Chuyển đổi xanh mở không gian phát triển mới cho công nghiệp nông thôn
![]() |
| Chuyển đổi xanh không chỉ đáp ứng yêu cầu môi trường, mà còn tạo điều kiện để sản phẩm địa phương tiếp cận những phân khúc thị trường có yêu cầu cao hơn và có giá trị gia tăng lớn hơn. |
Xanh hóa sản xuất, nâng cao giá trị sản phẩm
Quyết định số 150/QĐ-TTg ngày 28/1/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả, bền vững, có sức cạnh tranh cao; phát triển nông thôn toàn diện, hiện đại, xanh, sạch, đẹp, văn minh.
Đây không chỉ là định hướng đối với sản xuất nông nghiệp mà còn đặt ra yêu cầu đối với các ngành nghề, hoạt động sản xuất gắn với khu vực nông thôn. Trong đó, công nghiệp nông thôn giữ vai trò quan trọng trong khai thác nguồn lực tại chỗ, tạo việc làm, nâng giá trị nguyên liệu và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn.
Công nghiệp nông thôn bao gồm nhiều lĩnh vực, từ thủ công mỹ nghệ, chế biến nông, lâm, thủy sản và thực phẩm đến sản xuất máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng cơ khí và các sản phẩm khác. Điểm chung của khu vực này là sự gắn bó với nguồn nguyên liệu, lao động, ngành nghề và điều kiện sản xuất tại địa phương.
Đây cũng là lợi thế để hình thành những sản phẩm mang dấu ấn riêng. Nguồn nguyên liệu tại chỗ, nghề truyền thống, tri thức bản địa, bản sắc văn hóa và câu chuyện về vùng đất, con người có thể trở thành những giá trị khác biệt, góp phần xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường.
Tuy nhiên, để bảo đảm sức cạnh tranh trong điều kiện thị trường ngày càng thay đổi. Người tiêu dùng và hệ thống phân phối hiện đại không chỉ quan tâm sản phẩm được làm ra như thế nào, mà còn chú ý đến nguồn gốc nguyên liệu, quy trình sản xuất, mức tiêu hao tài nguyên và truy xuất sản phẩm.
Đối với thị trường xuất khẩu, yêu cầu này càng rõ nét. Các tiêu chuẩn về chất lượng, an toàn, môi trường, trách nhiệm trong sản xuất và tính minh bạch ngày càng được coi trọng. Do đó, nâng cao năng lực cạnh tranh của công nghiệp nông thôn không thể chỉ dựa vào mở rộng sản lượng, mà phải bắt đầu từ việc nâng chất lượng và chuẩn hóa toàn bộ quá trình sản xuất.
Từ thực tế đó, chuyển đổi xanh cần được nhìn nhận như một giải pháp nâng cao sản xuất từ tiết kiệm điện, nước, nguyên liệu đến đổi mới thiết bị; giảm phế phẩm; tận dụng phụ phẩm; kiểm soát chất thải và cải tiến bao bì... Mỗi khâu sản xuất đều có thể trở thành những bước đi cụ thể để xanh hóa sản xuất.
Quan trọng hơn, xanh hóa phải gắn với đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực quản trị. Một dây chuyền sản xuất tiết kiệm năng lượng nhưng không kiểm soát được chất lượng đầu ra sẽ khó tạo ra lợi thế bền vững. Ngược lại, khi công nghệ, quản trị, tiêu chuẩn và môi trường được cải thiện đồng thời, cơ sở sản xuất vừa có thể giảm chi phí, vừa nâng chất lượng và khả năng đáp ứng thị trường.
Đây là điểm phù hợp với định hướng của Quyết định số 150/QĐ-TTg về phát triển nông nghiệp theo hướng sinh thái, nâng cao giá trị gia tăng, tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường. Đối với công nghiệp nông thôn, yêu cầu này cần được cụ thể hóa bằng những giải pháp phù hợp với quy mô và điều kiện của từng cơ sở. Chuyển đổi xanh cần có lộ trình, ưu tiên những khâu có tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất.
Nhìn chung, chuyển đổi xanh không chỉ được coi là chi phí để đáp ứng yêu cầu môi trường. Trong công nghiệp nông thôn, đây còn là một phương thức nâng cấp sản xuất, tạo điều kiện để sản phẩm địa phương tiếp cận những phân khúc thị trường có yêu cầu cao hơn và có giá trị gia tăng lớn hơn.
Đưa sản phẩm địa phương tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị
Một trong những hạn chế của công nghiệp nông thôn hiện nay là phần lớn cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ, khả năng đầu tư công nghệ, quản trị, xây dựng thương hiệu và tiếp cận thị trường còn hạn chế. Điều này đòi hỏi chính sách hỗ trợ không chỉ tập trung vào từng cơ sở mà cần hướng tới cả chuỗi giá trị.
Thay vì hỗ trợ riêng lẻ máy móc, thiết bị, cần tăng cường hỗ trợ đồng bộ từ vùng nguyên liệu, công nghệ chế biến, tiêu chuẩn chất lượng đến thương hiệu, dữ liệu, phân phối và xúc tiến thương mại. Khi các khâu được kết nối, giá trị tạo ra từ sản phẩm sẽ không dừng ở công đoạn sản xuất mà được gia tăng xuyên suốt chuỗi.
Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế nông thôn trong Chiến lược được phê duyệt tại Quyết định 150/QĐ-TTg. Nông nghiệp không chỉ cung cấp nguyên liệu mà cần được liên kết với công nghiệp chế biến, ngành nghề nông thôn, dịch vụ và thị trường, qua đó hình thành các chuỗi giá trị có khả năng tạo việc làm, thu nhập và nâng cao giá trị gia tăng.
![]() |
| Chuyển đổi số nâng cao minh bạch sản phẩm công nghiệp nông thôn (Ảnh minh họa có sự hỗ trợ của AI) |
Trong quá trình đó, chuyển đổi số có thể tạo thêm công cụ để nâng cao tính minh bạch của sản phẩm từ tập hợp các thông tin về nguồn nguyên liệu, quy trình sản xuất, tiêu chuẩn, chất lượng, yếu tố môi trường và hành trình của sản phẩm.
Khi dữ liệu được chuẩn hóa, khả năng truy xuất nguồn gốc sẽ không chỉ phục vụ quản lý mà còn trở thành một phần của giá trị thương hiệu. Người tiêu dùng và nhà phân phối có thể tiếp cận thông tin rõ ràng hơn về sản phẩm. Doanh nghiệp cũng có thêm cơ sở chứng minh khả năng đáp ứng các yêu cầu của thị trường.
Đối với những sản phẩm gắn với làng nghề, những câu chuyện riêng về sản phẩm, sẽ có sức thuyết phục hơn khi đi cùng dữ liệu về nguyên liệu, quy trình sản xuất và tiêu chuẩn chất lượng.
Bên cạnh đó, chính sách khuyến công cần tiếp tục đổi mới nội dung hỗ trợ. Từ hỗ trợ đổi mới máy móc, thiết bị thì cần chú trọng tư vấn công nghệ, quản trị, tiêu chuẩn chất lượng, thiết kế bao bì, xây dựng thương hiệu, chuyển đổi số và kết nối với hệ thống phân phối.
Hình thành các đơn vị đầu mối có khả năng tổ chức liên kết cũng cần được quan tâm. Doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc tổ chức trung gian có thể đảm nhiệm vai trò tập hợp nguyên liệu, chuẩn hóa sản xuất, kiểm soát chất lượng và kết nối thị trường. Đây là giải pháp giúp các cơ sở nhỏ khắc phục hạn chế về quy mô, đồng thời tạo nguồn cung ổn định cho các hệ thống phân phối.
Tại địa phương, phát triển công nghiệp nông thôn cần được đặt trong quy hoạch và định hướng phát triển kinh tế nông thôn. Vùng nguyên liệu phải gắn với cơ sở chế biến; sản phẩm phải gắn với thị trường; đào tạo lao động phải gắn với nhu cầu công nghệ. Khi các yếu tố này được kết nối, chuyển đổi xanh mới có thể tạo ra tác động thực chất thay vì chỉ dừng ở một số mô hình riêng lẻ.
Đặc biệt, cần coi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là nền tảng của quá trình chuyển đổi. Với những cơ sở còn hạn chế về nguồn lực, việc tiếp cận công nghệ phù hợp, đào tạo nhân lực và tư vấn kỹ thuật sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ vốn đầu tư. Vì vậy, chính sách cần tạo điều kiện để các cơ sở từng bước nâng cấp đáp ứng được yêu cầu của thực tế.
Về dài hạn, xanh hóa công nghiệp nông thôn không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường đó còn góp phần thay đổi mô hình tăng trưởng ở nông thôn. Ở đó nguyên liệu được sử dụng hiệu quả hơn, sản phẩm được chế biến sâu hơn, phụ phẩm được tận dụng và dữ liệu được quản lý tốt hơn, giá trị kinh tế được tạo ra từ nguồn lực địa phương sẽ tăng lên.
Kế quả này là cách cụ thể hóa tầm nhìn của Quyết định số 150/QĐ-TTg về một nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả, bền vững, có sức cạnh tranh cao; khu vực nông thôn phát triển xanh, sạch, văn minh và có chất lượng sống ngày càng cao.
Từ yêu cầu tiết kiệm tài nguyên, giảm chất thải, chuyển đổi xanh đang trở thành động lực thúc đẩy đổi mới công nghệ, chuẩn hóa sản xuất, số hóa dữ liệu và xây dựng thương hiệu. Khi được đặt trong tổng thể Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, chuyển đổi xanh mở không gian phát triển mới cho công nghiệp nông thôn, giúp nâng giá trị sản phẩm, tăng sức cạnh tranh và từng bước đưa sản phẩm địa phương tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.
Tin tức khác
Trình tự, thủ tục mua, bán hàng dự trữ quốc gia thực hiện thế nào?
Hà Nội khai thác chiều sâu văn hóa, di sản qua các sự kiện
Gần 40.000 trẻ em cả nước vui đón Trung thu cùng Vinamilk
325 triệu USD và bài toán mở dòng vốn quốc tế cho giáo dục Việt Nam
Từ 21 lần bị từ chối, cô gái khuyết tật vượt lên số phận, tạo sinh kế từ công việc số
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển
Phát động Cuộc thi tìm hiểu pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2026
PODCAST: Việt Nam: Thông điệp của hòa bình, trách nhiệm và khát vọng phát triển
PODCAST: Trợ lý ảo Chatbot đồng hành cùng hộ kinh doanh trên eTax Mobile
VIDEO: Dấu mốc mới với thị trường chứng khoán Việt Nam
PODCAST: Bộ Tài chính gắn hoàn thiện thể chế, điều hành tài khóa với mục tiêu tăng trưởng
VIDEO: Tham gia vào chỉ số thị trường mới nổi của FTSE GEIS - Dấu mốc lịch sử với thị trường tài chính Việt Nam
Bộ Tài chính góp sức khơi thông nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng
Kiên quyết điều chuyển vốn từ dự án giao thông giải ngân chậm
Tuyên bố chung về Quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Canada - Việt Nam
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc Chủ tịch Thượng viện và Chủ tịch Hạ viện Canada
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội đàm Thủ tướng Canada Mark Carney
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội kiến Toàn quyền Canada Louise Arbour
Đề xuất loạt chính sách tài chính, ưu đãi đầu tư phát triển công nghiệp văn hóa
Đảng ủy Chính phủ thúc đẩy thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh
Bộ Tài chính hướng dẫn biên soạn 2 chỉ tiêu tổng hợp cấp xã
Sắp diễn ra Tuần lễ sản phẩm Việt - Lào tại Hà Nội
Điều chỉnh giá bán các mặt hàng xăng dầu trong nước từ 15h ngày 24/9
Hà Nội: Phát triển khu công nghệ cao gắn với các cực tăng trưởng
Thái Nguyên mở rộng không gian đầu tư, hướng tới dòng vốn chất lượng
Nông lâm nghiệp Việt Nam: Từ lợi thế sản xuất đến làm chủ luật chơi toàn cầu
Dự án CSAT và IFIA: Tạo sinh kế cho bà con nông dân
Khơi thông nguồn lực, đổi cách tạo tăng trưởng 2 con số
Việt Nam - Canada: Mở rộng không gian hợp tác thương mại, đầu tư
Đảng ủy Bộ Tài chính quán triệt, triển khai các nghị quyết, kết luận của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV









