Ẩm thực Việt Nam từ giá trị văn hóa đến sức mạnh mềm quốc gia
![]() |
| Ẩm thực Việt Nam từ giá trị văn hóa đến sức mạnh mềm quốc gia. (Ảnh có sự hỗ trợ của AI) |
Dư địa khai thác ẩm thực văn hóa mở rộng
Những chuyển động mới trên thị trường du lịch quốc tế cho thấy xu hướng đáng chú ý khi du khách không chỉ tìm kiếm một điểm đến để tham quan mà còn lựa chọn nơi mình muốn đến thông qua tìm kiếm những trải nghiệm văn hóa, trong đó ẩm thực đang tạo ra giá trị đặc biệt thu hút lượng khách du lịch quốc tế.
Theo Trip.com Group trong 8 tháng đầu năm 2026, lượng tìm kiếm liên quan đến ẩm thực trên nền tảng này tăng 45% so với cùng kỳ năm trước, trong khi số lượng từ khóa tìm kiếm về ẩm thực tăng 46%. Việt Nam đứng thứ 4 trong nhóm các điểm đến ẩm thực được tìm kiếm nhiều nhất tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Đáng chú ý, sự quan tâm của du khách quốc tế tập trung tại những trung tâm du lịch lớn như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và TP. Đà Nẵng.
Điểm nhấn xu hướng không dừng ở việc tìm kiếm món ăn mà đã nâng tầm trải nghiệm văn hóa âm thực. Xu hướng này đang trở thành điểm khởi đầu của một chuỗi quyết định tiêu dùng rộng hơn của du khách. Vì thế việc tìm kiếm một món đặc sản, nhà hàng, quán cà phê hay trải nghiệm ẩm thực sẽ đưa du khách có xu hướng tiếp tục khám phá tìm kiếm về khách sạn, vé máy bay và các hoạt động khác có liên quan đến điểm đến.
Cũng theo Trip.com Group, việc tìm kiếm liên quan đến ẩm thực dẫn người dùng tới việc khám phá thêm các dịch vụ khác trên nền tảng chiếm khoảng 41% lượt tìm kiếm, con số này cao hơn đáng kể mức 28% của các nhóm tìm kiếm nói chung. Điều này cho thấy, giá trị của ẩm thực không chỉ là doanh thu ăn uống trực tiếp mà còn cho thấy khả năng kích hoạt cả hệ sinh thái du lịch.
Vì vậy, ẩm thực cần được nhìn nhận đầy đủ hơn trong quá trình phát triển kinh tế văn hóa. Theo đó, một món ăn đặc sản có thể tạo ra giá trị từ vùng nguyên liệu, sản xuất nông nghiệp, chế biến, vận chuyển, nhà hàng, lưu trú, bán lẻ đến các sản phẩm quà tặng. Khi ẩm thực được thiết kế thành trải nghiệm du lịch, món ăn còn có thể kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu của du khách.
Trong thực tế việc tìm kiếm của du khách đang phản ánh rõ xu hướng này. Theo Trip.com Group, trong 8 tháng năm 2026, lượng tìm kiếm về nhà hàng tăng 68%, buffet tăng 66% và các từ khóa về cà phê và trà tăng 67%. Đặc biệt, tìm kiếm về hải sản đã tăng tới 218%, trong khi các từ khóa liên quan đến đặc sản địa phương tăng hơn 700%. Đây là những con số phản ánh rõ nhu cầu thị trường đang dịch chuyển từ “ăn để đáp ứng nhu cầu” sang “ăn để trải nghiệm”.
Với Việt Nam, đây là cơ hội đặc biệt khi sở hữu ẩm thực phong phú. Mỗi vùng đất đều có một hệ thống nguyên liệu, phương thức chế biến, tập quán và câu chuyện văn hóa riêng. Khi được tổ chức bài bản, một món ăn có thể trở thành điểm nhấn để du khách tiếp cận một vùng văn hóa. Món Phở, bún chả, bánh mì và các món ăn miền biển, đặc sản vùng cao hay sản vật đồng bằng đều chưa đựng tiềm năng khai thác ẩm thực, qua đó kết nối du khách với con người, lịch sử, sinh kế và bản sắc của cộng đồng.
Đặc biệt, Nghị quyết số 80-NQ/TW ra đời đã tạo ra một nền tảng chính sách quan trọng. xác định rõ văn hóa là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh quan trọng và động lực cho phát triển. Nghị quyết số 80-NQ/TW cũng đặt ra yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và xây dựng các thương hiệu văn hóa Việt Nam có sức lan tỏa. Từ góc nhìn này, ẩm thực không chỉ được xem là một cấu phần của dịch vụ ăn uống, một sản phẩm phụ trợ cho du lịch mà còn là một bộ phận của kinh tế văn hóa, để những giá trị truyền thống được sáng tạo, tổ chức, thương mại hóa và đưa vào thị trường trong nước và quốc tế. Cách làm này đã cụ thể hóa quan điểm của Nghị quyết số 80-NQ/TW đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển. Ở đó giá trị của một món ăn không chỉ nằm ở nguyên liệu và kỹ thuật chế biến đó còn là câu chuyện, bản sắc, trải nghiệm và khả năng tạo ra một thương hiệu khác biệt.
