Chuyển dịch cơ cấu ngành dịch vụ Việt Nam trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư: Thực trạng và những vấn đề đặt ra
ThS. Trần Thị Minh Thu
Ban Kinh tế ngành và lĩnh vực, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính;
Email: [email protected]
ThS. Trần Thu Thủy
Ban Kinh tế ngành và lĩnh vực, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính;
Email: [email protected]
GIỚI THIỆU
Khu vực dịch vụ ngày càng giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và nâng cao năng suất lao động của Việt Nam. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), sự phát triển của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) và các nền tảng số đang mở rộng khả năng đổi mới quy trình hoạt động, phương thức cung ứng và tổ chức kinh doanh trong nhiều ngành dịch vụ. Tuy nhiên, khả năng khai thác công nghệ và chuyển hóa những tiến bộ công nghệ thành kết quả kinh tế không đồng đều giữa các ngành, khiến quá trình phát triển của khu vực dịch vụ có thể diễn ra với tốc độ và hiệu quả khác nhau.
Vì vậy, đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu ngành dịch vụ trong bối cảnh CMCN 4.0 không chỉ dừng ở sự thay đổi tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong GDP, mà cần xem xét sâu hơn những biến đổi trong nội bộ khu vực này, đặc biệt là sự khác biệt về quy mô, tốc độ tăng trưởng và năng suất lao động giữa các nhóm ngành có mức độ ứng dụng công nghệ số khác nhau. Cách tiếp cận này giúp nhận diện rõ hơn những nhóm ngành đang gia tăng vai trò trong tạo ra giá trị, đồng thời làm rõ sự phân hóa về năng suất lao động và những vấn đề đặt ra đối với việc nâng cao hiệu quả phát triển toàn khu vực dịch vụ.
Trên cơ sở phân tích số liệu thống kê giai đoạn 2015-2025, bài viết tập trung làm rõ xu hướng chuyển dịch cơ cấu GDP, tăng trưởng và năng suất lao động (NSLĐ) giữa các nhóm ngành dịch vụ có mức độ ứng dụng công nghệ số tương đối cao và các ngành còn lại. Từ kết quả phân tích, bài viết đề xuất một số định hướng chính sách nhằm thúc đẩy ứng dụng công nghệ phù hợp với đặc điểm từng ngành, đổi mới phương thức tổ chức và cung ứng dịch vụ, đồng thời nâng cao NSLĐ và giá trị gia tăng của khu vực dịch vụ Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0.
THỰC TRẠNG XU HƯỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH DỊCH VỤ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2016-2025 TRONG BỐI CẢNH CMCN 4.0
Để phân tích sự khác biệt trong chuyển dịch cơ cấu nội bộ khu vực dịch vụ trong bối cảnh CMCN 4.0, bài viết phân chia 14 ngành dịch vụ thành 2 nhóm dựa trên đặc điểm hoạt động và khả năng ứng dụng, tích hợp công nghệ số.
Nhóm A (nhóm ngành có khả năng ứng dụng, tích hợp công nghệ số tương đối cao) gồm các ngành: thương mại; thông tin và truyền thông; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ; vận tải và kho bãi; giáo dục và đào tạo; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội. Đây là những ngành có nhiều hoạt động có thể ứng dụng công nghệ số vào xử lý thông tin, kết nối các chủ thể tham gia và tổ chức cung ứng dịch vụ. Nhóm B gồm các ngành dịch vụ còn lại.
Trên cơ sở phân nhóm này, bài viết so sánh sự thay đổi về quy mô, tỷ trọng GDP và NSLĐ giữa 2 nhóm trong giai đoạn 2015-2025, qua đó làm rõ những khác biệt về tăng trưởng và NSLĐ trong nội bộ khu vực dịch vụ. Cách phân nhóm chỉ phục vụ mục tiêu phân tích, không đồng nghĩa với việc các ngành thuộc nhóm B không ứng dụng công nghệ số hoặc các ngành thuộc nhóm A có mức độ ứng dụng công nghệ số đồng đều.
![]() |
| Nguồn: Nhóm tác giả tính toán từ số liệu Niên giám Thống kê 2025 |
Cơ cấu GDP khu vực dịch vụ chuyển dịch theo hướng gia tăng tỷ trọng của nhóm ngành có khả năng ứng dụng, tích hợp công nghệ số tương đối cao
Số liệu Bảng 1 cho thấy, giai đoạn 2015-2025, GDP theo giá hiện hành của cả 2 nhóm ngành đều tăng, song nhóm A có tốc độ mở rộng quy mô nhanh hơn nhóm B. Năm 2025, GDP nhóm A đạt 4.099.082 tỷ đồng, gấp 2,68 lần năm 2015, trong khi nhóm B tăng khoảng 2,11 lần. Sự khác biệt này làm tỷ trọng GDP nhóm A trong khu vực dịch vụ tăng từ 69,9% năm 2015 lên 74,1% năm 2020 và 74,6% năm 2025. Tuy nhiên, tỷ trọng nhóm A không tăng liên tục trong suốt giai đoạn: sau khi đạt mức cao nhất 76,4% năm 2021, tỷ trọng này giảm trong những năm tiếp theo. Nhìn chung, xét trong cả giai đoạn, cơ cấu GDP khu vực dịch vụ có xu hướng nghiêng về nhóm A, phản ánh sự gia tăng tương đối về vai trò kinh tế của nhóm ngành này.
Sự khác biệt giữa 2 nhóm còn thể hiện ở tốc độ tăng GDP theo giá so sánh. GDP nhóm A tăng bình quân 7,43%/năm trong giai đoạn 2016-2025, cao hơn 2,66 điểm phần trăm so với nhóm B (4,77%/năm) và cao hơn mức bình quân 6,70%/năm của toàn khu vực dịch vụ. Uu thế này được duy trì trong cả 2 giai đoạn nghiên cứu: giai đoạn 2016-2020, tốc độ tăng GDP của nhóm A đạt 7,63%/năm, so với 3,25%/năm của nhóm B; giai đoạn 2021-2025 các mức tương ứng là 7,23% và 6,31%/năm. Mặc dù chênh lệch tốc độ tăng trưởng giữa 2 nhóm đã thu hẹp trong giai đoạn sau năm 2020, song nhóm A vẫn duy trì mức tăng cao hơn. Kết quả này cho thấy nhóm ngành có khả năng ứng dụng, tích hợp công nghệ số tương đối cao đang gia tăng vai trò trong cơ cấu GDP khu vực dịch vụ. Khả năng ứng dụng công nghệ số để đổi mới quy trình, phương thức cung ứng và mở rộng thị trường có thể là một trong những yếu tố liên quan đến kết quả này, song chưa thể tách riêng tác động của công nghệ số khỏi ảnh hưởng của các yếu tố khác.
Năng suất lao động tăng nhanh hơn ở nhóm dịch vụ có mức độ ứng dụng công nghệ số cao
NSLĐ (theo giá so sánh) của cả 2 nhóm dịch vụ đều tăng trong giai đoạn 2015-2025, nhưng nhóm A luôn duy trì mức cao hơn nhóm B và khoảng cách giữa 2 nhóm ngày càng nới rộng. Năm 2015, NSLĐ nhóm A đạt 94 triệu đồng/người/năm, cao hơn nhóm B 15,7 triệu đồng và cao hơn mức bình quân toàn khu vực dịch vụ 5,3 triệu đồng. Đến năm 2020, các mức chênh lệch tương ứng tăng lên 36,4 triệu đồng và 11,9 triệu đồng. Năm 2025, NSLĐ nhóm A đạt 158 triệu đồng/ người/năm, cao hơn nhóm B 53 triệu đồng và cao hơn mức bình quân toàn khu vực dịch vụ 17,6 triệu đồng. Như vậy, lợi thế về NSLĐ của nhóm A gia tăng theo thời gian, phản ánh sự phân hóa ngày càng rõ về năng suất giữa nhóm dịch vụ có mức độ ứng dụng công nghệ số cao và nhóm còn lại.
![]() |
| Nguồn: Nhóm tác giả tính toán từ số liệu Niên giám Thống kê 2025 |
Sự khác biệt về NSLĐ giữa 2 nhóm có thể được xem xét thêm thông qua tương quan giữa tăng trưởng GDP và biến động lao động trong cùng kỳ. Theo giá so sánh, GDP nhóm A tăng thêm khoảng 2.573,4 nghìn tỷ đồng trong giai đoạn 2015-2025, gấp khoảng 4,17 lần mức tăng 617,7 nghìn tỷ đồng của nhóm B. Trong khi đó, số lao động tăng thêm của nhóm A khoảng 1.158,8 nghìn người, gấp khoảng 2,29 lần mức tăng 506 nghìn người của nhóm B. Kết quả này phù hợp với xu hướng gia tăng NSLĐ của nhóm A, đồng thời gợi ý rằng sự khác biệt về khả năng tạo ra giá trị gia tăng trên mỗi lao động có thể là một trong những yếu tố làm nới rộng khoảng cách năng suất giữa 2 nhóm. Tuy nhiên, để xác định vai trò riêng của công nghệ số, cần xem xét thêm sự khác biệt về cơ cấu ngành, mức độ thâm dụng vốn và các yếu tố khác ảnh hưởng đến NSLĐ.
Xét theo từng ngành, mức tăng NSLĐ trong nhóm A có sự khác biệt đáng kể. Giai đoạn 2015-2025, NSLĐ (giá so sánh) ngành thông tin và truyền thông tăng thêm 494,8 triệu đồng/người/năm; ngành tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 286,8 triệu đồng/ người. Mức tăng của 2 ngành này cao vượt trội so với các ngành còn lại trong nhóm A, như: vận tải - kho bãi (59,5 triệu đồng/người); y tế và hoạt động trợ giúp xã hội (51,3 triệu đồng/người); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ (48 triệu đồng/người); giáo dục và đào tạo (37,6 triệu đồng/người) và thương mại (34,9 triệu đồng/người). Trong khi đó, NSLĐ của nhóm B tăng thêm 26,7 triệu đồng/người, thấp hơn mức tăng bình quân 64 triệu đồng/người của nhóm A. Sự khác biệt này gợi ý rằng công nghệ số có thể góp phần nâng cao năng suất thông qua việc thay đổi cách thức tạo ra và cung ứng dịch vụ, chứ không chỉ hỗ trợ các hoạt động hiện có. Trong lĩnh vực thông tin và truyền thông, hạ tầng số, phần mềm và các dịch vụ trực tuyến cho phép cung cấp sản phẩm, dịch vụ trên quy mô lớn với chi phí tăng thêm có thể thấp hơn so với phương thức cung ứng truyền thống. Trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng và bảo hiểm, giao dịch điện tử, tự động hóa xử lý nghiệp vụ và các nền tảng ngân hàng số có thể giảm bớt khâu xử lý thủ công, rút ngắn thời gian giao dịch và mở rộng khả năng phục vụ khách hàng mà không cần tăng lao động tương ứng. Đây là những cơ chế có thể giúp gia tăng giá trị được tạo ra trên mỗi lao động.
Ở các ngành như: thương mại, vận tải - kho bãi, giáo dục và y tế, công nghệ số cũng hỗ trợ kết nối các chủ thể, quản lý thông tin và nâng cao hiệu quả tổ chức cung ứng dịch vụ. Tuy nhiên, việc chuyển hóa các lợi ích này thành mức tăng năng suất còn phụ thuộc vào khả năng tích hợp công nghệ vào quy trình hoạt động và đặc điểm cung ứng của từng ngành. Nhìn chung, số liệu cho thấy mức tăng năng suất cao tập trung ở một số ngành có điều kiện thuận lợi để số hóa hoạt động cốt lõi và mở rộng quy mô dịch vụ. Điều này phù hợp với nhận định rằng công nghệ số có tiềm năng trở thành động lực nâng cao NSLĐ của khu vực dịch vụ, song mức độ đóng góp thực tế cần được kiểm chứng thêm bằng dữ liệu về đầu tư công nghệ, mức độ ứng dụng và thay đổi trong tổ chức sản xuất, cung ứng dịch vụ.
HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Nhằm phát huy lợi ích công nghệ số đối với phát triển ngành dịch vụ Việt Nam, trong thời gian tới, cần thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất, định hướng ứng dụng công nghệ số vào những khâu có khả năng nâng cao NSLĐ và giá trị gia tăng của từng ngành dịch vụ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mức tăng NSLĐ có sự khác biệt đáng kể giữa các ngành, trong đó thông tin - truyền thông và tài chính - ngân hàng có mức tăng nổi bật hơn so với thương mại và một số ngành dịch vụ khác. Điều này đặt ra yêu cầu lựa chọn trọng tâm ứng dụng công nghệ phù hợp với đặc điểm hoạt động và khả năng tạo giá trị của từng ngành, thay vì áp dụng một cách tiếp cận đồng loạt. Đối với các ngành có khả năng số hóa cao, cần khuyến khích tiếp tục đổi mới công nghệ và phát triển các dịch vụ có giá trị gia tăng cao; đối với các ngành còn nhiều dư địa cải thiện năng suất, cần chú trọng ứng dụng công nghệ vào các khâu có khả năng nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng cung ứng. Đồng thời, cần tăng cường liên kết giữa các ngành có năng lực công nghệ với những ngành dịch vụ còn hạn chế về khả năng ứng dụng, tạo điều kiện chia sẻ giải pháp, mở rộng khả năng tiếp cận nền tảng số và khai thác hiệu quả các dịch vụ công nghệ dùng chung. Qua đó, công nghệ số có thể phát huy tác động rộng hơn trong toàn khu vực dịch vụ, thay vì chỉ tập trung ở một số ngành có lợi thế sẵn có.
Thứ hai, thúc đẩy đổi mới mô hình kinh doanh và phương thức cung ứng dịch vụ nhằm nâng cao giá trị gia tăng
Giai đoạn 2015-2025, tỷ trọng GDP của nhóm ngành có mức độ ứng dụng công nghệ số cao trong khu vực dịch vụ, tăng từ 69,9% lên 74,6%, nhưng mức tăng NSLĐ giữa các ngành vẫn khác biệt đáng kể. Điều này cho thấy việc mở rộng quy mô hoạt động cần đi cùng với đổi mới cách thức tổ chức và cung ứng dịch vụ để nâng cao hiệu quả kinh tế. Vì vậy, chính sách cần khuyến khích doanh nghiệp chuyển từ ứng dụng công nghệ ở từng khâu riêng lẻ sang kết nối các hoạt động, tăng cường phối hợp giữa các chủ thể và phát triển những mô hình cung ứng dịch vụ có khả năng mở rộng quy mô. Sự phát triển của nền tảng số và các dịch vụ tích hợp cần được khuyến khích theo hướng giảm chi phí giao dịch, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và tạo thêm giá trị từ dữ liệu, đồng thời bảo đảm cạnh tranh lành mạnh và quyền lợi của các bên tham gia. Trọng tâm chính sách không chỉ là thúc đẩy sự phổ biến của các mô hình kinh doanh mới mà còn tạo điều kiện để những mô hình này cải thiện năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của ngành dịch vụ.
Thứ ba, nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ số và hoàn thiện các điều kiện hỗ trợ phát triển ngành dịch vụ
Khả năng chuyển hóa công nghệ thành kết quả kinh tế không chỉ phụ thuộc vào mức độ tiếp cận công nghệ mà còn gắn với năng lực quản trị, chất lượng nguồn nhân lực và điều kiện hạ tầng, dữ liệu. Vì vậy, cần nâng cao kỹ năng số cho người lao động, tăng cường năng lực quản trị và khai thác dữ liệu của doanh nghiệp, đồng thời khuyến khích đổi mới quy trình hoạt động phù hợp với công nghệ được ứng dụng. Bên cạnh đó, cần tiếp tục phát triển hạ tầng số, hoàn thiện cơ chế chia sẻ và khai thác dữ liệu trên cơ sở bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và tuân thủ quy định pháp luật. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần tạo điều kiện tiếp cận các giải pháp công nghệ và dịch vụ số phù hợp với quy mô, nguồn lực và nhu cầu thực tế. Cùng với việc hoàn thiện các điều kiện hỗ trợ, cần tăng cường đánh giá hiệu quả ứng dụng công nghệ thông qua những chỉ tiêu như: NSLĐ, giá trị gia tăng và hiệu quả sử dụng nguồn lực, làm căn cứ điều chỉnh chính sách và xác định các lĩnh vực cần ưu tiên hỗ trợ.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Công Thương (2025). Báo cáo Logistics Việt Nam 2025. Hà Nội.
2. Cục Thống kê (2026). Niên giám Thống kê năm 2025. Nxb Kinh tế - Tài chính.
3. Đỗ Văn Huân (2026). Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. https://vneconomy.vn/co-cau-va-chuyen-dich-co-cau-kinh-te.htm
4. Nguyễn Bích Lâm (2025). Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao chất lượng tăng trưởng - Chìa khóa cho thịnh vượng quốc gia. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/chuyen-dich-co-cau-kinh-te-va-nang-cao-chat-luong-tang-truong-chiakhoa-cho-thinh-vuong-quoc-gia-119250901191451405.htm
5. Cục Thống kê (2026). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025.
| Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in kỳ 3 tháng 10/2026 |
Tin tức khác
Mô hình tài chính tích hợp thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
Kinh tế không gian tầm thấp trong mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam: Cơ chế tác động và hàm ý chính sách
TS. Lê Duy Bình: Phản ứng chính sách thần tốc khơi thông nguồn lực tăng trưởng
Định vị trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong hệ sinh thái tài chính ASEAN: Lợi thế cạnh tranh và định hướng phát triển
Thực trạng quản trị rủi ro doanh nghiệp tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển
Giảm giá điện và thuế xăng, doanh nghiệp nào hưởng lợi?
Việt Nam có tiềm năng lớn để hướng tới tăng trưởng 2 con số
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
Hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ được miễn thủ tục bảo vệ dữ liệu cấp độ 2
Giao dịch ngân hàng, chứng khoán, thương mại điện tử phải liên kết danh tính điện tử quốc gia
Đưa vùng Trung du và miền núi phía Bắc trở thành cửa ngõ kết nối ASEAN với Trung Quốc
TS. Lê Duy Bình: Phản ứng chính sách thần tốc khơi thông nguồn lực tăng trưởng
Việt Nam định hình hệ sinh thái đầu tư chiến lược, nâng chất lượng dòng vốn FDI
Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng: Khung giá phát điện sẽ do đơn vị độc lập xây dựng
Áp dụng tiền đặt trước 20-50%, tỷ lệ hủy kết quả đấu giá đất do bỏ cọc giảm mạnh
Tránh đồng nhất mọi trường hợp từ chối kết quả trúng đấu giá với hành vi thao túng
Bộ trưởng Bộ Tài chính chỉ đạo triển khai đồng bộ giải pháp thúc đẩy tăng trưởng 2 con số
Giao dịch ngân hàng, chứng khoán, thương mại điện tử phải liên kết danh tính điện tử quốc gia
Diễn đàn Mekong Connect 2026: Tăng cường liên kết vùng, thúc đẩy tăng trưởng hai con số
Đề xuất mô hình giải trình 2 chiều trong quản trị công và giám sát ngân sách tại địa phương
Thị trường thương mại điện tử: Tăng trưởng mạnh, cuộc đua ngày càng quyết liệt
Mô hình tài chính tích hợp thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
Bài 2: Khơi dòng vốn dài hạn từ "đường dẫn" ngoài ngân hàng
Kinh tế không gian tầm thấp trong mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam: Cơ chế tác động và hàm ý chính sách
Đưa vùng Trung du và miền núi phía Bắc trở thành cửa ngõ kết nối ASEAN với Trung Quốc










