aa

Nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước và yêu cầu đổi mới hoạt động của các tổ chức tín dụng nhà nước

10:55 | 09/04/2026
Trong bối cảnh yêu cầu nâng cao hiệu quả khu vực kinh tế nhà nước, vấn đề cốt lõi không chỉ nằm ở quy mô nguồn lực mà còn ở chất lượng phân bổ và sử dụng nguồn lực, trong đó có nguồn vốn. Các tổ chức tín dụng, nhất là các tổ chức tín dụng nhà nước, giữ vai trò trung tâm khi vừa là kênh dẫn vốn chủ yếu, vừa góp phần thiết lập kỷ luật tài chính đối với các chủ thể sử dụng vốn nhà nước. Hiệu quả của khu vực kinh tế nhà nước phụ thuộc một phần vào hiệu quả hoạt động của hệ thống tín dụng. Điều này đặt ra yêu cầu đổi mới các tổ chức tín dụng nhà nước theo hướng tăng cường tính thị trường, nâng cao năng lực quản trị và kiểm soát rủi ro, qua đó cải thiện chất lượng phân bổ nguồn lực. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung phân tích thực trạng và đề xuất các định hướng đổi mới các hoạt động của các tổ chức tín dụng nhà nước, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước.

ThS.Nguyễn Thị Chinh

Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính)

GIỚI THIỆU

Hệ thống tài chính - ngân hàng là kênh dẫn vốn chủ đạo của nền kinh tế, giữ vai trò huy động, phân bổ nguồn lực và hỗ trợ ổn định vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng. Thời gian qua, tín dụng được điều hành an toàn, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu vốn và góp phần kiểm soát lạm phát, phục hồi kinh tế. Trong đó, các tổ chức tín dụng (TCTD) nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong dẫn dắt thị trường và triển khai chính sách kinh tế - tài chính, vừa hoạt động theo cơ chế thị trường vừa thực hiện nhiệm vụ chính sách. Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị đã xác định các TCTD nhà nước là thành tố quan trọng, góp phần bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và dẫn dắt dòng vốn trong nền kinh tế.

Trước nhu cầu vốn lớn cho hạ tầng, chuyển đổi năng lượng và các ngành chiến lược, việc nâng cao năng lực tài chính, quản trị và hiệu quả hoạt động của các TCTD nhà nước là yêu cầu cấp thiết, nhằm bảo đảm an toàn hệ thống và phát huy vai trò “bệ đỡ” cho tăng trưởng bền vững.

Các TCTD nhà nước tại Việt Nam hiện nay gồm 2 nhóm chủ yếu. Thứ nhất là các ngân hàng thương mại (NHTM) nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối, gồm 4 ngân hàng lớn: Vietcombank, BIDV, VietinBank và Agribank. Đây là lực lượng nòng cốt của hệ thống ngân hàng, hoạt động theo cơ chế thị trường, giữ vai trò chủ lực trong huy động và cung ứng vốn cho nền kinh tế, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ chính sách theo định hướng của Nhà nước, đặc biệt đối với các lĩnh vực ưu tiên và các chương trình ổn định kinh tế vĩ mô. Thứ hai là các ngân hàng chính sách do Nhà nước sở hữu 100% vốn, tiêu biểu là Ngân hàng Chính sách xã hội (VBSP) và Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB). Nhóm này có tính chất đặc thù, không đặt mục tiêu lợi nhuận làm trọng tâm mà tập trung triển khai tín dụng ưu đãi phục vụ giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội và hỗ trợ đầu tư phát triển.

Sự tồn tại đồng thời của 2 nhóm tổ chức với mục tiêu và cơ chế hoạt động khác nhau tạo nên đặc trưng riêng của hệ thống TCTD nhà nước, vừa bảo đảm tính thị trường, vừa thực hiện chức năng điều tiết và dẫn dắt của Nhà nước. Đây cũng là cơ sở để xem xét, đánh giá thực trạng hoạt động và yêu cầu đổi mới các TCTD nhà nước trong giai đoạn hiện nay.

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG NHÀ NƯỚC

Quy mô và mức độ chi phối thị trường: Trong giai đoạn 2017-2025, quy mô hoạt động của 4 NHTM nhà nước tiếp tục được mở rộng mạnh mẽ. Tổng tài sản của nhóm ngân hàng này tăng từ khoảng 4,45 triệu tỷ đồng năm 2017 lên hơn 11,16 triệu tỷ đồng vào cuối năm 2025, tương đương mức tăng hơn 2,5 lần sau 8 năm. Cùng với sự gia tăng về quy mô tài sản, vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu của các NHTM nhà nước cũng được bổ sung đáng kể, lần lượt tăng từ 137,7 nghìn tỷ đồng lên 283,1 nghìn tỷ đồng và từ 211 nghìn tỷ đồng lên 691,3 nghìn tỷ đồng, qua đó tạo nền tảng tài chính quan trọng cho việc mở rộng hoạt động tín dụng và nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng.

Đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng của BIDV đạt trên 2,3 triệu tỷ đồng, VietinBank và Agribank đều tiến sát mốc 2 triệu tỷ đồng, Vietcombank có mức tăng trưởng tín dụng khoảng 15% với mức tăng tuyệt đối hơn 215 nghìn tỷ đồng. Quy mô tín dụng lớn của các NHTM nhà nước cho thấy vai trò chủ lực trong cung ứng vốn cho các lĩnh vực ưu tiên, dự án hạ tầng và ngành kinh tế then chốt. Nhìn chung, nhóm ngân hàng này hiện chiếm khoảng 40-45% tổng tài sản và trên 45% tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống, với tăng trưởng tín dụng khoảng 12-14%/năm, qua đó thể hiện mức độ chi phối và tầm ảnh hưởng lớn đối với thị trường tài chính - ngân hàng và phân bổ nguồn lực của nền kinh tế.

Hiệu quả tài chính và chất lượng tín dụng: Cùng với quá trình mở rộng quy mô, hiệu quả hoạt động của các NHTM nhà nước cũng có xu hướng cải thiện rõ rệt. Lợi nhuận trước thuế của 4 ngân hàng tăng từ 32,6 nghìn tỷ đồng năm 2017 lên hơn 150 nghìn tỷ đồng vào năm 2025, trong khi lợi nhuận sau thuế tăng từ khoảng 26,2 nghìn tỷ đồng lên hơn 120,3 nghìn tỷ đồng. Các chỉ tiêu sinh lời có xu hướng cải thiện với Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) tăng từ 12,89% năm 2017 lên mức cao nhất 20,70% vào năm 2022, sau đó duy trì quanh mức 18-20% trong giai đoạn 2023-2025. Tương tự, Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) tăng từ 0,65% năm 2017 lên 1,2% vào năm 2022 và tiếp tục cải thiện lên 1,28% vào năm 2025, phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản và vốn của các ngân hàng đã được nâng cao đáng kể trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Điều này cho thấy, mặc dù phải thực hiện nhiều nhiệm vụ chính sách và hỗ trợ các lĩnh vực ưu tiên của nền kinh tế, các NHTM nhà nước vẫn duy trì được hiệu quả kinh doanh tương đối tốt, qua đó góp phần quan trọng vào việc củng cố sự ổn định của hệ thống tài chính - ngân hàng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, xét về chất lượng và tính bền vững, hiệu quả hoạt động vẫn còn một số hạn chế. Các chỉ tiêu sinh lời như ROA và ROE của các NHTM nhà nước nhìn chung thấp hơn so với khu vực NHTM cổ phần. Bên cạnh đó, mặc dù tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức cho phép, rủi ro tín dụng tiềm ẩn vẫn tồn tại thông qua các khoản cơ cấu lại nợ và tín dụng tập trung vào các lĩnh vực có mức độ rủi ro cao.

Thực hiện chính sách tín dụng đầu tư của nhà nước: Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) là công cụ tài chính quan trọng của Nhà nước trong thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển. VDB đã phát huy vai trò huy động và cung ứng nguồn vốn đáng kể cho nền kinh tế. Giai đoạn 2006-2018, vốn tín dụng đầu tư do VDB giải ngân chiếm gần 4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội (tương đương khoảng 1,5% GDP); trong đó vốn trong nước chiếm 2,4% (0,9% GDP) và vốn ODA chiếm 1,6% (0,6% GDP). Tăng trưởng dư nợ bình quân đạt 12,6%/năm, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn cho các dự án phát triển. Từ năm 2024 đến nay, VDB đã bước đầu triển khai lại hoạt động tín dụng đầu tư, ký 34 hợp đồng tín dụng mới với tổng vốn 13.318 tỷ đồng, bước đầu giải ngân cho các dự án mới.

VDB cũng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, với tỷ trọng tín dụng vào lĩnh vực công nghiệp - xây dựng duy trì trên 70% tổng dư nợ. Ngân hàng đã tài trợ gần 200 dự án trọng điểm nhóm A, với quy mô vốn vay chiếm khoảng 50% tổng mức đầu tư, tập trung vào các ngành nền tảng như điện, xi măng, thép, hóa chất…, qua đó tạo động lực tăng trưởng và lan tỏa phát triển vùng.

