Phát triển vùng nguyên liệu tập trung, nâng giá trị nông sản Việt
![]() |
| Nâng cao giá trị nông sản Việt. |
Tổ chức lại sản xuất, lấy thị trường làm trung tâm
Kết quả Đề án thí điểm phát triển vùng nguyên liệu giai đoạn 2022-2025 cho thấy mô hình vùng nguyên liệu tập trung gắn với hạ tầng, hợp tác xã và doanh nghiệp đã phát huy hiệu quả, tạo khả năng nhân rộng. Đầu tư công bước đầu đóng vai trò dẫn dắt, thu hút nguồn lực xã hội; hợp tác xã từng bước trở thành trung tâm tổ chức sản xuất, còn doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị..
Kết quả Đề án đến cuối năm 2025, tổng diện tích vùng nguyên liệu đạt khoảng 169.800 ha, tăng 20% so với trước khi triển khai Đề án. Diện tích liên kết tiêu thụ với doanh nghiệp đạt gần 121.000 ha, chiếm 71,2%, tăng mạnh từ khoảng 17.000 ha. Các địa phương đã thành lập, củng cố hơn 123 hợp tác xã, nâng tổng số hợp tác xã tham gia lên 393; hơn 5.500 lượt cán bộ, thành viên được đào tạo về quản trị, tổ chức sản xuất, kế toán và truy xuất nguồn gốc. Liên kết chuỗi giá trị được mở rộng với hơn 90 chuỗi, tăng 65 chuỗi; số doanh nghiệp, nhà máy thu mua, chế biến tăng từ 11 lên 27 đơn vị. Doanh nghiệp từng bước tham gia hướng dẫn sản xuất, hỗ trợ kỹ thuật và kiểm soát chất lượng theo yêu cầu thị trường.
Bên cạnh đó, hạ tầng vùng nguyên liệu được đầu tư đồng bộ, với 141,38 km đường giao thông được nâng cấp, 9 cầu, 6 km kênh, 5 trạm bơm và 11 cống điều tiết được xây dựng, góp phần kết nối vùng sản xuất với thu gom, chế biến và tiêu thụ. Sản xuất ngày càng gắn với mã số vùng trồng, tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Mô hình khuyến nông cộng đồng bước đầu hỗ trợ HTX, nông dân áp dụng tiêu chuẩn GAP, ghi chép nhật ký sản xuất và đáp ứng yêu cầu thị trường.
Từ những kế quả đạt được, Đề án phát triển vùng nguyên liệu giai đoạn 2026-2030 chuyển từ tư duy mở rộng diện tích sang tổ chức sản xuất dựa trên nhu cầu thị trường, năng lực chế biến và khả năng tiêu thụ. Vùng nguyên liệu chỉ thực sự có ý nghĩa kinh tế khi sản phẩm có đầu ra ổn định, được chế biến, tiêu thụ và tạo giá trị gia tăng.
Theo định hướng mới, Nhà nước không đầu tư hạ tầng dàn trải mà tập trung vào những nơi có khả năng hình thành chuỗi giá trị thực chất. Công trình được xem xét hỗ trợ phải chứng minh nhu cầu thị trường, năng lực tổ chức sản xuất, khả năng liên kết tiêu thụ và hiệu quả sau đầu tư.
Hạ tầng, dữ liệu số tạo nền tảng giảm chi phí
Một trọng tâm của Đề án là xử lý điểm nghẽn về giao thông và hạ tầng dùng chung, kết nối vùng nguyên liệu với khu thu gom, sơ chế, chế biến, bảo quản, cảng, bến và các tuyến giao thông chính. Hạ tầng thủy lợi nội đồng và logistics cũng được hoàn thiện theo đặc điểm từng ngành hàng, từng vùng sinh thái.
Đây là yếu tố tác động đến hiệu quả kinh tế. Khoảng cách từ vùng sản xuất đến cơ sở thu mua, chế biến và thị trường càng lớn, hạ tầng càng yếu thì chi phí logistics và hao hụt sau thu hoạch càng cao. Đầu tư đúng các tuyến kết nối có thể rút ngắn thời gian thu gom, giảm chi phí và bảo toàn chất lượng nông sản.
Đề án đặt mục tiêu phấn đấu giảm tối thiểu 10% chi phí vận chuyển, giảm 10-15% thời gian thu gom và giảm 8-10% hao hụt sau thu hoạch. Hiệu quả đầu tư vì thế phải được đo bằng kết quả kinh tế cụ thể, thay vì chỉ tính bằng số công trình hoàn thành.