Thực tế, phát triển của thị trường du lịch đang tạo điều kiện thuận lợi để quá trình này diễn ra mạnh hơn. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong 8 tháng năm 2026, Việt Nam đón 15,9 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này cho thấy lượng khách quốc tế rất lớn, đồng thời cho thấy một thị trường rộng mở để phát triển các sản phẩm văn hóa, trong đó có văn hóa ẩm thực.
Cùng với lượng khách quốc tế gia tăng kéo theo sức mua đối với các dịch vụ liên quan đến du lịch được cải thiện tích cực. Theo Cục Thống kê, 8 tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt khoảng 670,3 nghìn tỷ đồng, tăng 16,4% so với cùng kỳ; doanh thu du lịch lữ hành đạt 68,7 nghìn tỷ đồng, tăng 17,1%. Các mức tăng này cao hơn tốc độ tăng chung của tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng. Kết quả này cho thấy dư địa kinh tế của du lịch trải nghiệm đang ngày càng lớn. Trong hệ sinh thái này, ẩm thực có lợi thế khi vừa tạo doanh thu trực tiếp, vừa thúc đẩy các dịch vụ khác và đồng thời truyền tải bản sắc văn hóa đến khách quốc tế.
Không chỉ vậy, ẩm thực Việt Nam đang được mở rộng phân khúc từ bình dân sang cao cấp khi ngày càng nhiều nhà hàng Việt Nam xuất hiện trên các nền tảng đánh giá và xếp hạng quốc tế. Điều này cho thấy ẩm thực Việt có khả năng tạo ra sản phẩm ở nhiều cấp độ, từ món ăn đường phố đến trải nghiệm ẩm thực cao cấp (fine dining).
Sự chuyển dịch này cho thấy bước tiến có ý nghĩa về mặt thương hiệu. Khi một nền ẩm thực muốn trở thành thương hiệu quốc gia không thể chỉ dựa vào một vài món ăn nổi tiếng mà phải hình thành một hệ sinh thái có chất lượng ổn định. Ở đó mỗi sản phẩm có câu chuyện riêng, có tiêu chuẩn, có đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp và có khả năng tiếp cận thị trường toàn cầu.
Đưa ẩm thực Việt Nam trở thành giá trị kinh tế lớn hơn
Việt Nam với lợi thế lớn khi có sự đa dạng vùng miền tạo nên một “kho tài nguyên” ẩm thực phong phú. Giúp Việt Nam hoàn toàn có thể thực hiện điều này. Mỗi địa phương đều mang nét đặc sắc riêng về ẩm thực để có thể xây dựng những sản phẩm du lịch gắn với chợ truyền thống, làng nghề, vùng nguyên liệu, lễ hội, đặc sản và câu chuyện cộng đồng. Từ đó, các doanh nghiệp có thể phát triển thành các tour ẩm thực (food tour), tour khám phá chợ, lớp học nấu ăn, trải nghiệm nông nghiệp - ẩm thực, hành trình theo mùa vụ hoặc các lễ hội ẩm thực quốc tế. Đây là những sản phẩm không chỉ bán một món ăn còn được gia tăng giá trị bằng việc bán một trải nghiệm văn hóa hoàn chỉnh.
![]() |
| Để văn hóa Việt Nam trở thành sức mạnh mềm của quốc gia. (Ảnh có sự hỗ trợ của AI) |
Để biến các lợi thế thành giá trị kinh tế lớn hơn, ẩm thực Việt Nam cần thay đổi cách tiếp cận từ quảng bá từng món ăn sang xây dựng thương hiệu ẩm thực Việt Nam. Bên cạnh đó là chuẩn hóa chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm, nâng cao kỹ năng nhân lực, phát triển vùng nguyên liệu, xây dựng câu chuyện thương hiệu và tăng cường hiện diện trên các nền tảng quốc tế.
Đáng chú ý trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ mở ra không gian phát triển mới cho ẩm thực Việt Nam. Việc đưa công nghệ vào phát triển ẩm thực Việt Nam không làm làm mất đi bản sắc mà trở thành công cụ đưa bản sắc Việt Nam đến gần hơn với thị trường toàn cầu. Ở đó những câu chuyện về món ăn, đầu bếp, vùng nguyên liệu, làng nghề và văn hóa địa phương có thể được chuyển thành nội dung số, bản đồ ẩm thực, video trải nghiệm, nền tảng đặt dịch vụ và các sản phẩm du lịch cá nhân hóa.
