Đồng bộ eCDT, nâng năng lực quản trị biển bằng dữ liệu
![]() |
| Quản trị biển bằng dữ liệu, xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. |
Ngày 31/12/2025, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Thông tư số 81/2025/TT-BNNMT quy định về ghi, nộp báo cáo, nhật ký khai thác thủy sản; kiểm tra tàu cá, giám sát sản lượng thủy sản tại cảng cá; danh sách tàu cá khai thác bất hợp pháp; xác nhận nguyên liệu và chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác. Theo khoản 5 Điều 22 của Thông tư, Hệ thống truy xuất nguồn gốc khai thác thủy sản điện tử eCDT được áp dụng để quản lý tàu cá rời cảng, cập cảng và cấp giấy biên nhận sản phẩm thủy sản khai thác bốc dỡ từ ngày 1/3/2026, đồng thời quy định lộ trình thực hiện truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác trên hệ thống.
Sau 6 tháng triển khai, tính đến ngày 1/9/2026, cả nước có 48.624 trong tổng số 80.209 tàu cá từ 6 m trở lên tham gia hệ thống eCDT, tương đương 60,62%. Đây là tỷ lệ cho thấy hệ thống đã từng bước được đưa vào thực tiễn quản lý, song cũng phản ánh dư địa rất lớn để hoàn thiện. Đáng chú ý, một số địa phương đã tổ chức triển khai tương đối đồng bộ, với tỷ lệ tàu cá tham gia trên 90%, như Nghệ An đạt 97,88%, Quảng Ngãi 96,42%, Ninh Bình 96,13% và Thanh Hóa 94,89%.
Trong khi đó, tỷ lệ tham gia tại một số địa phương còn thấp, tạo khoảng cách đáng kể trong thực hiện như. Tây Ninh đạt 12,30%; Hà Tĩnh 17,21%; An Giang 22,14%; Vĩnh Long 40,67%; Cà Mau 41,58% và TP. Huế 46,25%. Chênh lệch giữa các địa phương cho thấy việc triển khai eCDT chưa đồng đều, không chỉ về mức độ tham gia của tàu cá đó còn là năng lực tổ chức kiểm soát, cập nhật và khai thác dữ liệu tại từng địa phương.
Đáng quan tâm hơn, hệ thống eCDT không đơn thuần chỉ là tỷ lệ tàu cá đã đăng ký hoặc tham gia hệ thống mà giá trị cốt lõi nằm ở khả năng hình thành chuỗi dữ liệu đầy đủ, chính xác và có thể đối chiếu từ khi tàu cá rời cảng, hoạt động khai thác trên biển, cập cảng cho đến khi sản phẩm được bốc dỡ và xác nhận nguồn gốc. Mỗi khâu trong lịch trình này không được cập nhật đầy đủ có thể tạo ra khoảng trống dữ liệu, làm giảm khả năng kiểm soát toàn bộ chuỗi khai thác.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường việc tổ chức kiểm soát tàu cá ra, vào cảng và cập nhật thông tin trên hệ thống eCDT tại một số địa phương chưa đồng bộ có thể ảnh hưởng đến tính đầy đủ, chính xác và khả năng đối chiếu dữ liệu. Điều này tác động trực tiếp đến công tác kiểm soát hoạt động khai thác, giám sát sản lượng thủy sản bốc dỡ tại cảng và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Đây cũng là những nội dung có ý nghĩa đặc biệt trong quá trình tăng cường chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).
Do đó, hệ thống eCDT không chỉ như một ứng dụng công nghệ phục vụ thủ tục hành chính, mà còn là một cấu phần của phương thức quản trị nghề cá hiện đại. Dữ liệu về tàu cá, chuyến biển, thời gian ra vào cảng, sản lượng khai thác và nguồn gốc sản phẩm khi được chuẩn hóa sẽ giúp cơ quan quản lý chuyển từ cách thức kiểm soát phân tán sang quản lý dựa trên dữ liệu. Đây là bước chuyển quan trọng giúp nâng cao tính minh bạch và hiệu quả quản lý nguồn lợi thủy sản.
Định hướng này cũng phù hợp với yêu cầu đặt ra tại Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Nghị quyết đặt vấn đề phát triển kinh tế biển gắn với nâng cao năng lực quản trị, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong đó, dữ liệu ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng để quản lý không gian biển, khai thác hiệu quả tài nguyên và bảo đảm phát triển bền vững.
Tiếp đó, Nghị quyết số 218/NQ-CP ngày 7/8/2026 của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW đã cụ thể hóa yêu cầu phát triển kinh tế biển theo hướng hiện đại, xanh, thông minh, dựa trên khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Do vậy, việc xây dựng các hệ thống dữ liệu chuyên ngành trong đó có hệ thống eCDT sẽ đóng góp vào quá trình hiện đại hóa quản trị biển.
Để đồng bộ hệ thống dữ liệu, khắc phục chênh lệch giữa các địa phương trong triển khai thực hiện hệ thống eCDT thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố ven biển trực tiếp chỉ đạo rà soát, đối chiếu dữ liệu tàu cá từ 6m trở lên với thông tin trên eCDT. Các địa phương phải xác định cụ thể những tàu chưa tham gia hệ thống, chưa thực hiện đầy đủ thủ tục hoặc chưa cập nhật dữ liệu theo quy định; đồng thời làm rõ nguyên nhân và tổ chức khắc phục. Đây là bước cần thiết để thu hẹp khoảng trống dữ liệu và bảo đảm tính thống nhất trong quản lý.
![]() |
| Hoàn thiện dữ liệu hệ thống eCDT, nâng năng lực quản trị biển bằng dữ liệu (Ảnh minh họa có sự hỗ trợ AI) |
Bên cạnh việc hoàn thiện dữ liệu, yếu tố con người được xác định đóng vai trò quyết định. Các địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, tập huấn, hướng dẫn ngư dân thực hiện đúng quy trình khai báo tàu cá rời cảng, cập cảng, qua trạm kiểm soát biên phòng và truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác trên eCDT. Việc số hóa chỉ phát huy hiệu quả khi người sử dụng hiểu rõ quy trình và thực hiện đầy đủ, chính xác ngay từ đầu.
Nguồn lực cho vận hành hệ thống cũng cần được bảo đảm tương xứng. Cơ sở hạ tầng, nhân lực, thiết bị và năng lực cập nhật dữ liệu tại cảng cá phải đáp ứng yêu cầu thực tế. Đồng thời, công tác kiểm tra, tuần tra, kiểm soát cần được tăng cường để kịp thời phát hiện, xử lý các trường hợp bốc dỡ sản phẩm thủy sản khai thác không đúng quy định.
Về lâu dài, hệ thống eCDT cần tiếp tục được chuẩn hóa và kết nối với các cơ sở dữ liệu khác về tàu cá, cảng cá, nguồn lợi thủy sản, sản lượng khai thác và thị trường. Khi dữ liệu được liên thông, cơ quan quản lý có thể hình thành bức tranh đầy đủ hơn về hoạt động khai thác trên biển, từ đó nâng cao khả năng giám sát, dự báo và điều hành. Đây cũng là nền tảng để từng bước chuyển từ quản lý theo hồ sơ sang quản trị dựa trên dữ liệu.
Với 48.624 tàu cá từ 6m trở lên đã tham gia hệ thống eCDT sau 6 tháng triển khai cho thấy quá trình số hóa quản lý khai thác thủy sản đã bước đầu phát huy hiệu quả, Tuy nhiên, chênh lệch giữa các địa phương cho thấy yêu cầu đồng bộ vẫn rất cấp thiết. Hoàn thiện hệ thống eCDT vì thế không chỉ là nâng chất lượng truy xuất nguồn gốc và chống IUU, mà còn góp phần xây dựng phương thức quản trị biển hiện đại, minh bạch, dựa trên dữ liệu. Đồng bộ hệ thống eCDT sẽ là một bước tiến quan trọng trong nâng cao năng lực quản trị biển và hiện thực hóa mục tiêu xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Tin tức khác
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới hỗ trợ nhân đạo gia đình các nạn nhân tai nạn giao thông tại Lạng Sơn
Xác định nội dung kiểm tra chuyên ngành về dự trữ quốc gia
Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản mở rộng kết nối dữ liệu
Xuất cấp bổ sung hơn 130 tấn gạo dự trữ hỗ trợ học sinh tỉnh Hà Tĩnh
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới hỗ trợ nhân đạo nạn nhân tai nạn giao thông tại Hải Phòng
Chương trình “Bản sắc” đưa giá trị văn hóa Việt Nam lên không gian số
Đề xuất gia hạn thời gian xuất cấp gạo hỗ trợ học sinh, học viên tỉnh Quảng Ninh
VIDEO: Tham gia vào chỉ số thị trường mới nổi của FTSE GEIS - Dấu mốc lịch sử với thị trường tài chính Việt Nam
PODCAST: Thị trường chứng khoán Việt Nam tuần 14-18/9/2026
PODCAST: Fed tăng lãi suất, tỷ giá và lãi suất Việt Nam giữ thế chủ động
VIDEO: Tháo gỡ nút thắt tỷ giá tính thuế cho hàng xuất khẩu
VIDEO: Thu ngân sách hải quan 8 tháng tăng 17,4%: Động lực từ cải cách thủ tục và Hải quan số
Tôn vinh những người lao động bền bỉ sáng tạo trong dòng chảy công nghệ
Thông điệp Việt Nam về hòa bình, hợp tác và củng cố lòng tin cùng phát triển
Giám đốc Kho bạc Nhà nước Trần Quân được điều động giữ chức Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lạng Sơn
Tổng kết thực hiện Luật Quốc phòng, Dân quân tự vệ và Giáo dục quốc phòng, an ninh
Triển khai Luật Phát triển đô thị từ ngày 1/10/2026
Hoàn thiện hành lang pháp lý, chuẩn hóa quy trình và thủ tục chỉ định thầu
Lượng hóa đóng góp của văn hóa vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Quản lý nguồn thu từ cơ cấu lại vốn nhà nước để đầu tư vào doanh nghiệp và hạ tầng trọng điểm
Ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật trên phạm vi toàn quốc
Hàng loạt dự án lớn tạo lực đẩy cho công nghiệp và hạ tầng
Vốn cho hạ tầng không thể chỉ dựa vào ngân hàng
Đánh thức nguồn lực 6 triệu người Việt Nam ở nước ngoài cho tăng trưởng
CEO Techcombank: Tăng trưởng GDP 10%, Việt Nam cần khoảng 1.100 tỷ USD vốn trong 5 năm tới
Rà soát kỹ hiệu quả, nguồn vốn và sự cần thiết đầu tư dự án cao tốc Bảo Hà - Lai Châu
Hướng tới tăng trưởng 10%, UOB nhấn mạnh hiệu quả sử dụng vốn
TP. Hồ Chí Minh tăng tốc các tháng cuối năm, đảm bảo tăng trưởng 2 con số
Mở dư địa mới cho thương mại biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc










