành động lực tăng trưởng
Ưu đãi phát triển công nghiệp văn hóa: Phải rõ đối tượng, chặt điều kiện, đo được hiệu quả
Gắn ưu đãi đầu tư với lan toả nội địa hóa, chuyển giao công nghệ
Tăng cường kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến thiết bị bay không người lái
Sửa Luật Bảo vệ môi trường: Bổ sung quy định trao đổi quốc tế tín chỉ các-bon
Việt Nam - EU và Bỉ: Dấu ấn chuyến thăm, mở rộng không gian hợp tác phát triển
Pacifico Energy Việt Nam đề xuất dự án hơn 15.000 tỷ đồng, Phát Đạt bắt tay Lotte khởi công dự án 60.000 tỷ đồng
Tây Nguyên khơi thông nguồn lực, nâng tầm nông nghiệp công nghệ cao và dược liệu
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn: Không thể tăng trưởng mà không cần FDI
Tăng trưởng 2 con số: Mở rộng dư địa huy động tài lực
Việt Nam - Bỉ: Làm sâu sắc quan hệ hữu nghị, thúc đẩy hợp tác kinh tế
Hơn 60 đặc sản Gia Lai, Quảng Ngãi lên kệ chương trình Sức sống hàng Việt
Công bố Bảng xếp hạng doanh nghiệp PROFIT500 và Top 10, Top 5 Công ty uy tín một số ngành trọng điểm năm 2026









