Xuất khẩu tôm Việt Nam: Đổi mới để giữ vững vị thế, mở rộng thị trường
![]() |
| Doanh nghiệp xuất khẩu tôm đổi mới để giữ vững thị trường. (Ảnh minh hoạ có sự hỗ trợ của AI). |
Thị trường phân hóa, doanh nghiệp phải thay đổi cách tiếp cận
Xuất khẩu tôm tiếp tục là động lực quan trọng của ngành thủy sản Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường quốc tế biến động, tăng trưởng không còn đơn thuần phụ thuộc vào khả năng gia tăng sản lượng. Sự khác biệt về sức mua, cạnh tranh nguồn cung, thị hiếu tiêu dùng và yêu cầu chất lượng tại từng thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải linh hoạt hơn trong tổ chức sản xuất, phát triển sản phẩm và tiếp cận khách hàng.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tháng 8 năm 2026, xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt 1,08 tỷ USD, đưa tổng kim ngạch 8 tháng lên 7,94 tỷ USD, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước. Riêng xuất khẩu tôm đạt 485,5 triệu USD trong tháng 8, tăng 5,7%; lũy kế 8 tháng đạt 3,29 tỷ USD, tăng 12,3%, chiếm khoảng 41% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản. Kết quả này khẳng định vai trò chủ lực của mặt hàng tôm, đồng thời cho thấy yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng để duy trì đà xuất khẩu trong những tháng tiếp theo.
Tại Mỹ, một trong những thị trường quan trọng của tôm Việt Nam, nhu cầu nhập khẩu có dấu hiệu chững lại. Lượng tôm nhập khẩu của nước này giảm 11% trong quý I/2026 và giảm 2% trong quý II. Nếu xu hướng kéo dài, nhập khẩu cả năm có thể giảm 5–10%. Trong khi đó, cạnh tranh nguồn cung ngày càng gay gắt khi Ecuador được dự báo có thể xuất khẩu khoảng 270.000 tấn tôm sang Mỹ trong năm 2026, so với khoảng 230.000 tấn của Ấn Độ
Diễn biến này đặt ra yêu cầu doanh nghiệp Việt Nam vừa phải duy trì khả năng cạnh tranh về giá, vừa phải bảo đảm chất lượng và hiệu quả sản xuất. Trong bối cảnh các nhà nhập khẩu cân nhắc chặt chẽ hơn về chi phí, quy cách sản phẩm và tiến độ giao hàng, thì việc chỉ dựa vào lợi thế nguồn cung doanh nghiệp xuất khẩu sẽ khó tạo ra khác biệt lâu dài. Do đó để tiếp tục giữ vững thị trường doanh nghiệp cần chủ động phân khúc khách hàng, tối ưu chi phí, tổ chức sản xuất linh hoạt và phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu thực tế.
Tại thị trường Trung Quốc, doanh nghiệp ghi nhận tiếp tục có nhiều cơ hội. Trong nửa đầu năm 2026, nước này nhập khẩu 2,31 triệu tấn thủy sản, trị giá 10,1 tỷ USD; Việt Nam là nguồn cung lớn thứ ba, sau Nga và Ecuador. Thị trường Trung Quốc có nhu cầu đối với sản phẩm có giá trị cao, tiện lợi và đáp ứng yêu cầu về sức khỏe, dinh dưỡng đang tạo thêm dư địa cho tôm Việt Nam. Tuy nhiên, nhập khẩu tăng nhanh hơn tiêu dùng đòi hỏi doanh nghiệp cần theo dõi sát sức mua, cơ cấu nhu cầu và diễn biến cạnh tranh, Đồng thời không chỉ coi quy mô nhập khẩu tăng là bảo đảm cho khả năng tiêu thụ sản phẩm.
Trong khi đó tại Nhật Bản, thị trường vẫn duy trì quy mô nhập khẩu đáng kể song diễn biến trong năm 2026 cho thấy nhu cầu chưa ổn định. Nếu năm 2024 Nhật Bản nhập khẩu 207.082 tấn tôm và 210.141 tấn năm 2025 thì trong năm 2026, nhập khẩu tăng 2% trong quý I nhưng giảm 9% trong quý II và dự báo cả năm có thể giảm nhẹ, dù quy mô vẫn trên 200.000 tấn. Còn tại thị trường Ấn Độ có lợi thế về tôm nguyên liệu nhờ giá cạnh tranh, trong khi doanhn nghiệp xuất khẩu Việt Nam nổi bật ở phân khúc tôm bóc vỏ và các sản phẩm chế biến như tôm luộc, tôm sushi. Những lợi thế thị trường cần được các doanh nghiệp xuất khẩu tiếp tục phát huy. Đồng thời, các doanh nghiệp tiếp tục thúc đẩy nâng sức cạnh tranh bằng sản phẩm chế biến đáp ứng quy cách cụ thể, chất lượng đồng đều và yêu cầu riêng của khách hàng.
