aa

Kinh nghiệm chuyển đổi xanh của một số quốc gia và gợi mở cho Việt Nam

15:05 | 13/03/2026
Bài viết phân tích kinh nghiệm phát triển các mô hình kinh tế xanh ở một số quốc gia nhằm gợi mở chính sách về chuyển đổi xanh cho Việt Nam. Kết quả cho thấy, một điểm chung của các quốc gia là hướng đến phát triển bền vững ở cả 3 chiều và được lồng ghép với nhau gồm: kinh tế, xã hội và môi trường. Từ đó, bài viết gợi mở một số vấn đề cho việc chuyển đổi xanh ở Việt Nam như sau: Đánh giá được những tác động cộng gộp và sự đánh đổi lợi ích của phát triển xanh; Kết hợp mục tiêu tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường; Lồng ghép các chính sách tài khóa phục vụ tăng trưởng xanh với các chương trình giảm nghèo.

TS. Trần Hoàng Hiểu

Học viện Chính trị khu vực IV; Email: [email protected]

PGS.TS. Phan Văn Phúc

Khoa Khoa học chính trị, Xã hội và Nhân văn, Đại học Cần Thơ

Tóm tắt

Bài viết phân tích kinh nghiệm phát triển các mô hình kinh tế xanh ở một số quốc gia nhằm gợi mở chính sách về chuyển đổi xanh cho Việt Nam. Kết quả cho thấy, một điểm chung của các quốc gia là hướng đến phát triển bền vững ở cả 3 chiều và được lồng ghép với nhau gồm: kinh tế, xã hội và môi trường. Từ đó, bài viết gợi mở một số vấn đề cho việc chuyển đổi xanh ở Việt Nam như sau: Đánh giá được những tác động cộng gộp và sự đánh đổi lợi ích của phát triển xanh; Kết hợp mục tiêu tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường; Lồng ghép các chính sách tài khóa phục vụ tăng trưởng xanh với các chương trình giảm nghèo.

Từ khóa: Kinh tế xanh, phát triển bền vững, kinh tế tuần hoàn

GREEN TRANSITION EXPERIENCES OF SELECTED COUNTRIES AND IMPLICATIONS FOR VIET NAM

Summary

This article analyzes the experiences of developing green economy models across several countries to derive policy implications for Viet Nam’s green transition. The findings indicate that a standard feature across countries is the pursuit of sustainable development through the integrated consideration of three dimensions: economic, social, and environmental. On this basis, the article highlights several key issues for Viet Nam’s green transition, including the need to assess cumulative impacts and tradeoffs associated with green development; to reconcile economic growth objectives with environmental protection; and to integrate green growth-oriented fiscal policies with poverty reduction programs.

Keywords: Green economy, sustainable development, circular economy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Tổ chức Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), kinh tế xanh là nền kinh tế có mức phát thải carbon thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và hòa nhập xã hội. Trong nền kinh tế này, tăng trưởng việc làm và thu nhập được thúc đẩy bởi đầu tư của chính phủ và tư nhân vào các hoạt động kinh tế, kết cấu hạ tầng và tài sản cho phép giảm phát thải khí CO2 và ô nhiễm môi trường, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học cũng như các chức năng sinh thái. Tổ chức Hợp tác Phát triển kinh tế (OECD) cũng có quan điểm tương tự, khi cho rằng, tăng trưởng xanh có nghĩa là đạt được mục tiêu tăng trưởng đồng thời giảm ô nhiễm và khí nhà kính, hạn chế rác thải và cải thiện hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên.

Trên thế giới, quá trình chuyển đổi xanh đã được đề xuất từ những thập niên 1980 và 1990. Báo cáo Brundtland (World Commission on Environment and Development, 1987) tuy không sử dụng cụm từ “kinh tế xanh” hay “tăng trưởng xanh”, nhưng đã nhấn mạnh mối liên hệ chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và sự công bằng xã hội. Trong đó, tăng trưởng kinh tế không được đánh đổi bằng việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên và làm tổn hại môi trường. Đồng thời, kêu gọi các quốc gia hợp tác để giải quyết các vấn đề môi trường và phát triển toàn cầu nhằm bảo đảm sự phát triển lâu dài, bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai.

Ở Việt Nam, từ góc độ quản lý kinh tế, quá trình chuyển đổi xanh là con đường tất yếu giúp quốc gia giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và tạo ra các ngành nghề mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời đảm bảo công bằng xã hội. Tăng trưởng xanh hay kinh tế xanh nên là một nội dung cốt lõi của phát triển bền vững. Đây là một mục tiêu chiến lược quốc gia và được cụ thể hóa bằng các văn bản như: Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban chấp hành Trung ương về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu; Quyết định số 1658/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050. Mục tiêu là xây dựng nền kinh tế xanh, phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và tăng cường vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Để góp phần tìm hiểu sâu hơn về vấn đề chuyển đổi xanh và đưa ra những gợi ý chính sách cho Việt Nam, bài viết phân tích một số kinh nghiệm điển hình tại một số quốc gia phát triển kinh tế xanh ở những phạm vi, góc độ khác nhau.