Điểm nhấn quan trọng khác là giá trị ẩm thực có thể vượt ra ngoài phạm vi kinh tế. Khi một món ăn được quốc tế biết đến đồng nghĩa với việc một phần câu chuyện về đất nước và con người Việt Nam được lan tỏa. Hay một nhà hàng Việt được đánh giá cao có thể trở thành điểm tiếp xúc văn hóa. Không chỉ vậy việc tổ chức một lễ hội ẩm thực Việt Nam ở nước ngoài cũng có thể tạo thêm cơ hội giao lưu, kết nối và quảng bá hình ảnh quốc gia. Điều này cũng đã được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 80-NQ/TW, Theo đó, hội nhập quốc tế về văn hóa không chỉ nhằm đưa sản phẩm văn hóa Việt Nam ra thế giới mà còn góp phần nâng cao vị thế, uy tín và sức mạnh mềm của đất nước.
Do đó, phát triển ẩm thực cần được đặt trong chiến lược rộng hơn về công nghiệp văn hóa và thương hiệu quốc gia. Ở đó, Nhà nước đóng vai trò tạo dựng thể chế và môi trường thuận lợi; địa phương xây dựng không gian và sản phẩm; doanh nghiệp đầu tư, sáng tạo và thương mại hóa; còn người dân, nghệ nhân, đầu bếp và cộng đồng - những người trực tiếp sáng tạo, tạo ra sản phẩm chính là những chủ thể gìn giữ và làm mới giá trị văn hóa.
Làm tốt, giá trị kinh tế của ẩm thực sẽ không chỉ được tính bằng doanh thu nhà hàng. Giá trị đó còn nằm ở lượng khách được thu hút, thời gian lưu trú được kéo dài, mức chi tiêu được nâng lên, chuỗi sản xuất địa phương được mở rộng và thương hiệu Việt Nam được nhận diện sâu hơn trên thị trường quốc tế.
Có thể thấy, ẩm thực Việt Nam đang đứng trước cơ hội trở thành một nguồn lực quan trọng của kinh tế văn hóa và sức mạnh mềm quốc gia. Khi bản sắc được chuyển hóa thành sản phẩm có thương hiệu, có sức cạnh tranh và có khả năng lan tỏa toàn cầu, ẩm thực không chỉ tạo thêm giá trị kinh tế mà còn góp phần đưa hình ảnh, văn hóa và con người Việt Nam đến gần hơn với thế giới theo đúng tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW.
Tin tức khác
Năng lượng sạch - động lực cho tăng trưởng xanh trong kỷ nguyên mới
Kinh tế bạc trong quy hoạch tổng thể TP. Hồ Chí Minh, tầm nhìn 100 năm
Bài 2: Ổn định vĩ mô - Giữ nhịp tăng trưởng trước sức ép lạm phát
Bài 2: Phát triển “kinh tế bạc” thúc đẩy tăng trưởng cao
Để tăng trưởng 2 con số, cần chuyển hóa các nguồn lực thành giá trị gia tăng thực chất cho nền kinh tế
Khai phá “mỏ vàng” 10 tỷ USD của kinh tế tầm thấp Việt Nam
Việt Nam có nhiều lợi thế nâng vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
VIDEO: Thu ngân sách gần 400.000 tỷ đồng: Ngành Hải quan tăng tốc số hóa cho chặng nước rút 2026
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm, thúc đẩy hợp tác quốc tế
Sửa Luật Chứng khoán: Mở rộng cơ hội thu hút vốn ngoại, tạo thuận lợi thoái vốn nhà nước
Bảo đảm nguồn vật liệu xây dựng cho các công trình trọng điểm quốc gia
AEF 2026: Thủ tướng Lê Minh Hưng đối thoại cấp cao về vị thế Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu
Tọa đàm "Phát triển kinh tế bạc - Kiến tạo trụ cột an sinh bền vững” sẽ diễn ra vào 29/10
Việt Nam - Ba Lan: Hiện thực hóa quan hệ Đối tác chiến lược bằng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn sẽ trả lời chất vấn trước Quốc hội
Bài 1: Tăng trưởng thực chất - Sức bật phía sau những con số ấn tượng
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Bỏ giấy phép nhưng không được bỏ trống trách nhiệm quản lý
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm, thúc đẩy hợp tác quốc tế
Năng lượng sạch - động lực cho tăng trưởng xanh trong kỷ nguyên mới
Kinh tế bạc trong quy hoạch tổng thể TP. Hồ Chí Minh, tầm nhìn 100 năm
Bài 2: Ổn định vĩ mô - Giữ nhịp tăng trưởng trước sức ép lạm phát
Bài 2: Phát triển “kinh tế bạc” thúc đẩy tăng trưởng cao
Để tăng trưởng 2 con số, cần chuyển hóa các nguồn lực thành giá trị gia tăng thực chất cho nền kinh tế
Khai phá “mỏ vàng” 10 tỷ USD của kinh tế tầm thấp Việt Nam
Việt Nam có nhiều lợi thế nâng vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu











