Tăng trưởng 2 con số: Chủ trương đã rõ, vấn đề là thực thi
![]() |
| Tăng trưởng 2 con số cần những động lực mới. Ảnh AI minh họa. |
Phóng viên: Thưa ông, đâu là những rủi ro lớn nhất có thể ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong năm 2026, cả từ bên ngoài lẫn trong nước?
TS. Nguyễn Minh Phong: Mục tiêu tăng trưởng 2 con số của Việt Nam trong năm 2026 đang đứng trước nhiều áp lực, cả từ bên ngoài lẫn bên trong nền kinh tế. Điều đáng lưu ý là các rủi ro hiện nay có sự liên kết với nhau, một cú sốc từ bên ngoài hoàn toàn có thể nhanh chóng truyền dẫn vào hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước.
Ở bên ngoài, trước hết phải kể đến những bất ổn địa chính trị và nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng, đặc biệt là chuỗi cung ứng xăng dầu. Bên cạnh đó là những biến động tại một số thị trường và quốc gia có quan hệ kinh tế với Việt Nam khi các nền kinh tế này đang chịu tác động từ những căng thẳng địa chính trị. Đây là những yếu tố có thể tác động trực tiếp đến thương mại, chi phí sản xuất và khả năng duy trì các chuỗi cung ứng.
Một yếu tố khác không thể xem nhẹ là chính sách tài khóa, tiền tệ của các ngân hàng trung ương lớn, đặc biệt là Mỹ. Mỗi thay đổi về lãi suất hay chính sách tiền tệ đều có thể tác động đến dòng vốn, tỷ giá, mặt bằng lãi suất và môi trường kinh tế vĩ mô của Việt Nam.
![]() |
| TS. Nguyễn Minh Phong Chuyên gia kinh tế |
Trong nước, áp lực lại đến từ sức khỏe của doanh nghiệp và tổng cầu. Doanh nghiệp vẫn còn nhiều khó khăn, trong khi sức mua và tiêu dùng nội địa chưa thực sự mạnh. Nếu lạm phát gia tăng, kéo theo mặt bằng lãi suất tăng, thì cả tổng cung và tổng cầu đều có thể bị ảnh hưởng. Khi đó, bài toán tăng trưởng sẽ khó khăn hơn.
Tuy nhiên, tôi cho rằng, rủi ro lớn không chỉ nằm ở những yếu tố khách quan, mà còn nằm ở khả năng biến chủ trương thành kết quả thực tế. Các định hướng về phát triển kinh tế số, mô hình kinh doanh mới, khu vực tư nhân, chuyển đổi khu vực hộ gia đình lên doanh nghiệp và kích cầu nội địa đã khá rõ. Vấn đề là chúng ta có thực hiện đủ nhanh, đủ đồng bộ hay không.
Với sự điều hành quyết liệt của các cơ quan chức năng trong thời gian qua, tôi vẫn có cơ sở để kỳ vọng mục tiêu tăng trưởng 2 con số, hoặc ít nhất là xấp xỉ 2 con số, có khả năng trở thành hiện thực.
Phóng viên: Vậy ông đánh giá vai trò của kinh tế số, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và phát triển khoa học - công nghệ trong việc nâng cao tốc độ tăng trưởng như thế nào?
TS. Nguyễn Minh Phong: Nếu muốn tăng trưởng 2 con số mà không chỉ dựa vào việc mở rộng đầu tư hay tăng lượng vốn, Việt Nam phải tìm được những động lực tăng trưởng mới. Theo tôi, đây chính là vai trò của kinh tế số, tăng trưởng xanh, đổi mới sáng tạo và khoa học - công nghệ.
Các mô hình kinh doanh mới sẽ ngày càng trở thành một phần quan trọng của động lực tăng trưởng. Kinh tế số và tăng trưởng xanh không chỉ tạo ra ngành nghề mới mà còn giúp thay đổi cách thức sản xuất, kinh doanh, phân phối và tiêu dùng.
Trong đó, một vấn đề rất đáng chú ý là phải tạo điều kiện để khu vực hộ gia đình chuyển lên thành doanh nghiệp. Đây không đơn thuần là việc thay đổi tên gọi hay hình thức pháp lý, mà là cách mở rộng lực lượng doanh nghiệp, nâng cao năng lực sản xuất và đưa một bộ phận lớn hoạt động kinh tế vào khu vực có năng suất và khả năng tiếp cận thị trường tốt hơn.
Song song với đó, kích cầu tổng cầu nội địa cũng rất quan trọng. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và bền vững không thể chỉ trông chờ vào xuất khẩu hay đầu tư, mà cần một thị trường trong nước đủ lớn và đủ sức hấp thụ sản phẩm.
Và cuối cùng, khoa học - công nghệ chính là công cụ quyết định. Công nghệ cho phép chúng ta tăng năng suất, giảm chi phí và tạo ra giá trị gia tăng cao hơn. Đây cũng là con đường để Việt Nam vừa đạt tốc độ tăng trưởng cao, vừa bảo đảm tính bền vững và từng bước vượt qua bẫy thu nhập trung bình.
Phóng viên: Thưa ông, khu vực kinh tế tư nhân đang được kỳ vọng sẽ trở thành một động lực quan trọng của tăng trưởng. Theo ông, cần tháo gỡ những rào cản nào để khu vực này có thể phát huy tối đa tiềm năng?
TS. Nguyễn Minh Phong: Khu vực tư nhân Việt Nam có một lợi thế rất rõ là năng động và có khả năng thích ứng nhanh. Dù cộng đồng doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam hình thành và phát triển chưa lâu nếu so với nhiều nền kinh tế trên thế giới, nhưng tiềm năng là rất lớn.
Điều quan trọng hiện nay là phải chuyển từ việc nhìn khu vực tư nhân như một khu vực cần hỗ trợ sang coi đây là một lực lượng trực tiếp tạo ra tăng trưởng.
Muốn vậy, trước hết phải giải quyết bài toán vốn. Khả năng tiếp cận vốn vẫn là một trong những khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt đối với những doanh nghiệp nhỏ và vừa.
![]() |
| Cần coi kinh tế tư nhân là một lực lượng trực tiếp tạo ra tăng trưởng. |
Nhưng vốn thôi chưa đủ. Doanh nghiệp phải có thị trường và phải có khả năng duy trì chuỗi cung ứng. Vì vậy, việc bảo đảm đầu ra, mở rộng thị trường và duy trì cả chuỗi cung ứng trong nước lẫn quốc tế là yêu cầu rất quan trọng.
Một điểm nữa là năng lực cạnh tranh. Trong bối cảnh công nghệ thay đổi rất nhanh, doanh nghiệp không đổi mới công nghệ, không đổi mới sáng tạo thì rất khó giảm chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm. Đây cũng là điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tôi cũng cho rằng cần nhìn vấn đề an sinh xã hội dưới góc độ hỗ trợ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp phải gánh quá nhiều chi phí liên quan đến đào tạo và bảo đảm an sinh cho người lao động, nguồn lực dành cho đổi mới công nghệ và phát triển sản xuất sẽ bị thu hẹp. Vì vậy, cần có cơ chế phù hợp để chia sẻ một phần gánh nặng này.
Trong bối cảnh Cách mạng Công nghệ 4.0 và quá trình tái cơ cấu diễn ra mạnh mẽ, doanh nghiệp đang phải đồng thời thay đổi cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệ và cơ cấu ngành nghề. Đây là một quá trình rất lớn và cần sự đồng hành của cả Nhà nước và doanh nghiệp.
Phóng viên: Việc đẩy mạnh giải ngân đầu tư công và thu hút đầu tư nước ngoài cần được thực hiện theo hướng nào để tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh hơn đối với nền kinh tế?
TS. Nguyễn Minh Phong: Với đầu tư công, điều quan trọng nhất hiện nay là biến nguồn vốn thành công trình, và biến công trình thành năng lực tăng trưởng. Chúng ta đang có khối lượng vốn đầu tư công tăng rất mạnh, khoảng trên dưới 30% so với năm trước, nhưng tốc độ giải ngân vẫn chưa được cải thiện tương xứng.
Áp lực trong những tháng cuối năm vì thế là rất lớn. Muốn giải ngân nhanh, trước hết phải tiếp tục cắt giảm thủ tục và tháo gỡ các nút thắt hành chính đang cản trở tiến độ dự án.
Bên cạnh đó, cần gắn trách nhiệm giải ngân với trách nhiệm của người đứng đầu. Việc hoàn thành chỉ tiêu giải ngân nên trở thành một tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các bộ, ngành, địa phương và người đứng đầu. Việc áp dụng KPI trong quản lý công, nếu được thực hiện thực chất, sẽ tạo áp lực cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Một vấn đề khác là phải xử lý các điểm nghẽn mang tính khách quan như nguồn cung và giá vật liệu, đặc biệt là vật liệu xây lắp cho các dự án đầu tư công quy mô lớn. Nếu những nút thắt này không được giải quyết, việc tăng vốn cũng chưa chắc chuyển hóa thành tăng trưởng tương ứng.
Đối với FDI, chúng ta đang có những chủ trương và cơ chế mới, tạo ra bước tiến đáng kể trong tư duy thu hút đầu tư nước ngoài. Tôi cho rằng cần chuyển từ tư duy thu hút từng dự án riêng lẻ sang xây dựng một hệ sinh thái FDI.
Nói cách khác, không chỉ nhìn vào số vốn đăng ký, mà cần quan tâm doanh nghiệp FDI tạo ra giá trị gì cho nền kinh tế, có kết nối với doanh nghiệp trong nước hay không, có chuyển giao công nghệ hay không và đóng góp như thế nào cho các mục tiêu phát triển của Việt Nam.
Cùng với đó, chính sách hỗ trợ cũng nên chuyển mạnh từ hỗ trợ theo cam kết sang hỗ trợ dựa trên kết quả thực hiện và đầu ra thực tế. Thủ tục cần được cắt giảm tối đa, nhưng song song phải tăng yêu cầu về công nghệ và môi trường.
Mục tiêu cuối cùng không chỉ là thu hút được FDI, mà phải biến FDI thành một mắt xích có giá trị trong hệ sinh thái doanh nghiệp Việt Nam, qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa về công nghệ, năng suất và năng lực cạnh tranh.
Phóng viên: Vậy theo ông, doanh nghiệp Việt Nam cần chuẩn bị như thế nào để tận dụng các cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do và xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu trong giai đoạn tới?
TS. Nguyễn Minh Phong: Việt Nam đang có nhiều cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do và xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng. Nhưng cơ hội chỉ trở thành lợi ích thực tế nếu doanh nghiệp đủ năng lực để đáp ứng cuộc chơi mới.
Điều đầu tiên là chất lượng. Doanh nghiệp phải nâng cấp sản phẩm theo các tiêu chí, tiêu chuẩn và quy chuẩn của chuỗi cung ứng cũng như yêu cầu của các đối tác, đặc biệt là các nhà nhập khẩu. Thị trường quốc tế ngày càng đặt ra yêu cầu cao về công nghệ, chất lượng và môi trường. Nếu không đáp ứng được các tiêu chuẩn đó, doanh nghiệp sẽ rất khó tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Điều thứ hai là công nghệ. Doanh nghiệp cần cơ cấu lại hoạt động, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ để giảm chi phí và nâng cao chất lượng. Đây không còn là lựa chọn mang tính dài hạn mà đang trở thành điều kiện để tồn tại và cạnh tranh.