Tại Liên minh châu Âu (EU), cơ hội cũng đang phân hóa giữa các nhóm sản phẩm. Năm 2025, xuất khẩu tôm châu Á sang EU tăng 45% đối với Ấn Độ, 59% đối với Indonesia và 8% đối với Việt Nam. Đáng chú ý, tôm chế biến sâu có khả năng chống chịu tốt hơn tôm nguyên liệu, trong khi Việt Nam vẫn giữ vị thế dẫn đầu ở phân khúc này. Điều này cho thấy chế biến sâu không chỉ giúp gia tăng giá trị sản phẩm mà còn tạo lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh thị trường thay đổi.
Từ diễn biến thị trường cho thấy, mỗi thị trường đang đặt ra một yêu cầu riêng: Mỹ chú trọng sức cạnh tranh về giá và hiệu quả cung ứng; Trung Quốc mở ra cơ hội cho sản phẩm tiện lợi, có giá trị; Nhật Bản đòi hỏi sự ổn định về chất lượng và quy cách; còn EU tạo dư địa cho các dòng sản phẩm chế biến sâu. Với góc nhìn này, doanh nghiệp xuất khẩu muốn giữ vững thị phần cần chuyển từ cách tiếp cận chung sang chiến lược riêng cho từng thị trường, dựa trên dữ liệu nhu cầu, năng lực sản xuất và lợi thế sản phẩm.
Đa dạng hóa sản phẩm, nâng giá trị để củng cố vị thế xuất khẩu
Những năm qua, sản lượng là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy xuất khẩu tôm. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào mở rộng sản lượng đang cho thấy những giới hạn bởi các nguồn lực như diện tích nuôi, nguồn nước, thức ăn, con giống, lao động và năng lượng. Vấn đề này đặt ra yêu cầu doanh nghiệp cần chuyển trọng tâm từ gia tăng khối lượng sang nâng cao giá trị thu về trên mỗi tấn sản phẩm.
![]() |
| Đa dạng hoá sản phẩm mở rộng thị trường xuất khẩu. |
Việc đẩy mạnh chế biến sâu, phát triển sản phẩm tiện lợi, sản phẩm ăn liền và các dòng hàng cao cấp đang được xem là hướng đi cần thiết. Thông qua các sản phẩm này có thể giúp doanh nghiệp nâng giá trị gia tăng, tạo khác biệt so với hàng nguyên liệu và tiếp cận được nhóm khách hàng có nhu cầu chuyên biệt. Không chỉ vậy, trong bối cảnh chi phí đầu vào và sức ép cạnh tranh gia tăng, việc nâng giá trị sản phẩm sẽ góp phần cải thiện hiệu quả kinh doanh, giảm phụ thuộc vào cạnh tranh giá đơn thuần.
Bên cạnh đó, việc đa dạng hóa sản phẩm không chỉ dừng ở việc gia tăng số lượng mặt hàng mà quan trọng hơn là phát triển danh mục sản phẩm gắn với nhu cầu của từng thị trường. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp cần xác định rõ khách hàng mục tiêu, quy cách sản phẩm, tiêu chuẩn chất lượng và mức giá phù hợp. Như vậy, một dòng sản phẩm có thể tạo lợi thế tại thị trường này nhưng chưa chắc phù hợp với thị trường khác. Do đó việc nghiên cứu thị trường và khả năng điều chỉnh sản xuất theo yêu cầu đơn hàng cần trở thành bộ phận quan trọng trong chiến lược xuất khẩu.
Hơn nữa việc đa dạng hóa thị trường cần được triển khai song hành với đa dạng hóa dòng sản phẩm. Thực tế việc mở rộng thêm thị trường sẽ giúp doanh nghiệp phân tán rủi ro khi một khu vực giảm sức mua hoặc thay đổi chính sách nhập khẩu. Việc đa dạng hoá sản phẩm sẽ giúp doanh nghiệp tăng khả năng ứng phó với biến động. Danh mục sản phẩm phong phú, có phân khúc rõ ràng và phù hợp với đặc điểm tiêu dùng của từng nơi, doanh nghiệp có thể mở rộng nhóm khách hàng và tận dụng tốt hơn các cơ hội xuất khẩu.