Thông qua tín dụng đầu tư, VDB đã tăng cường năng lực sản xuất và phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội với nhiều dự án quy mô lớn: gần 400 dự án ngành điện (hơn 200.000 tỷ đồng); hơn 30 dự án xi măng (trên 18.000 tỷ đồng); hơn 10 dự án hóa chất (gần 13.000 tỷ đồng); hơn 230 dự án chế biến; hơn 640 dự án nông nghiệp, nông thôn (gần 53.000 tỷ đồng); hơn 300 dự án an sinh xã hội (trên 50.000 tỷ đồng); cùng khoảng 47.000 tỷ đồng cho hạ tầng nông thôn. Đồng thời, VDB đã hỗ trợ xuất khẩu với doanh số hơn 145.000 tỷ đồng và đóng góp vào thị trường tài chính thông qua trái phiếu tương đương 3,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội (1,3% GDP).

Trong giai đoạn cơ cấu lại gần đây, VDB đã đạt những chuyển biến quan trọng theo hướng nâng cao năng lực tài chính, từng bước tiếp cận các chuẩn mực quản trị hiện đại và tăng cường quản trị rủi ro. Tính đến ngày 30/6/2025, Bộ máy được tinh gọn còn 30 chi nhánh và 12 đầu mối; hiệu quả tài chính cải thiện rõ rệt khi chênh lệch thu - chi chuyển sang dương liên tục (258 tỷ đồng năm 2022; 529 tỷ đồng năm 2023; 1.637 tỷ đồng năm 2024); lỗ lũy kế giảm 59,49% và nợ xấu giảm 43,43% so với cuối năm 2021. Đáng chú ý, đến cuối năm 2025, tổng số vốn giải ngân cho các dự án mới theo Nghị định số 78/2023/NĐ-CP đạt khoảng 8.895 tỷ đồng, qua đó đưa tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 7,7% so với cuối năm 2024, cơ bản hoàn thành kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ giao. Qua đó, tạo nền tảng để VDB tiếp tục phục hồi và mở rộng hoạt động tín dụng trong giai đoạn cơ cấu lại 2023-2027.

Tuy nhiên, VDB vẫn đối mặt với nhiều khó khăn. Quy mô tín dụng giảm khi dư nợ từ khoảng 305.000 tỷ đồng năm 2016 giảm xuống 217.000 tỷ đồng năm 2021 và còn khoảng 161.000 tỷ đồng đến ngày 30/6/2025. Nợ xấu vẫn ở mức cao, xử lý khó khăn; hiệu quả một số dự án chưa tương xứng. Bên cạnh đó, hạn chế về tổ chức bộ máy, nhân lực và cơ chế quản trị rủi ro vẫn là điểm nghẽn. Những vấn đề này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục cơ cấu lại toàn diện VDB theo hướng hiện đại, nâng cao năng lực tài chính và quản trị rủi ro, qua đó phát huy hiệu quả vai trò là công cụ tài chính của Nhà nước trong đầu tư phát triển và bảo đảm an sinh xã hội.

Thực hiện chính sách xã hội: Quy mô và phạm vi hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (VBSP) tăng trưởng mạnh và ổn định. Đến 31/7/2025, tổng nguồn vốn đạt khoảng 414 nghìn tỷ đồng, gấp 58,3 lần so với năm 2002; tổng dư nợ đạt 394 nghìn tỷ đồng, gấp 56,08 lần, với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 20%/năm. Lũy kế, gần 49 triệu lượt hộ nghèo và đối tượng chính sách được tiếp cận vốn vay ưu đãi.

Tín dụng chính sách đã góp phần rõ nét vào giảm nghèo bền vững, với hơn 7 triệu lượt hộ thoát nghèo giai đoạn 2002-2024; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 14,2% (2010) xuống còn 4,06% (2024) theo chuẩn đa chiều. Đồng thời, VBSP xây dựng được mạng lưới rộng khắp toàn quốc, với 100% tỉnh, huyện có tổ chức hoạt động; gần 11.000 điểm giao dịch tại xã và khoảng 170.000 tổ tiết kiệm và vay vốn, giúp đưa tín dụng đến tận thôn, bản. Mô hình ủy thác qua các tổ chức chính trị - xã hội và sự tham gia của chính quyền địa phương đã tạo nên cơ chế vận hành hiệu quả, tiết kiệm chi phí và phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị. Chất lượng tín dụng được kiểm soát tốt, tỷ lệ nợ quá hạn duy trì ở mức rất thấp; đồng thời VBSP từng bước ứng dụng công nghệ (SMS Banking từ 2018, SmartBanking từ 2021) phù hợp với đối tượng khách hàng đặc thù.

Tuy nhiên, hoạt động của VBSP vẫn còn một số hạn chế. Nguồn vốn còn hạn chế và chưa bền vững, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tế; cơ cấu vốn chưa hợp lý khi nguồn huy động thị trường (chủ yếu tiền gửi 2% từ các TCTD nhà nước) chiếm khoảng 65,5%, trong khi vốn dài hạn còn hạn chế (chỉ 41,8% trên 5 năm) trong khi dư nợ trung, dài hạn chiếm tới 99,4%. Cơ chế phát hành trái phiếu bị khống chế theo nghĩa vụ trả nợ, hạn chế khả năng huy động vốn dài hạn. Chính sách tín dụng dù đã bao phủ rộng nhưng chưa toàn diện, còn thiếu các chương trình cho nhóm hộ có mức sống trung bình khu vực nông thôn; hiệu quả giảm nghèo ở một số nơi chưa bền vững, còn tình trạng tái nghèo. Việc kết nối tín dụng với các chính sách hỗ trợ kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm chưa chặt chẽ, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn. Bên cạnh đó, VBSP còn gặp khó khăn trong chuyển đổi số và phát triển sản phẩm mới, do đặc thù khách hàng; hoạt động phụ thuộc vào ngân sách nhà nước để cấp bù lãi suất; đồng thời chịu rủi ro lớn từ thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí hậu.

Hạn chế và nguyên nhân

Mặc dù giữ vai trò chi phối trong hệ thống tài chính và có đóng góp quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động của các TCTD nhà nước vẫn bộc lộ một số hạn chế mang tính cấu trúc.

Thứ nhất, hiệu quả phân bổ và sử dụng vốn chưa tương xứng với quy mô nguồn lực nắm giữ. Dù chiếm tỷ trọng lớn về tín dụng trong nền kinh tế, nhưng các chỉ tiêu sinh lời như ROA, ROE của nhóm NHTM nhà nước nhìn chung thấp hơn khu vực NHTM cổ phần. Điều này phản ánh tình trạng tăng trưởng tín dụng chưa gắn chặt với chất lượng tín dụng, cũng như hiệu quả đầu tư của các dự án sử dụng vốn vay còn hạn chế.

Thứ hai, chất lượng tài sản và rủi ro tín dụng chưa được phản ánh đầy đủ. Theo quy định của Luật Các TCTD, các ngân hàng phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) ở mức 8%. Tuy nhiên, theo Chiến lược phát triển ngành ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và Đề án cơ cấu lại các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021- 2025, mục tiêu đặt ra đối với các NHTM là đạt tỷ lệ CAR khoảng 11-12%. Trên thực tế, mặc dù CAR của các NHTM nhà nước vẫn đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật, song vẫn ở mức thấp so với các NHTM cổ phần trong nước cũng như so với các ngân hàng trong khu vực. Điều này phần nào làm hạn chế khả năng mở rộng tín dụng, giảm dư địa tăng trưởng và ảnh hưởng đến vai trò chủ lực, dẫn dắt thị trường của các NHTM nhà nước.

Thứ ba, cơ chế quản lý và mô hình hoạt động đặc thù của các NHTM nhà nước cũng tạo ra một số ràng buộc nhất định đối với hiệu quả hoạt động. Với tư cách là doanh nghiệp có vốn Nhà nước chi phối, các ngân hàng này phải thực hiện đồng thời hai mục tiêu: vừa đảm bảo hiệu quả kinh doanh theo cơ chế thị trường, vừa thực hiện các nhiệm vụ chính sách nhằm hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển kinh tế - xã hội. Ngoài ra, nhiều quyết định quan trọng trong hoạt động của ngân hàng, như tăng vốn điều lệ, phân phối lợi nhuận hoặc điều chỉnh chiến lược kinh doanh, phải thông qua nhiều cấp phê duyệt, dẫn đến độ trễ trong quá trình ra quyết định và giảm tính linh hoạt so với các NHTM cổ phần.

Thứ tư, năng lực quản trị và mức độ hiện đại hóa hoạt động còn hạn chế. Một số TCTD chưa áp dụng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về quản trị rủi ro (Basel II/III), hệ thống thông tin quản lý còn phân tán, mức độ ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số chưa đồng đều. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động mà còn hạn chế khả năng thích ứng với các cú sốc tài chính.

Các hạn chế nêu trên không chỉ xuất phát từ yếu tố nội tại của từng TCTD mà chủ yếu bắt nguồn từ những nguyên nhân mang tính thể chế và cấu trúc của hệ thống tài chính.

Thứ nhất, cơ chế sở hữu nhà nước chi phối làm suy giảm động lực thị trường. Khi Nhà nước giữ vai trò cổ đông chi phối, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận thường không phải là ưu tiên duy nhất, mà bị chi phối bởi các mục tiêu chính sách. Điều này dẫn đến tình trạng “đa mục tiêu” trong hoạt động của TCTD, làm giảm tính rõ ràng trong đánh giá hiệu quả và trách nhiệm giải trình.

Thứ hai, chưa tách bạch rõ giữa tín dụng chính sách và tín dụng thương mại; việc NHTM nhà nước kiêm nhiệm nhiệm vụ chính sách dễ gây xung đột mục tiêu, giảm hiệu quả phân bổ vốn. Đồng thời, cơ chế bù đắp chi phí cho các nhiệm vụ chính sách chưa đầy đủ, chưa phản ánh đúng chi phí cơ hội của vốn.

Thứ ba, khung pháp lý và cơ chế giám sát chưa hoàn thiện. Các quy định liên quan đến xử lý nợ xấu, tái cơ cấu TCTD, cũng như cơ chế can thiệp sớm còn thiếu tính đồng bộ và hiệu lực thực thi chưa cao. Điều này làm hạn chế khả năng xử lý rủi ro một cách kịp thời và triệt để.

Thứ tư, cơ chế phân bổ vốn vẫn mang tính hành chính trong một số trường hợp. Việc định hướng tín dụng theo các mục tiêu ưu tiên, nếu không đi kèm với cơ chế đánh giá hiệu quả rõ ràng, có thể dẫn đến phân bổ vốn theo tín hiệu phi thị trường, làm giảm hiệu quả tổng thể của nền kinh tế.

Thứ năm, hệ thống khuyến khích và kỷ luật chưa gắn chặt với hiệu quả thực chất. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động của TCTD nhà nước còn nặng về quy mô (tăng trưởng tín dụng, tổng tài sản) hơn là chất lượng (hiệu quả sử dụng vốn, rủi ro điều chỉnh). Điều này có thể tạo ra động lực mở rộng quy mô thay vì nâng cao hiệu quả.

GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG NHÀ NƯỚC

Trong bối cảnh yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và phát huy vai trò của khu vực KTNN trong giai đoạn phát triển mới, việc đổi mới hoạt động của các TCTD nhà nước ngày càng trở nên cấp thiết.

Đây không chỉ là yêu cầu nội tại của hệ thống ngân hàng mà còn gắn với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, dẫn dắt dòng vốn và hỗ trợ các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.

Thứ nhất, nâng cao năng lực quản trị, quản lý rủi ro và đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện.

Các TCTD nhà nước cần áp dụng các chuẩn mực quản trị hiện đại theo thông lệ quốc tế, nâng cao năng lực thẩm định, giám sát và quản lý rủi ro, đặc biệt đối với các khoản tín dụng trung và dài hạn. Đồng thời, cần bảo đảm minh bạch thông tin, tăng cường trách nhiệm giải trình và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ.

Để triển khai hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý ngân hàng theo chuẩn mực quốc tế, làm nền tảng cho quản trị hiện đại và an toàn hệ thống. Đồng thời, các TCTD nhà nước cần đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, tập trung số hóa dịch vụ, dữ liệu, quản lý vốn theo thời gian thực và phát triển hệ thống ngân hàng lõi hiện đại, kết nối liên thông. Việc mở rộng dịch vụ ngân hàng số trên toàn quốc không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động mà còn thúc đẩy tài chính toàn diện..

Thứ hai, tăng cường năng lực tài chính và sắp xếp, cơ cấu lại tổ chức, mạng lưới hoạt động theo hướng tinh gọn, hiệu quả.

Một trong những yêu cầu trọng tâm là tiếp tục tăng vốn điều lệ cho các NHTM nhà nước thông qua các nguồn hợp pháp như lợi nhuận để lại, cổ tức, phát hành cổ phiếu và ngân sách nhà nước, nhằm nâng cao năng lực tài chính, bảo đảm các tỷ lệ an toàn vốn và tăng khả năng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế.

Đồng thời, cần rà soát, sắp xếp tổ chức và mạng lưới theo hướng tinh gọn, giảm trùng lặp, nâng cao hiệu quả quản trị; hoàn thiện đồng bộ khung pháp lý phù hợp thực tiễn. Các TCTD nhà nước cũng cần cơ cấu lại danh mục đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và từng bước thoái vốn khỏi lĩnh vực không cần nắm giữ để nâng cao hiệu quả hoạt động và vai trò dẫn dắt.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với các TCTD chính sách nhà nước, gắn hoạt động tín dụng với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

Đối với VBSP, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng đa dạng hóa nguồn lực, tăng cường vốn ngân sách nhà nước, đồng thời nghiên cứu các giải pháp huy động nguồn lực từ các TCTD, doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.

Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách tín dụng ưu đãi để phục vụ hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Đối với VDB, cần tiếp tục cơ cấu lại toàn diện và đề xuất mô hình hoạt động phù hợp sau giai đoạn cơ cấu lại đến năm 2027. Tín dụng cần tập trung vào hạ tầng trọng điểm, ngành then chốt và địa bàn chiến lược để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển vùng.

Đồng thời, cần thiết lập cơ chế giao nhiệm vụ chính sách cho các TCTD nhà nước theo nguyên tắc bù đắp chi phí hợp lý, bảo đảm vừa thực hiện mục tiêu chính sách, vừa duy trì năng lực tài chính và cạnh tranh. Tín dụng nhà nước cần gắn với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và phát triển chuỗi giá trị để nâng cao hiệu quả và tính bền vững.

Bên cạnh các giải pháp nêu trên, cần đặc biệt chú trọng cải cách cơ chế sở hữu nhà nước theo hướng tách bạch rõ chức năng đại diện chủ sở hữu và chức năng quản lý nhà nước, qua đó giảm thiểu xung đột mục tiêu và nâng cao tính minh bạch trong hoạt động của các TCTD nhà nước. Đồng thời, cần đổi mới hệ thống chỉ tiêu đánh giá theo hướng chuyển từ chú trọng quy mô sang hiệu quả thực chất, gắn với các tiêu chí điều chỉnh rủi ro và hiệu quả sử dụng vốn. Trên cơ sở đó, tăng cường trao quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh cho các TCTD, đi đôi với cơ chế kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình rõ ràng, nhằm nâng cao kỷ luật thị trường và hiệu quả hoạt động.

Tài liệu tham khảo:

  1. Ban cán sự Đảng Ngân hàng Nhà nước (2023). Báo cáo số 105-BC/BCSĐ về đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XII.
  2. Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển KTNN.
  3. Chính phủ (2026). Nghị quyết số 29/NQ-CP về ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển KTNN.
  4. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2024). VBSP với chiến lược phát triển đến năm 2030: Điểm tựa an sinh, động lực phát triển bền vững. Tạp chí Ngân hàng. https://tapchinganhang.gov.vn/ngan-hang-chinh-sach-xa-hoi-voi-chien-luoc-phat-trien-den-nam-2030-diem-tua-an-sinh-dong-luc-phat-trien-ben-vung-16653.html.
  5. VDP(2026a). Hành trình 20 năm - từ sứ mệnh chính sách đến khát vọng nâng tầm. https://vdb.gov.vn/tin-tuc/18479/ hanh-trinh-20-nam---tu-su-menh-chinh-sach-den-khat-vong-nang-tam--mdt-bc-38-.aspx.
  6. VDP(2026b). VDB: Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026. https://vdb.gov.vn/tin-tuc/18262/ vdb-hoi-nghi-tong-ket-cong-tac-nam-2025--trien-khai-nhiem-vu-nam-2026.aspx.
Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in Kỳ 1 - Tháng 4/2026

Tin tức khác

Sửa Luật Đo lường: Cắt giảm thủ tục, hậu kiểm theo mức độ rủi ro

Sửa Luật Đo lường: Cắt giảm thủ tục, hậu kiểm theo mức độ rủi ro

Dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường đề xuất cắt giảm thủ tục, tăng cường hậu kiểm theo mức độ rủi ro.
TP. Hồ Chí Minh mở quỹ đất 53 ha đón nhà đầu tư công nghệ

TP. Hồ Chí Minh mở quỹ đất 53 ha đón nhà đầu tư công nghệ

TP. Hồ Chí Minh dành quỹ đất 52,92 ha để hình thành Trung tâm Phát triển Công nghệ Chiến lược, hướng đến thu hút các tập đoàn công nghệ toàn cầu.
Đầu tư công nghệ HVAC để tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải

Đầu tư công nghệ HVAC để tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải

Công nghệ điều hòa không khí, làm lạnh và thông tại các công trình đang được định hướng nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, giảm phát thải và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
Chuyển đổi số logistics: Điểm nghẽn từ những giao dịch chưa đồng bộ

Chuyển đổi số logistics: Điểm nghẽn từ những giao dịch chưa đồng bộ

Chuyển đổi số logistics đang diễn ra mạnh mẽ, song giao dịch giữa các doanh nghiệp vẫn thiếu đồng bộ, đặt ra yêu cầu quản trị dữ liệu và chứng từ.
TP. Hồ Chí Minh thu hút dòng vốn Australia gắn với năng lực phát triển mới

TP. Hồ Chí Minh thu hút dòng vốn Australia gắn với năng lực phát triển mới

TP. Hồ Chí Minh xác định hợp tác với Australia không chỉ hướng tới gia tăng dòng vốn đầu tư, mà quan trọng hơn là thu hút công nghệ, năng lực quản trị, nguồn nhân lực.
Đại hội VII Liên minh Hợp tác xã Việt Nam: Khơi dậy sức mạnh hợp tác, mở lối phát triển mới

Đại hội VII Liên minh Hợp tác xã Việt Nam: Khơi dậy sức mạnh hợp tác, mở lối phát triển mới

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Liên minh Hợp tác xã (HTX) Việt Nam mở ra nhiệm kỳ mới với yêu cầu đổi mới tư duy, nâng cao giá trị, tăng cường liên kết và phát triển bền vững.
Để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh

Để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh

Chính phủ yêu cầu đột phá phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và các ngành kinh tế biển mới.
Kiểm soát chuỗi cung ứng, mở rộng thị trường thực phẩm an toàn

Kiểm soát chuỗi cung ứng, mở rộng thị trường thực phẩm an toàn

Mỗi mắt xích đều có thể phát sinh rủi ro an toàn thực phẩm. Vì vậy, kiểm soát một suất ăn an toàn cần được thực hiện xuyên suốt chuỗi cung ứng.
Xem thêm
podcast bo tai chinh ban hanh ke hoach thuc hien nghi quyet 19 ve doi moi mo hinh phat trien

PODCAST: Bộ Tài chính ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 19 về đổi mới mô hình phát triển

Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 2347/QĐ-BTC triển khai Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 217 của Chính phủ và Nghị quyết 19 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. ------------------------------------------------------------------------------------------ Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline
podcast ky hop khong thuong le thu nhat khoi thong nguon luc tao dong luc tang truong

PODCAST: Kỳ họp không thường lệ thứ nhất: Khơi thông nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng

Sau 17 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, dân chủ và trách nhiệm, chiều ngày 24/8/2026, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã hoàn thành toàn bộ chương trình đề ra. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
podcast giam 30 thue them nguon luc cho ho kinh doanh doanh nghiep nho

PODCAST: Giảm 30% thuế: Thêm nguồn lực cho hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ

Chiều ngày 24/8, Quốc hội thông qua nghị quyết giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ tính thuế năm 2026 và 2027 đối với cá nhân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp có doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
podcast giam thue cho nguoi dan doanh nghiep vi sao chon muc doanh thu 10 ty dong

PODCAST: Giảm thuế cho người dân, doanh nghiệp: vì sao chọn mức doanh thu 10 tỷ đồng?

Các đề xuất trong dự án Nghị quyết của Quốc hội về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp đang nhận được nhiều sự quan tâm của dư luận. Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đã có phần giải trình, làm rõ hơn những vấn đề nói trên khi Quốc hội thảo luận tại hội trường về đề xuất giảm thuế. --------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline
video dong hanh cung doanh nghiep dap ung chuan muc moi cua thuc pham xuat khau sang eu

VIDEO: Đồng hành cùng doanh nghiệp đáp ứng chuẩn mực mới của thực phẩm xuất khẩu sang EU

Thị trường Liên minh châu Âu (EU) vốn nổi tiếng với những tiêu chuẩn quản lý chất lượng khắt khe hàng đầu thế giới. Nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp nông sản, thực phẩm Việt Nam nâng cao tính chủ động và giữ vững uy tín thương hiệu trên thị trường quốc tế, Cục Hải quan vừa ban hành Công văn số 20392/CHQ-GSQL ngày 14/8/2026, tăng cường phối hợp thông tin và hướng dẫn các quy định kỹ thuật xuất khẩu. ------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: / www.financeplus.vn TikTok: / tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: / @kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
Sửa Luật Đo lường: Cắt giảm thủ tục, hậu kiểm theo mức độ rủi ro

Sửa Luật Đo lường: Cắt giảm thủ tục, hậu kiểm theo mức độ rủi ro

Dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường đề xuất cắt giảm thủ tục, tăng cường hậu kiểm theo mức độ rủi ro.
Sửa 4 luật về thương mại: Kiểm soát độc quyền, theo kịp kinh tế số

Sửa 4 luật về thương mại: Kiểm soát độc quyền, theo kịp kinh tế số

Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu tiếp tục hoàn thiện dự án sửa đổi 4 luật về thương mại, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, kiểm soát độc quyền và theo kịp yêu cầu của kinh tế số.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn gửi thư chúc mừng nhân kỷ niệm 81 năm Ngày Truyền thống ngành Tài chính Việt Nam

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn gửi thư chúc mừng nhân kỷ niệm 81 năm Ngày Truyền thống ngành Tài chính Việt Nam

Đồng chí Ngô Văn Tuấn, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, gửi thư chúc mừng kỷ niệm 81 năm Ngày Truyền thống ngành Tài chính Việt Nam (28/8/1945-28/8/2026).
Chính phủ thống nhất trình bổ sung Dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi) vào Chương trình lập pháp năm 2026

Chính phủ thống nhất trình bổ sung Dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi) vào Chương trình lập pháp năm 2026

Xem xét bổ sung dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi) vào Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội khóa XVI.
Bảy nhóm chính sách vượt trội của Luật Phát triển đô thị áp dụng ở TP. Hồ Chí Minh

Bảy nhóm chính sách vượt trội của Luật Phát triển đô thị áp dụng ở TP. Hồ Chí Minh

Luật Phát triển đô thị vừa được Quốc hội thông qua với 7 nhóm cơ chế đặc thù, vượt trội, mở thêm dư địa để TP. Hồ Chí Minh phát triển.
Xây dựng ngành Tài chính liêm chính, minh bạch

Xây dựng ngành Tài chính liêm chính, minh bạch

Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ Tài chính triển khai thực hiện Nghị quyết 04-NQ/TW xác định xây dựng văn hóa liêm chính, hoàn thiện thể chế.
EMAGAZINE: Hà Nội tạo bước đột phá trong đổi mới tư duy chiến lược và phương thức lãnh đạo, hướng tới chặng đường phát triển mới

EMAGAZINE: Hà Nội tạo bước đột phá trong đổi mới tư duy chiến lược và phương thức lãnh đạo, hướng tới chặng đường phát triển mới

Hà Nội đang từng bước khẳng định vai trò tiên phong trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, với dấu ấn nổi bật là lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện có trọng tâm, trọng điểm, không né tránh.
Doanh nghiệp vui mừng khi được giảm 30% thuế thu nhập trong năm 2026 và 2027

Doanh nghiệp vui mừng khi được giảm 30% thuế thu nhập trong năm 2026 và 2027

Quốc hội quyết nghị giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ tính thuế năm 2026 và 2027 được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá là chính sách thiết thực, kịp thời.
INFOGRAPHIC: Chi tiết mức giảm 30% thuế thu nhập cho cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp

INFOGRAPHIC: Chi tiết mức giảm 30% thuế thu nhập cho cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp

Chiều nay 24/8, Quốc hội đã chính thức thông qua Nghị quyết về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027.
Sửa Luật Đo lường: Cắt giảm thủ tục, hậu kiểm theo mức độ rủi ro

Sửa Luật Đo lường: Cắt giảm thủ tục, hậu kiểm theo mức độ rủi ro

Dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường đề xuất cắt giảm thủ tục, tăng cường hậu kiểm theo mức độ rủi ro.
TP. Hồ Chí Minh mở quỹ đất 53 ha đón nhà đầu tư công nghệ

TP. Hồ Chí Minh mở quỹ đất 53 ha đón nhà đầu tư công nghệ

TP. Hồ Chí Minh dành quỹ đất 52,92 ha để hình thành Trung tâm Phát triển Công nghệ Chiến lược, hướng đến thu hút các tập đoàn công nghệ toàn cầu.
Đầu tư công nghệ HVAC để tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải

Đầu tư công nghệ HVAC để tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải

Công nghệ điều hòa không khí, làm lạnh và thông tại các công trình đang được định hướng nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, giảm phát thải và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
Chuyển đổi số logistics: Điểm nghẽn từ những giao dịch chưa đồng bộ

Chuyển đổi số logistics: Điểm nghẽn từ những giao dịch chưa đồng bộ

Chuyển đổi số logistics đang diễn ra mạnh mẽ, song giao dịch giữa các doanh nghiệp vẫn thiếu đồng bộ, đặt ra yêu cầu quản trị dữ liệu và chứng từ.
TP. Hồ Chí Minh thu hút dòng vốn Australia gắn với năng lực phát triển mới

TP. Hồ Chí Minh thu hút dòng vốn Australia gắn với năng lực phát triển mới

TP. Hồ Chí Minh xác định hợp tác với Australia không chỉ hướng tới gia tăng dòng vốn đầu tư, mà quan trọng hơn là thu hút công nghệ, năng lực quản trị, nguồn nhân lực.
Đại hội VII Liên minh Hợp tác xã Việt Nam: Khơi dậy sức mạnh hợp tác, mở lối phát triển mới

Đại hội VII Liên minh Hợp tác xã Việt Nam: Khơi dậy sức mạnh hợp tác, mở lối phát triển mới

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Liên minh Hợp tác xã (HTX) Việt Nam mở ra nhiệm kỳ mới với yêu cầu đổi mới tư duy, nâng cao giá trị, tăng cường liên kết và phát triển bền vững.
Để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh

Để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh

Chính phủ yêu cầu đột phá phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và các ngành kinh tế biển mới.
Kiểm soát chuỗi cung ứng, mở rộng thị trường thực phẩm an toàn

Kiểm soát chuỗi cung ứng, mở rộng thị trường thực phẩm an toàn

Mỗi mắt xích đều có thể phát sinh rủi ro an toàn thực phẩm. Vì vậy, kiểm soát một suất ăn an toàn cần được thực hiện xuyên suốt chuỗi cung ứng.
Triển khai thí điểm Trung tâm Outlet tại TP. Hồ Chí Minh

Triển khai thí điểm Trung tâm Outlet tại TP. Hồ Chí Minh

Với quy mô thị trường lớn, TP. Hồ Chí Minh được xác định là một trong những địa phương đi đầu nghiên cứu, thí điểm phát triển mô hình outlet tại Việt Nam.