KINH NGHIỆM CHUYỂN ĐỔI XANH TỪ MỘT SỐ NƯỚC

Lồng ghép phát triển du lịch sinh thái, phát triển kinh tế xanh và giảm nghèo ở một số quốc gia đang phát triển

Du lịch sinh thái được xem như một trong những con đường phát triển kinh tế theo xu hướng xanh, đồng thời tác động tích cực đến giảm nghèo. Do vậy, có thể coi du lịch sinh thái như một trong những ngành kinh tế quan trọng để thúc đẩy phát triển bền vững cả về xã hội, kinh tế và môi trường. Liên hợp quốc khẳng định: “kinh tế xanh là một trong những công cụ quan trọng cung cấp cho những lựa chọn chính sách để đạt mục tiêu phát triển bền vững”, “nó góp phần giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế, tăng cường hòa hợp xã hội, cải thiện phúc lợi và tạo nhiều cơ hội việc làm tử tế cho mọi người, trong khi vẫn duy trì các hoạt động lành mạnh của hệ sinh thái” (United Nations, 2013). Hay nói cách khác, du lịch sinh thái đã mang lại cả 3 mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường của phát triển bền vững mà thông qua đó đem lại lợi ích cho người nghèo và các nhóm dễ bị tổn thương, làm giảm bất bình đẳng xã hội. Du lịch sinh thái bao gồm 3 cấu phần: (i) du lịch dựa vào thiên nhiên; (2) giáo dục hay nhận thức; (3) sự bền vững về môi trường, kinh tế và xã hội. Trong thực tế, hoạt động này được rất nhiều nước áp dụng, Vanuatu, Thái Lan và Ecuador đại diện cho các nền kinh tế có đặc điểm khác nhau.

Vanuatu là quốc đảo (nằm trên biển Nam Thái Bình Dương) hiện có 16 cộng đồng người bản địa liên kết thành mạng lưới để bảo vệ vùng đất của cộng đồng với diện tích hơn 3.000 ha. Mạng lưới này chăm lo việc bảo tồn sinh học và phát triển du lịch sinh thái để giảm nghèo cho người dân địa phương. Họ cung cấp dịch vụ lưu trú ở cùng người dân (home-stay) và bảo tồn rùa biển. Mỗi du khách đến đây sẽ tham gia cùng với cộng đồng trong chương trình nuôi và thả rùa về biển với một khoản phí nhỏ. Nguồn thu này chính là thu nhập của cư dân khi họ tham gia vào chương trình chăm sóc rùa biển trước khi thả về thiên nhiên. Theo đánh giá của các cơ quan giám sát chương trình, thu nhập của người dân đã tăng gấp đôi so với hoạt động đánh bắt truyền thống của họ.

Ở Ecuador, chương trình kết hợp nghỉ dưỡng và bảo tồn thiên nhiên Kapawi từ năm 2008 mở ra cơ hội để người dân bản địa cung cấp chỗ ở, hướng dẫn du khách tham quan cộng đồng, du lịch mạo hiểm, du lịch văn hóa và ngắm cảnh thiên nhiên. Ngoài ra, các hoạt động du lịch này thúc đẩy cơ hội việc làm cho các ngành nghề khác như làng nghề thủ công mỹ nghệ và dịch vụ ăn uống. Những hoạt động này đã góp phần vào thành công trong việc xóa nghèo của các hộ gia đình tham gia, đồng thời bảo tồn được hơn 618.000 ha đất xung quanh các khu nghỉ dưỡng.

Koh Yao Noi (một hòn đảo nằm ở tỉnh Phang Nga, miền Nam Thái Lan) có một câu lạc bộ du lịch sinh thái dựa vào cộng động ra đời từ năm 1995 nhằm đảo ngược các tác động tiêu cực lên môi trường và xã hội do hoạt động đánh bắt cá thương mại quy mô lớn gây ra. Câu lạc bộ này cung ứng chỗ trọ, những chuyến đi câu cá và yêu cầu chính quyền thực thi các luật bảo vệ tài nguyên và quyền lợi của cộng đồng. Câu lạc bộ đem lại thu nhập trực tiếp và gián tiếp cho hơn 4.000 hộ gia đình tham gia chương trình. Khoảng 10% thu nhập từ các hoạt động này được nộp lại để làm quỹ tài trợ cho các sáng kiến bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng. Nhờ có câu lạc bộ Koh Yao Noi, việc tham gia các hoạt động cộng đồng và sự phối hợp của người dân đã tăng lên, tăng cường tiếng nói của giới trẻ, phụ nữ và cộng đồng thiểu số địa phương. Nhận thức và trách nhiệm về môi trường của người dân địa phương và du khách đã tăng lên nhờ vào việc tăng cường khả năng quản lý tài nguyên.

Có thể thấy, việc phát triển mô hình du lịch sinh thái khi áp dụng vào điều kiện cụ thể cần phải được thiết kế và điều chỉnh để phù hợp với điều kiện cụ thể. Tuy nhiên, sự thành công của các mô hình này đều có các điểm chung, đó là: Sự cam kết và phối hợp; Quy trình chia sẻ lợi ích minh bạch; và có kế hoạch thích hợp. Các yếu tố này tồn tại xuyên suốt từ quá trình thiết kế đến thực hiện các sáng kiến du lịch sinh thái (UNDP, 2015).

Lồng ghép vấn đề việc làm, môi trường và giảm nghèo ở Nam Phi

Nam Phi là nền kinh tế lớn nhất châu Phi hiện nay và thuộc nhóm nước thu nhập trung bình cao với GDP bình quân đầu người năm 2024 là 6523 USD (giá hiện hành). Sau thời kỳ phân biệt chủng tộc cuối thế kỷ 20, sang thế kỷ 21, Nam Phi đã có những chuyển biến trong chính sách phát triển kinh tế, đặc biệt là gắn tăng trưởng với bảo vệ môi trường và giảm nghèo thông qua các Chương trình Việc làm khu vực công (Public Employment Programmes). Sáng kiến này bắt đầu vào năm 2004, được tiếp tục điều chỉnh và kéo dài cho đến hiện nay. Chúng bao gồm 5 chương trình như sau: Bảo vệ môi trường nước; Bảo vệ vùng đất ngập nước; Kiểm soát phòng ngừa hỏa hoạn; Quản lý bờ biển; và Quản lý rác thải.

Chương trình bảo vệ môi trường nước nhằm kiểm soát các loại thực vật ngoại lai xâm lấn vì chúng làm suy giảm nguồn nước, sự đa dạng sinh học và giảm vùng đồng cỏ cho gia súc. Chương trình bảo vệ vùng đất ngập nước nhằm phục hồi các vùng đất đã bị bạc màu, xây dựng kè chống sạt lỡ, trồng lại các loại hoa màu và lắp đặt hệ thống tưới nước. Hai chương trình này có điểm tương đồng là loại trừ các loài thực vật xâm lấn, giữ gìn nguồn nước và phát triển các loại thực vật nội địa có lợi. Chương trình kiểm soát hỏa hoạn nhằm ngăn chặn nguy cơ cháy, tầm soát các nguồn gây cháy và phục hồi tổn thương do hỏa hoạn. Chương trình quản lý bờ biển bao gồm nâng cấp lối đi, làm sạch và phục hồi đường đi bộ ven biển, ươm trồng cây và phục hồi các cồn cát. Cuối cùng, chương trình quản lý rác thải bao gồm: việc dọn dẹp và loại bỏ rác thải tại công viên, sông ngòi, nghĩa trang, bãi biển, đường phố, khu bảo tồn đường bộ, vỉa hè, ống thoát nước mưa và cống rãnh, sân thể thao, sân vận động, khu nghỉ dưỡng, trường học, nhà vệ sinh công cộng và khu định cư tự phát; phủ xanh và cắt cỏ tại các khu vực công cộng; phát quang bụi rậm; tái chế và ủ phân; cải tạo các trạm trung chuyển; bảo trì các khu đất. Các chương trình này hàng năm cần khoản đầu tư của chính phủ không quá lớn. Trong năm tài khóa 2012-2013, chương trình đã thu hút 250 triệu USD đầu tư, trong đó nguồn từ Chính phủ Nam Phi chiếm hơn 95% (UNDP, 2015).

Tuy vốn đầu tư không nhiều nhưng những kết quả đạt được từ chương trình này rất có ý nghĩa về mặt kinh tế, xã hội trong bối cảnh quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp và nghèo cao như Nam Phi. Cụ thể:

- Hàng năm có khoảng 100.000 lao động được thuê mướn (tương đương với 35000 lao động làm việc toàn thời gian) từ chương trình này, trong đó 51% là phụ nữ, tỷ lệ lao động trẻ chiếm 56%. Trung bình mỗi năm, số ngày lao động được thuê mướn quy đổi là 84 ngày với thu nhập khoảng 750 USD/ năm, với mức lương trung bình khoảng 8 USD/ngày lao động, tương tương với mức cao nhất của nhóm 20% thu nhập thấp nhất (tứ phân vị thứ nhất) (năm 2012, 2013). Điều này có ý nghĩa to lớn vì nó đã tạo ra nguồn sinh kế cho người nghèo, giúp giảm nghèo và bất bình đẳng xã hội. Rõ ràng, việc giảm nghèo cần thực hiện thông qua nhiều kênh tác động khác nhau. Do vậy, chương trình này nếu được kết hợp với những chương trình giảm nghèo khác sẽ làm tăng hiệu quả của chính sách, nhanh chóng cải thiện sinh kế và thu nhập cho người nghèo.

- Việc cải thiện môi trường sinh thái được xác nhận rõ ràng. Nó được đo lường bằng số lượng héc-ta đất được làm sạch, không còn các loài thực vật xâm lấn nguy hại. Quan trọng hơn, tiềm năng về việc làm xanh có xu hướng tăng lên, đến năm 2017 đã có khoảng 100.000 lao động toàn thời gian (gần gấp 3 lần sau 5 năm) và tăng lên 230.000 vào năm 2025. Bên cạnh đó, chương trình này đã tạo ra nguồn năng lượng từ khí sinh học (biogas) đã thúc đẩy xu hướng tiêu dùng năng lượng sạch và đem lại lợi ích kinh tế cho người sử dụng. Theo ước tính của các chuyên gia tư vấn, việc lấp đặt hệ thống biogas đem lại tương đương 720 mW và đã tạo thêm 50.000 việc làm hàng năm.

Một trong những bài học rút ra từ thành công của các Chương trình Việc làm khu vực công là sự nhất quán, tính chuyên nghiệp của đội ngũ lãnh đạo. Đội ngũ này cần phải được đào tạo chuyên nghiệp, có những kinh nghiệm quý báo trong việc vận hành các chương trình công cộng và có sự phối hợp chặt chẽ với nhau. Mỗi chương trình có mục tiêu rõ ràng, có thể thực hiện và đánh giá được, tránh đặt ra những mục tiêu quá lớn, khó thực hiện.

Lồng ghép mục tiêu tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường

Các nước thành viên OECD đã triển khai nhiều chính sách hướng đến phát triển bền vững, trong đó việc lồng ghép tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường là một mục tiêu ưu tiên. Một trong những lý do quan trọng nhất của việc lồng ghép này là những rủi ro về môi trường sẽ làm suy giảm tăng trưởng cũng như chất lượng sống của người dân. Lồng ghép các mục tiêu môi trường và tăng trưởng nhằm tạo ra một khung chính sách nhất quán cho cả ngắn hạn và dài hạn để từ đó đưa ra các quyết sách về phát triển bền vững. Chính sách tài khóa và các quy định được thiết kế tốt để phục vụ tăng trưởng như thuế và chính sách cạnh tranh sẽ giúp quốc gia cải thiện việc phân bổ các nguồn lực. Đồng thời chính sách này cũng sẽ dần tách những hoạt động kinh tế khỏi sự xuống cấp môi trường và khai mở những nguồn lực mới cho tăng trưởng xanh. Thách thức lớn nhất cho vấn đề kết hợp này là các nguyên lý kinh tế cốt lõi phải được định vị trong một khung phân tích dài hạn mà nó tính đến giá trị tài nguyên một cách đầy đủ như là một tiêu chuẩn bắt buộc của tăng trưởng và tính đến hiệu quả

- chi phí để giải phóng những áp lực lên môi trường và tránh sự đánh đổi giữa môi trường với tăng trưởng (OECD, 2015). Việc xác định chiến lược tăng trưởng xanh cũng đòi hỏi phải khảo sát và phân tích được những hạn chế về nguồn lực kinh tế hiện tại hoặc những méo mó trong kết quả mang lại từ quá trình đầu tư xanh để tìm cách chấn chỉnh, không để chúng trở thành rào cản của quá trình chuyển đổi.

Bước tiếp theo chính là việc thiết kế các chính sách mà trong đó ô nhiễm môi trường phải được định giá, đồng thời tạo động lực cho việc sử dụng hiệu quả tài nguyên. OECD cho rằng, việc định giá cần phải có các công cụ như hệ thống trao đổi thương mại (như tín chỉ carbon) và thuế để thúc đẩy các hành động nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường với chi phí thấp nhất. Song song đó, việc kết hợp với các chính sách như đầu tư xanh và đổi mới sáng tạo xanh cũng sẽ góp phần làm tăng hiệu quả của chính sách thuế liên đến bảo vệ môi trường (OECD, 2013). Tuy vậy, OECD nhấn mạnh, trong một số trường hợp, chính sách định giá ô nhiễm tỏ ra không phù hợp như việc đưa ra các quy định điều kiện tiêu chuẩn về xả thải. Các tiêu chuẩn kỹ thuật này có thể thúc đẩy tăng trưởng xanh thông qua những đề xuất các chuẩn mực để cải thiện việc sử dụng tài nguyên có hiệu quả hơn. Mặc dù các quy định có thể có cần nguồn kinh phí cao hơn so với hệ thống định giá ô nhiễm, nhưng nó rất cần để thúc đẩy quá trình chuyển đổi ở các quốc gia mà cử tri có xu hướng chống lại hệ thống định giá hoặc một số lĩnh vực không phản ứng với giá cả.

Việc trợ cấp để sử dụng các công nghệ mới làm dịch chuyển khuynh hướng sản xuất và tiêu dùng thân thiện môi trường hơn. Điều rõ ràng là để từng bước xanh hóa tăng trưởng thì trước hết cần phải xóa bỏ các trợ cấp cho việc sử dụng các nguồn tài nguyên gây hại môi trường như các sản phẩm có nguồn gốc từ dầu mỏ.

Chính quyền các cấp cũng cần có những thông tin hướng dẫn, tuyên truyền liên quan tới hành vi tiêu dùng. Những giải pháp thông tin này tăng cường sự phản ứng của các nhà sản xuất và người tiêu dùng đối với hệ thống định giá ô nhiễm bằng cách chỉ ra những tác động tiêu cực đến môi trường của các hoạt động kinh tế hiện có cũng như hiệu quả tích cực trong dài hạn của tiêu dùng xanh và sự sẵn sàng của các lựa chọn tiêu dùng sạch hơn.

GỢI MỞ CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM

Đánh giá được những tác động cộng gộp và sự đánh đổi lợi ích của phát triển xanh

Một là, đánh giá được tác động có lợi và bất lợi của hoạt động kinh tế xanh mà du lịch sinh thái là một trường hợp cụ thể. Về mặt môi trường, du lịch sinh thái một mặt đã nâng cao khả năng bảo tồn các khu sinh quyển, hệ sinh thái và môi trường thiên nhiên như đã trình bày ở trên. Tuy nhiên, nó cũng có những tác động tiêu cực như sự can thiệp của con người vào môi trường tự nhiên, hoạt động du lịch cũng gây ô nhiễm môi trường từ các phương tiện giao thông, rác thải do du khách để lại. Một số cộng đồng địa phương thu hút số lượng lớn du khách sẽ gây ra tình trạng quá tải, khai thác quá mức nguồn lực tại chỗ dẫn đến sự kém bền vững.