Đổi mới sản phẩm, nâng chất lượng và bảo đảm tính minh bạch trong chuỗi cung ứng là điều kiện quan trọng để giữ vững vị thế. Truy xuất nguồn gốc, kiểm soát an toàn thực phẩm, đáp ứng yêu cầu môi trường và duy trì chất lượng ổn định ngày càng có ý nghĩa đối với khả năng tiếp cận cũng như giữ chân khách hàng. Doanh nghiệp cần tăng cường liên kết với vùng nuôi, kiểm soát nguyên liệu đầu vào, cải thiện quy trình chế biến và quản trị chi phí. Sự phối hợp giữa người nuôi, doanh nghiệp chế biến và các đối tác trong chuỗi sẽ góp phần ổn định nguồn cung, hạn chế rủi ro và nâng cao uy tín của tôm Việt Nam.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần chủ động cập nhật thông tin về nhu cầu, giá cả, nguồn cung cạnh tranh và các tiêu chuẩn tại thị trường nhập khẩu. Bên cạnh đó, việc nhận diện sớm xu hướng sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng kế hoạch sản xuất phù hợp, phát triển sản phẩm mới và lựa chọn phân khúc có khả năng tạo giá trị cao hơn. Những yếu tố này là cơ sở để nâng cao năng lực thích ứng trước những biến động của thị trường thương mại quốc tế.
Như vậy, giữ vững vị thế tôm Việt Nam không chỉ duy trì tốc độ tăng trưởng kim ngạch còn là nâng cao khả năng cạnh tranh và tính bền vững của hoạt động xuất khẩu. Khi doanh nghiệp đổi mới chiến lược theo từng thị trường, đa dạng hóa dòng sản phẩm, đẩy mạnh chế biến sâu và kiểm soát tốt chất lượng, tôm Việt Nam sẽ có thêm điều kiện củng cố thị phần, mở rộng thị trường và duy trì đà tăng trưởng. Đây là hướng đi cần thiết để xuất khẩu tôm Việt Nam giữ vững vị thế, nâng cao giá trị và phát triển bền vững trước những diễn biến của thị trường toàn cầu.
Tin tức khác
Những điểm mất cân đối cần tháo gỡ để khơi thông nguồn lực tăng trưởng
Hoàn thiện thể chế cho thị trường quản lý tài sản tại VIFC-HCMC
Việt Nam - EU: Mở rộng hợp tác vì phát triển bền vững
Giá xăng trong nước điều chỉnh giảm sâu từ 15h ngày 22/10
Gỡ điểm nghẽn, khơi thông thị trường các tỉnh phía Nam
Tăng trưởng cao giai đoạn 2026- 2030: Bài toán vốn không chỉ nằm ở quy mô huy động
Sửa Luật Đất đai: Người bị thu hồi đất có thể được tái định cư tại chỗ, hoán đổi đất
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
VIDEO: Thu ngân sách gần 400.000 tỷ đồng: Ngành Hải quan tăng tốc số hóa cho chặng nước rút 2026
VIDEO: Ngành Thuế ngăn chặn vi phạm hóa đơn bằng công nghệ phân tích dữ liệu lớn
PODCAST: Doanh nghiệp chuyển phát gấp rút nâng cấp hệ thống theo Thông tư 142
PODCAST: Quyết liệt chống hàng giả online: Từ xử lý tài khoản ảo đến niêm phong kho thực
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen
EuroCham khởi xướng sáng kiến “Tri ân Việt Nam”
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự tọa đàm cấp cao với lãnh đạo doanh nghiệp tiêu biểu châu Âu và Bỉ
Bồi thường thỏa đáng, bảo đảm sinh kế người dân khi thu hồi đất
Sửa luật để giải quyết dự án “đắp chiếu”, ưu đãi mạnh phát triển nhà cho thuê
Phát triển nhà ở cho thuê là trụ cột an sinh xã hội, hạn chế đầu cơ bất động sản
Việt Nam - EU: Mở rộng hợp tác vì phát triển bền vững
Quảng Ninh: Đổi mới mô hình tăng trưởng, tạo nền tảng bứt phá trong giai đoạn mới
Đại biểu Quốc hội: “Không có dữ liệu đủ thật thì khó có giá đất sát thực tế”
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen
Xuất khẩu tôm Việt Nam: Đổi mới để giữ vững vị thế, mở rộng thị trường
Những điểm mất cân đối cần tháo gỡ để khơi thông nguồn lực tăng trưởng
Hoàn thiện thể chế cho thị trường quản lý tài sản tại VIFC-HCMC
Việt Nam - EU: Mở rộng hợp tác vì phát triển bền vững
Giá xăng trong nước điều chỉnh giảm sâu từ 15h ngày 22/10
Gỡ điểm nghẽn, khơi thông thị trường các tỉnh phía Nam
Tăng trưởng cao giai đoạn 2026- 2030: Bài toán vốn không chỉ nằm ở quy mô huy động