Điều thứ ba là thương hiệu và sở hữu trí tuệ. Doanh nghiệp không chỉ cần sản xuất tốt mà còn phải biết xây dựng, quảng bá và bảo vệ thương hiệu, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Đồng thời phải tuân thủ các nguyên tắc và văn hóa kinh doanh quốc tế.
Tôi cho rằng hội nhập trong giai đoạn tới sẽ không đơn thuần là câu chuyện “bán được hàng ra nước ngoài”, mà là doanh nghiệp Việt Nam có trở thành một thành viên thực chất của chuỗi cung ứng toàn cầu hay không.
Muốn vậy, doanh nghiệp phải nâng chất lượng, nâng công nghệ, nâng thương hiệu và nâng cả chuẩn mực quản trị. Đó cũng chính là nền tảng để tận dụng tốt hơn các hiệp định thương mại tự do và xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng trong thời gian tới.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!
Tin tức khác
HOSE - Dấu ấn tạo nền tảng thị trường chứng khoán Việt Nam, khơi thông dòng vốn
Bán dẫn Việt Nam trước cột mốc 1.000 tỷ USD: Nâng tầm vị thế và hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu
Hoàn thiện hạ tầng giao dịch, củng cố năng lực vận hành thị trường chứng khoán
Vốn dài hạn nội địa: Dư địa lớn, bài toán nằm ở khả năng chuyển hóa tiết kiệm thành đầu tư
EMAGAZINE: Phép thử đối với nền kinh tế để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Cơ hội tăng trưởng không tự chuyển hóa thành kết quả
Tiếp cận vốn xanh bắt đầu từ sự chuẩn bị của doanh nghiệp
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
VIDEO: Thu ngân sách gần 400.000 tỷ đồng: Ngành Hải quan tăng tốc số hóa cho chặng nước rút 2026
VIDEO: Ngành Thuế ngăn chặn vi phạm hóa đơn bằng công nghệ phân tích dữ liệu lớn
PODCAST: Doanh nghiệp chuyển phát gấp rút nâng cấp hệ thống theo Thông tư 142
PODCAST: Quyết liệt chống hàng giả online: Từ xử lý tài khoản ảo đến niêm phong kho thực
Đưa doanh nghiệp vào trung tâm, kéo nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội kiến Nhà vua Vương quốc Bỉ Philippe
Miễn thuế suất ăn trường học, bệnh viện: Chính phủ đánh giá khả thi
"Miễn thuế hay không, an toàn thực phẩm vẫn là ưu tiên hàng đầu" với suất ăn trường học, bệnh viện
Việt Nam - Bỉ: Làm sâu sắc quan hệ hữu nghị, thúc đẩy hợp tác kinh tế
Vinachem và Air Liquide trao Biên bản ghi nhớ hợp tác tăng cường kết nối hợp tác quốc tế về công nghệ
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm Cảng Antwerp-Bruges (Vương quốc Bỉ)
Triển khai ngay các giải pháp bảo đảm cung ứng đủ điện giai đoạn 2027 - 2030
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội đàm với Chủ tịch Hội đồng châu Âu António Costa
Tăng trưởng 2 con số: Mở rộng dư địa huy động tài lực
Việt Nam - Bỉ: Làm sâu sắc quan hệ hữu nghị, thúc đẩy hợp tác kinh tế
Hơn 60 đặc sản Gia Lai, Quảng Ngãi lên kệ chương trình Sức sống hàng Việt
Công bố Bảng xếp hạng doanh nghiệp PROFIT500 và Top 10, Top 5 Công ty uy tín một số ngành trọng điểm năm 2026
Tăng sản lượng, nâng giá trị từ chế biến sâu
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm Cảng Antwerp-Bruges (Vương quốc Bỉ)
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen
Xuất khẩu tôm Việt Nam: Đổi mới để giữ vững vị thế, mở rộng thị trường