Về mặt kinh tế - xã hội, gia tăng sự tham gia và phối hợp giữa các bên liên quan giúp cải thiện sinh kế và thu nhập cho các thành viên tham gia như tiền lương của người lao động, thu nhập từ hoạt động cung ứng hàng hóa và dịch vụ địa phương, tăng thu nhập cho cộng đồng và lợi nhuận cho các doanh nghiệp. Tuy vậy, những xung đột lợi ích giữa các bên tham gia luôn là một nguy cơ tiềm ẩn. Nếu quá trình phát triển này hạn chế sự tham gia và chia sẻ lợi ích của người nghèo và các cộng động thiểu số thì sẽ đào sâu thêm khoảng cách giàu nghèo, không cải thiện được đời sống người dân địa phương, từ đó sẽ dẫn đến nguy cơ đổ vỡ, xung đột của mô hình phát triển xanh. Do vậy, việc phát triển mô hình du lịch sinh thái cần phát huy vai trò và sức mạnh của cộng đồng và người dân địa phương trong việc phối hợp và phân chia lợi ích của các cá nhân, tổ chức tham gia. Điều này cần phải có nguồn quỹ phúc lợi chung để đầu tư phát triển nguồn nhân lực tại chỗ như nâng cao trình độ học vấn, tay nghề và sức khỏe của lao động địa phương, đặc biệt là người nghèo để họ tự tin hơn trong quá trình tham gia phát triển cộng đồng, nâng cao sinh kế và thu nhập, tham gia chủ động vào quá trình chia sẻ lợi ích từ du lịch sinh thái.

Hai là, vai trò và sự phối hợp giữa các bên liên quan cần được xác định rõ ràng, tuân thủ những cam kết chung. Chính quyền địa phương giữ vai trò cực kỳ quan trọng, vừa là người thiết kế và vừa thực thi chính sách, ủng hộ sự phát triển cộng đồng địa phương. Chính quyền còn với vai trò là người điều phối lợi ích để đảm bảo sự hài hòa, quyền lợi giữa các bên liên quan, đặc biệt là nhóm yếu thế. Khu vực doanh nghiệp tư nhân, trong đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ là nhà cung ứng dịch vụ chủ yếu, hỗ trợ người dân địa phương trong việc thiết kế các sản phẩm truyền thống phục vụ du lịch. Các tổ chức phi chính phủ giữ vai trò hỗ trợ bằng cách đưa ra các sáng kiến du lịch sinh thái, cung cấp tài trợ và hỗ trợ kỹ thuật. Người dân địa phương, đặc biệt là người nghèo, rất cần được tham gia vào các khâu khác nhau trong chuỗi hoạt động kinh tế xanh như cung ứng sản phẩm, dịch vụ và lao động bao gồm lao động có kỹ năng và lao động chân tay, tạm thời. Các tổ chức cộng đồng địa phương phát triển các sản phẩm sở hữu chung của cộng đồng, thương lượng việc phân chia lợi ích của những cá thể bên trong và những người tham gia từ bên ngoài, chịu trách nhiệm thu chi và phân phối lợi ích kinh tế từ các hoạt động chung này.

Kết hợp mục tiêu tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường

Từ kinh nghiệm của các nước OECD về chuyển đổi xanh có thể thấy không có một mô hình khuôn mẫu nào là phù hợp hoàn toàn cho tất cả các quốc gia với những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội… rất khác nhau. Tuy nhiên, để tiến đến nền kinh tế xanh thì vấn đề bảo vệ môi trường cần phải được đặt vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế. Do đó, Việt Nam cần:

Thứ nhất, xác định tăng trưởng xanh là một mục tiêu xuyên suốt, không phải là một lựa chọn đánh đổi.

Kinh nghiệm từ các nước OECD cho thấy việc lồng ghép này tạo ra một khung chính sách nhất quán, giúp giải quyết các rủi ro môi trường ngay từ đầu, thay vì phải khắc phục hậu quả. Để thực hiện điều này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành như: Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Vai trò của các bộ này cần được xác định ngang nhau trong việc hoạch định và thực thi chiến lược phát triển quốc gia. Đây là một thách thức về mặt thể chế, nhưng là bước đi cốt lõi để đảm bảo các chính sách kinh tế không mâu thuẫn với mục tiêu bảo vệ môi trường.

Thứ hai, sử dụng công cụ kinh tế để định giá ô nhiễm. Các nước OECD nhấn mạnh việc định giá ô nhiễm là động lực mạnh mẽ để thay đổi hành vi sản xuất và tiêu dùng. Việt Nam có thể từng bước áp dụng các công cụ như thuế môi trường, phí xả thải, tập trung vào các ngành công nghiệp gây ô nhiễm cao. Thay vì ngay lập tức triển khai các hệ thống phức tạp như giao dịch tín chỉ carbon, Việt Nam có thể bắt đầu với những chính sách thuế đơn giản và dễ quản lý hơn, sau đó nâng cấp dần. Việc này cần được thực hiện song song với các chính sách hỗ trợ đầu tư và đổi mới công nghệ xanh, giúp các doanh nghiệp có đủ năng lực tài chính và kỹ thuật để chuyển đổi.

Thứ ba, kết hợp linh hoạt giữa công cụ kinh tế và quy định. Mặc dù, công cụ định giá là hiệu quả, nhưng như OECD đã chỉ ra, quy định kỹ thuật vẫn rất cần thiết, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển nơi thị trường chưa hoàn toàn phản ứng với giá cả hoặc nhận thức của công chúng còn hạn chế. Việt Nam nên xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật về xả thải, hiệu suất sử dụng năng lượng và tiêu chuẩn sản phẩm thân thiện môi trường. Các quy định này vừa tạo ra một khuôn khổ pháp lý vững chắc, vừa thúc đẩy các doanh nghiệp cải thiện công nghệ và quy trình sản xuất.

Thứ tư, tăng cường vai trò của chính quyền trong việc cung cấp thông tin và tuyên truyền về lợi ích của tiêu dùng xanh. Các chiến dịch truyền thông về tác động tiêu cực của các hoạt động kinh tế hiện tại và lợi ích dài hạn của tiêu dùng bền vững sẽ giúp tăng cường sự phản ứng tích cực của người tiêu dùng và nhà sản xuất đối với các chính sách môi trường. Việc này sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi để quá trình chuyển đổi xanh diễn ra một cách tự nguyện và hiệu quả hơn.

Lồng ghép các chính sách tài khóa phục vụ tăng trưởng xanh với các chương trình giảm nghèo

Chính sách tài khóa cần có những đánh giá chi tiết hơn về những thách thức đối với nhóm dễ bị tổn thương do chuyển đổi xanh. Chẳng hạn, những người nghèo thành thị thường sử dụng nhiên liệu gây ô nhiễm cao như các loại than hay dầu hỏa để làm chất đốt. Nên chính sách đánh thuế lên các loại nhiên liệu này làm gia tăng gánh nặng cho người thu nhập thấp, người nghèo. Đối với các hộ sản xuất nhỏ có máy móc thiết bị sử dụng động cơ diesel, việc đánh thuế cao trên thiết bị và nguyên liệu đầu vào sẽ tăng thêm chi phí sản xuất và giảm khả năng đầu tư và cạnh tranh của họ so với các doanh nghiệp lớn được trợ cấp, ưu đãi khi sử dụng công nghệ xanh.

UNDP cho rằng, việc thiết kế chính sách thay thế đảm bảo được quyền lợi của các nhóm yếu thế là rất quan trọng. Để đảm bảo được thiết kế chính sách có thể thực thi được, Chính phủ cần đánh giá bối cảnh và xu hướng chuyển dịch của môi trường kinh tế vĩ mô, cả trong nước và ngoài nước. Việc khuyến khích sử dụng các công nghệ sạch và hiệu quả hơn có thể không thành công nếu không hiểu được thực trạng của nền kinh tế, chất lượng tăng trưởng và năng suất lao động. Trong điều kiện nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, từ góc độ sản xuất, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, thậm chí siêu nhỏ chiếm phần lớn thì việc chuyển đổi công nghệ sản xuất là một thách thức lớn bởi vì các doanh nghiệp nhỏ và vừa hạn chế về khả năng đầu tư, đổi mới công nghệ.

Tài liệu tham khảo:

  1. OECD (2013). Effective Carbon Prices, OECD Publishing, Paris.
  2. OECD (2015). Towards Green Growth? Tracking Progress, OECD Green Growth Studies, OECD Publishing, Paris.
  3. OECD (2024). Green Finance and Investment. https://www.oecd.org/en/publications/green-finance-and-investment_24090344 html.
  4. Phan Văn Phúc (2022). Tiếp cận chuyển đổi sinh thái - xã hội: Lý thuyết liên ngành cho phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 58(SDMD), 134-141.
  5. UN Environment Programme (UNEP) (2020). Green Economy. https://www.unep.org/regions/asia-and-pacific/regional- initiatives/supporting-resource-efficiency/green-economy.
  6. United Nations (2013). The future we want: resolution/adopted by the General Assembly. https://digitallibrary.un.org/ record/734344?v=pdf.
  7. UNDP (2015). Towards green and inclusive prosperity: Building green economies that deliver on poverty reduction. https://www.undp.org/sites/g/files/zskgke326/files/publications/Towards%20Green%20and%20inclusive%20 prosperity.pdf.
  8. World Commission on Environment and Development (1987). Our common future. Oxford University Press.
Ngày nhận bài: 22/12/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 29/01/2026; Ngày duyệt đăng: 02/02/2026

Tin tức khác

Kiến nghị siết giám sát huy động vốn thông qua token

Kiến nghị siết giám sát huy động vốn thông qua token

Cơ quan An ninh điều tra, Công an TP. Hà Nội kiến nghị tăng cường giám sát hoạt động doanh nghiệp kêu gọi góp vốn thông qua tiền lượng tử, token.
Thị trường tài sản mã hóa cần “luật chơi” về công khai thông tin

Thị trường tài sản mã hóa cần “luật chơi” về công khai thông tin

Thị trường tài sản mã hóa bước vào giai đoạn thí điểm.
Hàng hóa phái sinh: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho công cụ phòng ngừa rủi ro giá

Hàng hóa phái sinh: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho công cụ phòng ngừa rủi ro giá

Việc xây dựng Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh được kỳ vọng tạo khuôn khổ pháp lý, giúp doanh nghiệp sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa biến động giá.
Thông tư về quản lý nguồn thu từ chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp tiếp tục có hiệu lực

Thông tư về quản lý nguồn thu từ chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp tiếp tục có hiệu lực

Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định công bố Thông tư số 57/2022/TT-BTC về quản lý, sử dụng nguồn thu từ chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp tiếp tục có hiệu lực.
Bộ Tài chính khẩn trương xây dựng loạt nghị định để đưa luật mới vào cuộc sống

Bộ Tài chính khẩn trương xây dựng loạt nghị định để đưa luật mới vào cuộc sống

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính chủ trì xây dựng, trình ban hành nhiều nghị định quan trọng, trong đó có quy định chi tiết Nghị quyết về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Phát triển đô thị.
Bộ Tài chính yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát lĩnh vực kế toán

Bộ Tài chính yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát lĩnh vực kế toán

Bộ Tài chính đề nghị các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về kế toán, trong đó ưu tiên kiểm tra trực tuyến, từ xa dựa trên dữ liệu điện tử.
Mở cơ chế phát triển khu kinh tế đặc biệt thành cực tăng trưởng mới

Mở cơ chế phát triển khu kinh tế đặc biệt thành cực tăng trưởng mới

Luật Phát triển đô thị thiết lập cơ sở pháp lý cho phát triển khu kinh tế đặc biệt với các cơ chế, chính sách vượt trội về quy hoạch, hạ tầng, huy động nguồn lực, hướng tới hình thành các cực tăng trưởng mới.
Siết kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng và ban hành văn bản pháp luật

Siết kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng và ban hành văn bản pháp luật

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu người đứng đầu các bộ, cơ quan ngang bộ nâng cao trách nhiệm, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Xem thêm
video thao go nut that ty gia tinh thue cho hang xuat khau

VIDEO: Tháo gỡ nút thắt tỷ giá tính thuế cho hàng xuất khẩu

Cục Hải quan vừa có Công văn hỏa tốc số 21591 gửi Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA) nhằm hướng dẫn chi tiết việc áp dụng tỷ giá đối với hóa đơn hàng hóa xuất khẩu. Văn bản được ban hành sau khi Cục Hải quan tham khảo ý kiến chuyên môn từ Cục Thuế cũng như Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí, nhằm tạo sự thống nhất trong kê khai và xác định nghĩa vụ thuế cho doanh nghiệp. ----------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: / www.financeplus.vn TikTok: / tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: / @kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
video thu ngan sach hai quan 8 thang tang 17 4 dong luc tu cai cach thu tuc va hai quan so

VIDEO: Thu ngân sách hải quan 8 tháng tăng 17,4%: Động lực từ cải cách thủ tục và Hải quan số

Sự chủ động kiến tạo hành lang pháp lý minh bạch cùng đà bứt phá mạnh mẽ trong chuyển đổi số đã trở thành động lực quan trọng giúp ngành Hải quan đóng góp tích cực vào dòng chảy kinh tế đất nước. ------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: / www.financeplus.vn TikTok: / tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: / @kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
podcast thong tin ca nhan bi dung de lap doanh nghiep nguoi dan can lam gi

PODCAST: Thông tin cá nhân bị dùng để lập doanh nghiệp: Người dân cần làm gì?

Thưa quý vị và các bạn! Nếu bạn chưa từng thành lập doanh nghiệp, chưa đăng ký hộ kinh doanh, nhưng bất ngờ phát hiện mình đang đứng tên đại diện pháp luật của một doanh nghiệp, hoặc là chủ một hộ kinh doanh. Điều đáng lo là việc này không chỉ liên quan đến thông tin cá nhân, mà còn có thể kéo theo những rắc rối về thuế, hóa đơn và trách nhiệm pháp lý. Vậy nếu rơi vào tình huống này, quý vị cần làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình? ------------------------------------------------------------------------------------------ Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline
video cac co che tai chinh tiep them tro luc cho doanh nghiep

VIDEO: Các cơ chế tài chính tiếp thêm trợ lực cho doanh nghiệp

Cùng với việc triển khai các chính sách hỗ trợ, đồng thời, phát huy hiệu quả cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tình hình hoạt động của doanh nghiệp trên cả nước trong thời gian qua tiếp tục ghi nhận những con số tích cực. ---------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: / www.financeplus.vn TikTok: / tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: / @kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
video cai cach thu tuc hanh chinh tao dong luc thuc day tang truong 2 con so

VIDEO: Cải cách thủ tục hành chính tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng 2 con số

Cùng với các giải pháp phát triển kinh tế -xã hội, công tác cải cách thủ tục hành chính được xem là một trong những yếu tố tạo động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới quản trị quốc gia, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo dư địa cho phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới. ---------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: / www.financeplus.vn TikTok: / tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: / @kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
Tổng kết thực hiện Luật Quốc phòng, Dân quân tự vệ và Giáo dục quốc phòng, an ninh

Tổng kết thực hiện Luật Quốc phòng, Dân quân tự vệ và Giáo dục quốc phòng, an ninh

Ngày 18/9, tại Hà Nội, Cục Kế hoạch – Tài chính (Bộ Tài chính) chủ trì Hội nghị tổng kết các Luật Quốc phòng, Dân quân tự vệ và Giáo dục quốc phòng và an ninh.
Triển khai Luật Phát triển đô thị từ ngày 1/10/2026

Triển khai Luật Phát triển đô thị từ ngày 1/10/2026

Chính phủ yêu cầu xác định rõ trách nhiệm, tiến độ và cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong tổ chức thi hành Luật Phát triển đô thị.
Hoàn thiện hành lang pháp lý, chuẩn hóa quy trình và thủ tục chỉ định thầu

