Giá đầu vào sản xuất tăng, nguồn cung hàng hóa vẫn được bảo đảm
![]() |
| Nguồn dữ liệu: Cục Thống kê |
Giá sản xuất công nghiệp tăng 4,37%
Theo báo cáo tổng quan chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất, chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu quý III và 9 tháng năm 2026 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), mặt bằng giá sản xuất trong 9 tháng chịu tác động đan xen từ diễn biến thị trường thế giới, chi phí đầu vào và nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong nước.
| Nguồn cung hàng hóa cơ bản được bảo đảm, thị trường nhìn chung ổn định. Tuy nhiên, biến động của giá năng lượng thế giới, chi phí logistics và giá nguyên liệu nhập khẩu tiếp tục tác động đến chi phí đầu vào của nhiều ngành sản xuất, kinh doanh. Cùng với sự phục hồi của nhu cầu sản xuất và tiêu dùng, các yếu tố này làm gia tăng chi phí vận tải, vật liệu xây dựng, phân bón, bao bì, nhựa, hóa chất và một số dịch vụ, qua đó tác động đến chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất trong 9 tháng năm 2026. |
Cụ thể là giá năng lượng, nguyên vật liệu và chi phí vận tải trên thế giới biến động mạnh, duy trì ở mức cao tại nhiều thời điểm, tạo áp lực lên chi phí đầu vào và giá sản xuất. Bên cạnh đó, những thay đổi về chính sách thuế quan và các biện pháp hạn chế xuất khẩu tiếp tục ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng và giá hàng hóa xuất nhập khẩu.
Tính chung 9 tháng năm 2026, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,11% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 4,37%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 4,02%. Trong khi đó, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 5,12%.
Đối với khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chỉ số giá sản xuất bình quân 9 tháng tăng 4,11%. Trong đó, giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 4,14%; lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 5,42%; thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 3,63%.
Trong nông nghiệp, chỉ số giá sản phẩm từ cây hằng năm tăng 0,81%. Giá rau, đậu các loại và hoa tăng 7,33%, chủ yếu do mưa lớn kéo dài trong quý III ảnh hưởng đến sản xuất, làm giảm sản lượng và nguồn cung tại các vùng sản xuất. Ngược lại, giá thóc khô giảm 4,14% do nguồn cung trong nước dồi dào trong khi áp lực cạnh tranh từ thị trường xuất khẩu tăng.
Chỉ số giá sản phẩm từ cây lâu năm tăng 6,07%. Trong đó, hạt điều khô tăng 10,71%; chè tăng 5,56%; mủ cao su khô tăng 4,44%. Ở chiều ngược lại, cà phê nhân giảm 7,75% do nguồn cung cà phê trên thị trường tăng.
Đáng chú ý, trong 3 khu vực sản xuất chính, công nghiệp ghi nhận mức tăng chỉ số giá cao nhất, với 4,37% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, chỉ số giá sản xuất nhóm khai khoáng tăng 6,83%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,28%; điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 4,48%; nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,53%.
Riêng khai khoáng, giá dầu thô và khí đốt tự nhiên khai thác tăng 10,88%, chủ yếu do giá năng lượng thế giới tăng trước diễn biến địa chính trị phức tạp, đặc biệt tại Trung Đông.
Giá quặng kim loại và tinh quặng kim loại tăng 19,91%, trong khi sản phẩm khai khoáng khác tăng 11,76% do nhu cầu vật liệu xây dựng như đá, cát tăng khi các dự án đầu tư công, hạ tầng giao thông được đẩy mạnh triển khai, cùng với chi phí khai thác, nhiên liệu và vận chuyển tăng.
Trong công nghiệp chế biến, chế tạo, một số nhóm sản phẩm ghi nhận mức tăng đáng kể. Chỉ số giá than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 15,20%; hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 8,27%; sản phẩm kim loại tăng 6,27%; sản phẩm chế biến từ gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 5,47%.
Chỉ số giá sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 4,32%, trong khi sản phẩm trang phục tăng 3,98%.
Đối với khu vực dịch vụ, chỉ số giá sản xuất 9 tháng tăng 4,02%. Trong đó, dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 7,11%; vận tải, kho bãi tăng 6,77%; hoạt động dịch vụ khác tăng 5,99%; giáo dục và đào tạo tăng 3,51%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 0,73%.
Giá dịch vụ vận tải, kho bãi tăng trong bối cảnh giá nhiên liệu biến động lớn. Cụ thể, dịch vụ vận tải đường sắt và đường bộ tăng 7,78%; vận tải đường thủy tăng 8,37%; vận tải hàng không tăng 7,34%. Dịch vụ kho bãi và các dịch vụ liên quan đến hỗ trợ vận tải tăng 5,23%.
Giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào tăng 5,12%
Áp lực chi phí đầu vào cũng thể hiện qua chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất. Bình quân 9 tháng năm 2026, chỉ số này tăng 5,12% so với cùng kỳ năm trước.
![]() |
| Nguồn dữ liệu: Cục Thống kê |
Trong đó, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,62%. Một số nguyên liệu ghi nhận mức tăng cao như sản phẩm cây lấy củ có chất bột tăng 22,45%; mủ cao su khô tăng 15,99%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 6,75%; ngô và sản phẩm lương thực có hạt khác tăng 5,07%.
Đối với công nghiệp chế biến, chế tạo, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào tăng 5,04%. Trong đó, sản phẩm từ chế biến dầu mỏ tăng 26,18%; dây và thiết bị dây dẫn tăng 13,02%; hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 11,93%; cấu kiện kim loại tăng 9,65%.
Theo Cục Thống kê, giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng chủ yếu do giá nguyên liệu, năng lượng trên thị trường thế giới và chi phí nhập khẩu, vận chuyển tăng. Giá năng lượng chịu tác động đáng kể từ những gián đoạn nguồn cung và hoạt động vận tải liên quan đến căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông.
Trong quý III, diễn biến giá có sự phân hóa so với quý trước. Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 0,47%, trong khi nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 1,16%; dịch vụ giảm 0,13%. Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất cũng giảm 0,13% so với quý II.
| Theo đánh giá tại báo cáo của Cục Thống kê, trong 9 tháng qua, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã chủ động, quyết liệt chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai đồng bộ các giải pháp giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn và hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Công tác quản lý, điều hành giá được thực hiện chủ động, linh hoạt, bám sát diễn biến cung - cầu và giá cả thị trường trong nước, quốc tế; tập trung vào các mặt hàng thiết yếu, hàng hóa thuộc diện bình ổn giá và các yếu tố có ảnh hưởng lớn đến chi phí sản xuất, lưu thông. Đối với xăng dầu và năng lượng, các giải pháp điều hành giá, bảo đảm nguồn cung, sử dụng công cụ thuế, phí và các biện pháp hỗ trợ phù hợp đã góp phần hạn chế tác động bất lợi của biến động giá thế giới đến mặt bằng giá trong nước. Bên cạnh đó, các biện pháp bảo đảm nguồn cung hàng hóa, cân đối cung - cầu, tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống đầu cơ, găm hàng tiếp tục được triển khai, góp phần hạn chế biến động giá bất thường. Chính sách tiền tệ, tín dụng, tỷ giá và tài khóa được điều hành linh hoạt, hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh và góp phần kiểm soát chi phí đầu vào. |
Tin tức khác
Thu hút đầu tư nước ngoài công phá đỉnh kỷ lục mới, vượt mốc 50 tỷ USD
Xuất nhập khẩu hàng hóa 9 tháng đạt 888,02 tỷ USD
GDP 9 tháng năm 2026 tăng 9,01%, kinh tế Việt Nam dồn lực cho quý nước rút
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng tăng 13,4%
Kinh tế tầm thấp: Mở không gian tăng trưởng mới, hướng tới đóng góp 1,5% GDP
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 tăng 9,95%
Kinh tế 9 tháng năm 2026: Tăng trưởng lan tỏa, nhiều động lực bứt phá
VIDEO: Gia hạn ưu đãi thuế ô tô đến năm 2032: "Cú hích" thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu xe Việt
VIDEO: Mở rộng kênh dẫn vốn cho giai đoạn tăng trưởng mới
PODCAST: Bức tranh tăng trưởng GRDP 9 tháng năm 2026: Những “cú bứt tốc” đáng chú ý
PODCAST: Bộ Tài chính lưu ý 5 nội dung quan trọng trong chấm điểm giải ngân đầu tư công
VIDEO: Giải bài toán chi phí logistics: "Cởi trói" biên lợi nhuận cho hàng xuất khẩu Việt
Dư nợ tín dụng đạt 20,75 triệu tỷ đồng, tiếp tục hướng vốn vào các động lực tăng trưởng
Chính phủ kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số, tăng tốc trong 3 tháng cuối năm
Tiếp tục nâng chuẩn thị trường chứng khoán sau nâng hạng
Bộ trưởng Bộ Tài chính: Dồn lực cho các động lực tăng trưởng trong quý IV
Quyết tâm cao, hành động quyết liệt để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Kinh tế 9 tháng năm 2026: Tăng trưởng lan tỏa, nhiều động lực bứt phá
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính
Tinh gọn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, mỗi chủ thể chỉ ban hành 1 hình thức
522 kiến nghị được xử lý, kịp thời tháo gỡ vướng mắc thể chế
Giá đầu vào sản xuất tăng, nguồn cung hàng hóa vẫn được bảo đảm
Kích hoạt các động lực tăng trưởng cho chặng nước rút năm 2026
Thu hút đầu tư nước ngoài công phá đỉnh kỷ lục mới, vượt mốc 50 tỷ USD
Xuất nhập khẩu hàng hóa 9 tháng đạt 888,02 tỷ USD
GDP 9 tháng năm 2026 tăng 9,01%, kinh tế Việt Nam dồn lực cho quý nước rút
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng tăng 13,4%
Kinh tế tầm thấp: Mở không gian tăng trưởng mới, hướng tới đóng góp 1,5% GDP
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 tăng 9,95%










