Đa dạng hóa sản phẩm trái phiếu để mở rộng nguồn vốn dài hạn
![]() |
| Các chuyên gia trao đổi tại phiên thảo luận "Chiến lược phát triển thị trường vốn cho giai đoạn tăng trưởng mới của Việt Nam”. |
Thêm công cụ huy động vốn cho hạ tầng, dự án
Đến giữa năm 2026, dư nợ thị trường trái phiếu đạt khoảng 32,1% GDP. Trong đó, trái phiếu doanh nghiệp tương đương 11,6% GDP, khoảng 1,3 triệu tỷ đồng; trái phiếu Chính phủ đạt khoảng 20,5% GDP, tương đương 2,5 triệu tỷ đồng. Quy mô thị trường đã tăng lên, song vẫn còn khoảng cách khá xa so với mục tiêu đến năm 2030 đạt 58% GDP, trong đó trái phiếu doanh nghiệp tối thiểu 25% GDP.
Các ngân hàng chiếm khoảng 68% tổng lượng trái phiếu doanh nghiệp phát hành, cho thấy nguồn vốn huy động qua kênh này phần lớn vẫn tập trung vào hệ thống ngân hàng, chưa tính tỷ lệ tín dụng ngân hàng trên GDP ở mức khoảng 145-150%. Trong khi đó, nguồn vốn ngân hàng chủ yếu đến từ tiền gửi, thường có kỳ hạn ngắn. Nếu nguồn vốn này phải đảm nhận phần lớn nhu cầu tài trợ dài hạn, áp lực chênh lệch kỳ hạn sẽ gia tăng.
Vì vậy, phát triển đa dạng sản phẩm trái phiếu, hoàn thiện hạ tầng thị trường và mở rộng cơ sở nhà đầu tư là những yêu cầu cần thiết để tăng nguồn vốn dài hạn trực tiếp cho nền kinh tế, giảm áp lực lên tín dụng ngân hàng.
Tại phiên thảo luận “Chiến lược phát triển thị trường vốn cho giai đoạn tăng trưởng mới của Việt Nam” - Diễn đàn Chứng khoá châu Á lần thứ 31, bà Tehmina Khan, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết, cơ cấu tài trợ cần phù hợp với loại hình đầu tư, thời gian triển khai dự án, khả năng sinh lời và thời điểm thu hồi vốn. Vì vậy, không có một tỷ lệ phân bổ cố định giữa các nguồn vốn có thể áp dụng cho mọi nhu cầu đầu tư.
“Trong bối cảnh đó, vấn đề không đơn giản là chuyển vốn từ kênh này sang kênh khác, mà là xây dựng thêm các kênh mới”, bà Tehmina Khan nhận định.
Việt Nam cần phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường cổ phiếu và cả hoạt động trên thị trường sơ cấp, thứ cấp để đưa dòng tiết kiệm tới những ngành, dự án cần vốn.
Ông Ngô Thế Triệu, Phó Tổng thư ký VBMA, Tổng Giám đốc Optima Wealth Partners phân tích rằng, thực tế, ngân hàng có thế mạnh trong tài trợ giai đoạn xây dựng và giám sát quá trình triển khai dự án. Khi công trình đi vào vận hành, bắt đầu tạo ra dòng tiền và rủi ro xây dựng giảm xuống, có thể xem xét huy động vốn từ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, quỹ hưu trí và các tổ chức quản lý tài sản.
Các dự án điện mặt trời, đường cao tốc thu phí, cảng quốc tế đã vận hành và có dòng tiền là những đối tượng có thể xem xét huy động vốn theo hướng này. Việc chứng khoán hóa tài sản để chuyển các khoản tài trợ dài hạn ra khỏi bảng cân đối kế toán ngân hàng, tạo thêm dư địa tài trợ cho dự án mới cũng là khả thi.
Bên cạnh trái phiếu hạ tầng và trái phiếu dự án, ông Triệu nêu một số hướng phát triển khác, gồm trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, công cụ huy động vốn gắn với dự án hợp tác công – tư và trái phiếu chính quyền địa phương. Đây là những đề xuất nhằm bổ sung nguồn vốn cho các nhu cầu đầu tư khác nhau của nền kinh tế.
Với trái phiếu xanh, ông Ricco Zhang, Giám đốc cấp cao khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Hiệp hội Thị trường vốn quốc tế (ICMA), lưu ý rằng yếu tố xanh phải đi cùng chất lượng tín dụng của tổ chức phát hành.
“Trái phiếu xanh trước hết vẫn là trái phiếu”, ông Zhang nhấn mạnh. Bên cạnh mục tiêu môi trường, xếp hạng tín nhiệm và khả năng đáp ứng kỳ vọng của nhà đầu tư vẫn giữ vai trò quan trọng khi tổ chức phát hành tiếp cận thị trường vốn.
Sản phẩm mới cần nền tảng thị trường và nhà đầu tư dài hạn
Theo ông Ricco Zhang, phát triển thị trường trái phiếu đòi hỏi một hệ thống đa dạng gồm nhiều nhóm sản phẩm. Tuy nhiên, để các sản phẩm vận hành hiệu quả, cần xây dựng một hệ sinh thái tài trợ đáng tin cậy, trong đó khoảng cách thông tin giữa tổ chức phát hành và nhà đầu tư được thu hẹp.
Một nền tảng là đường cong lợi suất trái phiếu Chính phủ có chất lượng, giúp hình thành mức giá tham chiếu để nhà đầu tư đánh giá các khoản đầu tư dài hạn và rủi ro doanh nghiệp. Hoạt động tạo lập thị trường, giao dịch mua bán lại và hạ tầng thanh toán cũng cần được phát triển đồng bộ.
Cùng với đó là khuôn khổ pháp lý rõ ràng. Theo đại diện ICMA, nhà đầu tư cần biết các biện pháp bảo đảm có thể được thực thi như thế nào; quy định về phá sản, thuế và kế toán được áp dụng ra sao. Sự rõ ràng của những yếu tố này có ý nghĩa đối với quyết định tham gia các giao dịch dài hạn.
Ông Zhang đặc biệt nhấn mạnh việc chuẩn hóa công bố thông tin và hồ sơ phát hành. Các tài liệu về rủi ro, báo cáo tài chính, quy trình thẩm định và thông tin sau phát hành cần tạo điều kiện cho nhà đầu tư so sánh giữa các tổ chức phát hành cũng như qua các thời kỳ.
Đối với những doanh nghiệp muốn phát hành thường xuyên trên thị trường quốc tế, yêu cầu còn nằm ở năng lực vận hành trong toàn bộ vòng đời trái phiếu. Tổ chức phát hành cần có đội ngũ ngân quỹ, pháp lý đủ kinh nghiệm, đại lý thanh toán đáng tin cậy, khả năng thanh toán và cơ chế báo cáo sau phát hành. Quan hệ với nhà đầu tư cũng phải được duy trì thường xuyên.
Ở phía nguồn vốn, bà Tehmina Khan cho biết, Việt Nam có tỷ lệ tiết kiệm khoảng 37% GDP, trong khi tỷ lệ đầu tư trong những năm trước vào khoảng 30%. Theo đó, thách thức là dẫn dòng tiết kiệm vào hoạt động đầu tư, đặc biệt là các dự án dài hạn.
Từ kinh nghiệm Australia, Malaysia và Hàn Quốc, bà đề cập vai trò của quỹ hưu trí và các tổ chức quản lý vốn chuyên nghiệp. Điểm chung của các thị trường này là trao cho nhà quản lý quỹ sự độc lập trong quản trị rủi ro và phạm vi đầu tư tương đối rộng. Việc lựa chọn tài sản phải dựa trên khả năng sinh lời, mức độ rủi ro và nhu cầu của người gửi tiết kiệm.
Ông Isao Hishikawa, đại diện Hiệp hội Các nhà kinh doanh chứng khoán Nhật Bản (JSDA) cũng cho rằng, độ sâu của cơ sở nhà đầu tư trong nước là yếu tố được các tổ chức quốc tế quan tâm khi đánh giá thị trường. Việc thu hút thêm nhà đầu tư tổ chức cần đi cùng cải thiện quản trị doanh nghiệp và duy trì môi trường pháp lý ổn định, có thể dự đoán.
Đối với các dự án hạ tầng, ông Hishikawa nhận định việc kết hợp các công cụ bảo lãnh, tăng cường tín dụng có thể hỗ trợ thu hút vốn từ Nhật Bản. Tuy nhiên, để mở rộng dòng vốn ở quy mô lớn, các biện pháp này vẫn cần đi cùng việc hoàn thiện những nền tảng về quản trị, pháp lý và cơ sở nhà đầu tư.
Tin tức khác
Khởi tranh giải bóng đá chào mừng 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
Tiếp tục nâng chuẩn thị trường chứng khoán sau nâng hạng
Bộ Tài chính ban hành quy định mới về ký quỹ và thanh toán chứng khoán theo cơ chế CCP
HoSE xây dựng chỉ số VNPRIVGRO cho nhóm cổ phiếu kinh tế tư nhân tăng trưởng
Thị trường vốn trước bài toán huy động 80 tỷ USD mỗi năm
Cổ phiếu ECO của Nhựa Sinh thái Việt Nam chính thức niêm yết trên HoSE
Việt Nam hướng tới thị trường vốn minh bạch, hiệu quả và hội nhập
VIDEO: Gia hạn ưu đãi thuế ô tô đến năm 2032: "Cú hích" thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu xe Việt
VIDEO: Mở rộng kênh dẫn vốn cho giai đoạn tăng trưởng mới
PODCAST: Bức tranh tăng trưởng GRDP 9 tháng năm 2026: Những “cú bứt tốc” đáng chú ý
PODCAST: Bộ Tài chính lưu ý 5 nội dung quan trọng trong chấm điểm giải ngân đầu tư công
VIDEO: Giải bài toán chi phí logistics: "Cởi trói" biên lợi nhuận cho hàng xuất khẩu Việt
Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài tăng gấp 3,3 lần so với cùng kỳ
Dư nợ tín dụng đạt 20,75 triệu tỷ đồng, tiếp tục hướng vốn vào các động lực tăng trưởng
Chính phủ kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số, tăng tốc trong 3 tháng cuối năm
Tiếp tục nâng chuẩn thị trường chứng khoán sau nâng hạng
Bộ trưởng Bộ Tài chính: Dồn lực cho các động lực tăng trưởng trong quý IV
Quyết tâm cao, hành động quyết liệt để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Kinh tế 9 tháng năm 2026: Tăng trưởng lan tỏa, nhiều động lực bứt phá
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính
Tinh gọn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, mỗi chủ thể chỉ ban hành 1 hình thức
Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài tăng gấp 3,3 lần so với cùng kỳ
Sức mua cải thiện, tạo nền tảng thúc đẩy thị trường tiêu dùng cuối năm
Giá đầu vào sản xuất tăng, nguồn cung hàng hóa vẫn được bảo đảm
Kích hoạt các động lực tăng trưởng cho chặng nước rút năm 2026
Thu hút đầu tư nước ngoài công phá đỉnh kỷ lục mới, vượt mốc 50 tỷ USD
Xuất nhập khẩu hàng hóa 9 tháng đạt 888,02 tỷ USD
GDP 9 tháng năm 2026 tăng 9,01%, kinh tế Việt Nam dồn lực cho quý nước rút
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng tăng 13,4%