Hoàn thiện hành lang pháp lý, chuẩn hóa quy trình và thủ tục chỉ định thầu

Thông tư 134/2026/TT-BTC với nhiều điểm quy định mới góp phần chuẩn hóa và đồng bộ hệ thống các mẫu hồ sơ chỉ định thầu, bảo đảm tính công khai, minh bạch cũng như tạo thuận lợi cho chủ đầu tư trong quá trình áp dụng chỉ định thầu.
Lượng hóa đóng góp của văn hóa vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Lượng hóa đóng góp của văn hóa vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết yêu cầu làm rõ giá trị mà văn hóa tạo ra cho nền kinh tế.
Quản lý nguồn thu từ cơ cấu lại vốn nhà nước để đầu tư vào doanh nghiệp và hạ tầng trọng điểm

Quản lý nguồn thu từ cơ cấu lại vốn nhà nước để đầu tư vào doanh nghiệp và hạ tầng trọng điểm

Nghị định 357/2026/NĐ-CP quy định việc quản lý, sử dụng nguồn thu từ cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp và chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần...
Ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật trên phạm vi toàn quốc

Ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật trên phạm vi toàn quốc

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu vừa ký ban hành Quyết định số 1790/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.
Giữ nhịp tăng trưởng cao, tạo sức bật dài hạn cho kinh tế Việt Nam

Giữ nhịp tăng trưởng cao, tạo sức bật dài hạn cho kinh tế Việt Nam

Việt Nam được dự báo tăng trưởng cao nhất trong 6 nền kinh tế lớn Đông Nam Á.
Dấu mốc mới vun đắp hữu nghị, củng cố Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Thái Lan

Dấu mốc mới vun đắp hữu nghị, củng cố Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Thái Lan

Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Nhà vua Thái Lan và Hoàng hậu, mang ý nghĩa lịch sử và tạo thêm dấu mốc quan trọng trong quan hệ Việt Nam - Thái Lan.
Thi công “3 ca 4 kíp” đẩy nhanh tiến độ dự án trọng điểm khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

Thi công “3 ca 4 kíp” đẩy nhanh tiến độ dự án trọng điểm khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu tổ chức thi công “3 ca 4 kíp”, bảo đảm chất lượng, an toàn và hoàn thành đúng kế hoạch các dự án giao thông, năng lượng trọng điểm tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Mở dư địa mới cho thương mại biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc

Mở dư địa mới cho thương mại biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc

Kết nối hạ tầng, doanh nghiệp và các mắt xích trong chuỗi giá trị đang mở ra dư địa mới cho thương mại biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc.
Du lịch trải nghiệm Việt Nam: Chuyển tiềm năng thành giá trị tăng trưởng

Du lịch trải nghiệm Việt Nam: Chuyển tiềm năng thành giá trị tăng trưởng

Du lịch trải nghiệm Việt Nam có cơ hội bứt phá tại châu Á, song cần nâng chất lượng sản phẩm, tăng liên kết, ứng dụng công nghệ và gia tăng giá trị.
Xuất khẩu thủy sản mở rộng thị trường nội địa

Xuất khẩu thủy sản mở rộng thị trường nội địa

Thị trường hơn 100 triệu dân mở dư địa tăng trưởng mới cho thủy sản, khi doanh nghiệp đưa hàng chế biến sâu, đạt chuẩn xuất khẩu đến gần người tiêu dùng Việt.
Kinh tế, tài chính và kinh doanh trong bối cảnh mới: “Cuộc chơi” của công nghệ số

Kinh tế, tài chính và kinh doanh trong bối cảnh mới: “Cuộc chơi” của công nghệ số

Ngày 18/9, Trường Đại học Tài chính – Marketing (UFM) tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế “Kinh tế, tài chính và kinh doanh trong bối cảnh mới”.
Cơ chế sandbox thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới sáng tạo

Cơ chế sandbox thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới sáng tạo

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đóng vai trò quan trọng để thúc đẩy các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, đưa các công nghệ mới, sản phẩm mới ra thị trường.
Nông nghiệp mở động lực tăng trưởng mới

Nông nghiệp mở động lực tăng trưởng mới

Nông nghiệp chuyển từ tăng sản lượng sang nâng năng suất, giá trị từ công nghệ, chế biến sâu và kinh tế xanh tạo động lực tăng trưởng mới.
Tạp chí Kinh tế - Tài chính và TAHUBA ký kết Thỏa thuận hợp tác truyền thông, kết nối thương mại

Tạp chí Kinh tế - Tài chính và TAHUBA ký kết Thỏa thuận hợp tác truyền thông, kết nối thương mại

Trong khuôn khổ sự kiện Kết nối giao thương Hội Doanh nghiệp phường Tân Hưng, đơn vị này và Tạp chí Kinh tế - Tài chính đã ký kết Thỏa thuận hợp tác truyền thông.
Liên kết vùng, tạo cơ hội cho kinh tế tư nhân phát triển

Liên kết vùng, tạo cơ hội cho kinh tế tư nhân phát triển

Doanh nghiệp kỳ vọng sẽ mở thêm dư địa cho kinh tế tư nhân, tạo động lực tăng trưởng mới.
Điều chỉnh giá bán các mặt hàng xăng dầu từ 15h ngày 17/9

Điều chỉnh giá bán các mặt hàng xăng dầu từ 15h ngày 17/9

Bộ Công Thương thông tin, từ 15h ngày 17/9, giá các mặt hàng xăng dầu trong nước được điều chỉnh theo diễn biến giá xăng dầu thế giới và các quy định hiện hành.