Di sản văn hóa Việt Nam: Khơi dậy sức sống, tạo động lực phát triển bền vững
![]() |
| Di sản văn hóa Việt Nam là kết tinh lịch sử, trí tuệ và tâm hồn dân tộc. |
Di sản văn hóa khẳng định sức sống trong đời sống đương đại
Trong dòng chảy lịch sử dân tộc, di sản văn hóa Việt Nam không chỉ là những dấu tích của quá khứ được lưu giữ trong bảo tàng, đình, đền hay trang sách cổ. Đó còn là hệ thống giá trị sống động, liên tục được trao truyền, thực hành và bồi đắp trong đời sống xã hội thông qua những làn điệu dân ca, lễ hội truyền thống đến kiến trúc, ẩm thực, phong tục, tập quán và tri thức dân gian. Từ các loại hình di sản này đã góp phần tạo nên bản sắc riêng, phản ánh sức sáng tạo và khả năng thích ứng của dân tộc qua nhiều thế hệ.
Di sản văn hóa Việt Nam bao gồm di sản vật thể và phi vật thể, mang giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học và thẩm mỹ. Các công trình kiến trúc, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh lưu giữ dấu ấn của những thời kỳ phát triển, trong khi tiếng nói, chữ viết, nghệ thuật trình diễn, lễ hội và tri thức dân gian thể hiện chiều sâu đời sống tinh thần của cộng đồng. Cả hai gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau, tạo nên sự thống nhất trong sự đa dạng văn hoá của dân tộc.
Những di sản như Hoàng thành Thăng Long, Quần thể di tích Cố đô Huế, Phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn phản ánh trình độ kiến trúc, tư duy thẩm mỹ và tổ chức xã hội của các thời kỳ lịch sử đồng thời trong đó còn chứa đựng những giá trị về tín ngưỡng, giao lưu văn hóa và bản sắc địa phương. Trong khi đó, Nhã nhạc cung đình Huế, Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Ca trù, Đờn ca tài tử Nam Bộ hay Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là những minh chứng cho sức sáng tạo bền bỉ của cộng đồng và được duy trì qua thực hành và truyền dạy.
Những giá trị cốt lõi của di sản không chỉ nằm ở tuổi đời, tính độc đáo còn ở những chuẩn mực nhân văn, tinh thần yêu nước, ý thức cộng đồng và sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên. Ngày nay, qua những biến động lịch sử, các giá trị trở thành sợi dây liên kết tinh thần, góp phần duy trì bản sắc và củng cố sức mạnh cộng đồng.
Trong đời sống hiện nay, lễ hội truyền thống, nghi thức tín ngưỡng và phong tục tập quán tiếp tục được duy trì và phát huy giá trị để cộng đồng tưởng nhớ tổ tiên, tái hiện lịch sử và trao truyền giá trị. Ngày nay, Tết Nguyên đán, Giỗ Tổ Hùng Vương, lễ hội làng cùng các nghi lễ nông nghiệp không chỉ mang giá trị truyền thống còn góp phần gắn kết các thế hệ trao truyền các giá trị văn hoá dân tộc. Cũng như vậy, ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích và nghệ thuật dân gian không chỉ lưu giữ kinh nghiệm sống, tri thức bản địa còn là những bài học về đạo đức và cách ứng xử trao truyền cho giá trị cho thế hệ hôm nay..
Cùng với dòng chày thời gian, sức sống của di sản không đồng nghĩa với việc giữ nguyên mọi hình thức thực hành trong quá khứ. Quá trình đô thị hóa, biến đổi sinh kế, sự thay đổi trong thị hiếu và tác động của công nghệ đang đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức bảo tồn.
Vì vậy, để bảo tồn và phát triển giá trị di sản trong dòng chảy thời gian, di sản cần vượt ra ngoài việc lưu giữ hiện vật hay tu bổ công trình để bước vào gần hơn với đời sống hơi thở hiện đại. Trong đó công nghiệp văn hoá và chuyển đổi số đang tạo ra những góc nhìn mới, giá trị mới từ nền tảng di sản văn hoá. Ở đó giá trị di sản văn hoá không chỉ là gìn giữ và trao truyền đó còn là nguồn lực phát triển kinh tế, sức mạnh mềm đóng góp vào phát triển đất nước.
Trong sự chuyển hoá này điều quan trọng là bảo vệ môi trường văn hóa, duy trì thực hành truyền thống, hỗ trợ nghệ nhân và tạo điều kiện để thế hệ trẻ tiếp cận, hiểu và chủ động tiếp nối các giá trị di sản. Khi đó di sản hiện diện tự nhiên trong đời sống, được cộng đồng thực hành và trao truyền và khi đó giá trị văn hóa mới có thể được gìn giữ lâu dài.
Nghị quyết 80-NQ/TW mở hướng phát huy di sản thành nguồn lực phát triển
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt ra yêu cầu nhận thức đầy đủ vai trò của văn hóa và con người như nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước. Theo định hướng này, di sản không chỉ là đối tượng cần bảo vệ mà còn là nguồn lực có khả năng đóng góp vào phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao chất lượng đời sống và gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.
![]() |
| Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định di sản là nguồn lực có khả năng đóng góp vào phát triển kinh tế, xã hộivà gia tăng sức mạnh mềm quốc gia. |
Tinh thần đặt ra là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, truyền thống và hiện đại. Di sản cần được gìn giữ trên cơ sở tôn trọng giá trị cốt lõi, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận, sáng tạo và ứng dụng trong bối cảnh mới. Đây cũng là cơ sở để các địa phương chuyển từ cách tiếp cận thiên về bảo vệ đơn thuần sang quản lý tổng thể, trong đó bảo tồn giá trị văn hóa gắn với quy hoạch, sinh kế và chất lượng sống của cộng đồng.
Thực tế cho thấy, nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống đang được giới thiệu qua các hình thức biểu diễn mới, nền tảng số và hoạt động giao lưu sáng tạo, qua đó tiếp cận thêm công chúng trẻ. Ẩm thực truyền thống trở thành một phần của sản phẩm du lịch, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước. Các không gian di sản, làng nghề và đô thị cổ cũng có thể tạo sinh kế thông qua du lịch văn hóa, dịch vụ trải nghiệm và sản phẩm thủ công đặc trưng.
Cùng với phát triển sản phẩm văn hóa, công tác quy hoạch phù hợp, bảo vệ môi trường, kiểm soát tác động và bảo đảm lợi ích chính đáng của cộng đồng địa phương cũng được thực hiện. Nguồn lực tài chính là điều kiện quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu bảo tồn và phát huy di sản. Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt ra định hướng bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn. Định hướng này tạo cơ sở để nâng cao năng lực bảo tồn, tu bổ di tích, phục hồi di sản phi vật thể có nguy cơ mai một, đào tạo nhân lực và đầu tư hạ tầng văn hóa.
Để nguồn lực phát huy hiệu quả, cần ưu tiên những di sản có nguy cơ xuống cấp, mai một; nâng cao chất lượng quản lý và năng lực chuyên môn; đồng thời xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ quan nhà nước, nhà nghiên cứu, nghệ nhân, doanh nghiệp và cộng đồng. Đầu tư cho di sản không chỉ là kinh phí tu bổ mà còn bao gồm nguồn lực dành cho truyền dạy, sáng tạo, quảng bá và xây dựng mô hình sinh kế gắn với văn hóa.
Chuyển đổi số cũng mở ra hướng đi mới. Số hóa tư liệu, hiện vật, kiến trúc và tri thức di sản giúp mở rộng khả năng lưu trữ, nghiên cứu, giáo dục và quảng bá. Nghị quyết đặt mục tiêu phấn đấu hoàn thành số hóa 100% di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026. Tuy nhiên, công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi dữ liệu được chuẩn hóa, cập nhật và sử dụng hiệu quả, hỗ trợ trực tiếp cho công tác bảo tồn cũng như tạo điều kiện để công chúng tiếp cận di sản.
Cùng với tài chính và công nghệ, con người vẫn là yếu tố quyết định sức sống của di sản. Giáo dục di sản trong trường học, hoạt động trải nghiệm văn hóa và chính sách hỗ trợ nghệ nhân sẽ góp phần hình thành ý thức gìn giữ bản sắc trong thế hệ trẻ. Khi cộng đồng được tham gia vào quá trình ra quyết định, được bảo vệ quyền lợi và hưởng lợi chính đáng từ hoạt động phát huy di sản, trách nhiệm bảo tồn sẽ trở thành nhu cầu thay vì chỉ là nhiệm vụ của cơ quan quản lý.
Di sản văn hóa Việt Nam là kết tinh của lịch sử, trí tuệ và tâm hồn dân tộc, đồng thời là nguồn lực nội sinh cần được khơi dậy trong quá trình phát triển đất nước. Thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa hoàn thiện thể chế, đầu tư nguồn lực, ứng dụng công nghệ và phát huy vai trò chủ thể của nhân dân. Từ đó khơi dậy sức sống di sản, gắn bảo tồn với sáng tạo và phát triển bền vững đưa giá trị văn hóa Việt Nam tiếp tục lan tỏa, đóng góp vào sự phát triển của đất nước.
Tin tức khác
Đồng Tháp hoàn thành lấy mẫu sinh phẩm hài cốt liệt sĩ trước thời hạn 6 tháng
Du lịch Khánh Hòa bứt phá từ liên kết vùng, hướng tới phát triển bền vững
Hợp tác quốc tế mở ra cơ hội đổi mới giáo dục, giảng dạy ngoại ngữ
Nâng cao chất lượng công tác thống kê trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
Xuất cấp bổ sung hơn 450 tấn gạo hỗ trợ học sinh tỉnh Quảng Ngãi
Kết nối 3 bên, tạo nhịp cầu chiến lược giữa đào tạo và thị trường lao động
Du lịch Việt Nam: Tháo gỡ điểm nghẽn, tạo đột phá để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
VIDEO: Thu ngân sách gần 400.000 tỷ đồng: Ngành Hải quan tăng tốc số hóa cho chặng nước rút 2026
Bảo đảm nguồn vật liệu xây dựng cho các công trình trọng điểm quốc gia
AEF 2026: Thủ tướng Lê Minh Hưng đối thoại cấp cao về vị thế Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu
Tọa đàm "Phát triển kinh tế bạc - Kiến tạo trụ cột an sinh bền vững” sẽ diễn ra vào 29/10
Việt Nam - Ba Lan: Hiện thực hóa quan hệ Đối tác chiến lược bằng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn sẽ trả lời chất vấn trước Quốc hội
Bài 1: Tăng trưởng thực chất - Sức bật phía sau những con số ấn tượng
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Bỏ giấy phép nhưng không được bỏ trống trách nhiệm quản lý
Tổ chức, cá nhân kinh doanh phải chủ động hoàn tiền thu thừa do đo lường sai
Ngăn tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi” trong kiểm định đo lường
Kinh tế bạc trong quy hoạch tổng thể TP. Hồ Chí Minh, tầm nhìn 100 năm
Bài 2: Ổn định vĩ mô - Giữ nhịp tăng trưởng trước sức ép lạm phát
Bài 2: Phát triển “kinh tế bạc” thúc đẩy tăng trưởng cao
Để tăng trưởng 2 con số, cần chuyển hóa các nguồn lực thành giá trị gia tăng thực chất cho nền kinh tế
Khai phá “mỏ vàng” 10 tỷ USD của kinh tế tầm thấp Việt Nam
Việt Nam có nhiều lợi thế nâng vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu
Dự án điện Việt Nam - Malaysia - Singapore có bước tiến mới
Bài 1: Khai mở không gian tăng trưởng 2 con số