Song hành với hạ tầng vật chất là hạ tầng dữ liệu. Số hóa dữ liệu, quản lý mã số vùng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc được xác định là yêu cầu quan trọng. Dữ liệu phải chuẩn hóa, cập nhật và kết nối với nền tảng dùng chung, hạn chế tình trạng mỗi địa phương xây dựng một hệ thống riêng, thiếu liên thông.
Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu coi trọng nguồn gốc và tính bền vững, dữ liệu số không còn đơn thuần là công cụ quản lý mà trở thành năng lực cạnh tranh. Vùng nguyên liệu có dữ liệu rõ ràng, quy trình sản xuất được kiểm soát sẽ thuận lợi hơn khi tiếp cận thị trường tiêu chuẩn cao, đồng thời giúp doanh nghiệp chủ động chế biến và xuất khẩu.
Hợp tác xã, doanh nghiệp cùng dẫn dắt chuỗi giá trị
Nếu hạ tầng là nền tảng vật chất thì hợp tác xã và doanh nghiệp là những mắt xích quyết định khả năng vận hành vùng nguyên liệu. Hợp tác xã là hạt nhân tổ chức người sản xuất, quản lý vùng nguyên liệu, dữ liệu, chất lượng và hợp đồng; doanh nghiệp giữ vai trò dẫn dắt thị trường, xác lập tiêu chuẩn, đầu tư chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu.
Với việc phân định vai trò rõ ràng nhằm khắc phục tình trạng liên kết sản xuất - tiêu thụ thiếu ổn định. Khi doanh nghiệp chỉ thu mua theo thời điểm, còn nông dân thiếu thông tin về tiêu chuẩn và nhu cầu thị trường, nguy cơ dư thừa hoặc thiếu nguyên liệu luôn hiện hữu. Ngược lại, hợp đồng ổn định giúp các bên chủ động kế hoạch sản xuất, chất lượng và đầu ra.
![]() |
| Mục tiêu khoảng 70% vùng nguyên liệu được hỗ trợ có hợp tác xã, tổ hợp tác tham gia. (Ảnh có sự hỗ trợ của AI) |
Đề án đặt mục tiêu khoảng 70% vùng nguyên liệu được hỗ trợ có hợp tác xã, tổ hợp tác tham gia tổ chức sản xuất và có ít nhất một doanh nghiệp, cơ sở chế biến, thu gom, phân phối hoặc tổ chức tiêu thụ ký hợp đồng liên kết còn hiệu lực. Tối thiểu 60% sản lượng được tiêu thụ thông qua hợp đồng. Trên 80% hợp tác xã, tổ hợp tác được hỗ trợ đào tạo về quản trị, chất lượng và dữ liệu.
Vùng nguyên liệu chỉ được xem xét hỗ trợ khi đạt từ 70/100 điểm và đáp ứng các điều kiện bắt buộc: có doanh nghiệp tham gia liên kết tiêu thụ bằng hợp đồng hoặc cam kết; có hợp tác xã hoặc tổ chức đại diện người sản xuất làm đầu mối; có mặt bằng, khả năng bố trí vốn đối ứng và không trùng lặp với chương trình sử dụng ngân sách khác.
Cơ chế này cho thấy hỗ trợ đang chuyển từ tư duy “có vùng là được đầu tư” sang “vùng có khả năng tạo giá trị mới được ưu tiên”. Khi thị trường, doanh nghiệp, hợp tác xã, người sản xuất và hạ tầng cùng hội tụ, hiệu quả đầu tư sẽ cao hơn, đồng thời giảm nguy cơ công trình hoàn thành nhưng không được khai thác đúng công suất.
Tổng nhu cầu vốn thực hiện Đề án giai đoạn 2026-2030 dự kiến 23.647 tỷ đồng trên cơ sở đề xuất của các địa phương. Nguồn lực phải tập trung vào những vùng có thị trường, hợp tác xã tổ chức sản xuất, doanh nghiệp liên kết và khả năng duy trì hiệu quả sau đầu tư.
Phát triển vùng nguyên liệu tập trung là bước chuyển từ sản xuất phân tán sang tổ chức lại chuỗi giá trị. Thành công không nằm ở số vùng hình thành, mà ở khả năng giảm chi phí, giảm hao hụt, nâng chất lượng, doanh thu hợp tác xã và thu nhập.
Phát triển vùng nguyên liệu tập trung, nâng giá trị nông sản Việt vì thế cần lấy thị trường làm trung tâm, hạ tầng làm nền tảng, hợp tác xã làm đầu mối và doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi giá trị. Dữ liệu số được bảo đảm minh bạch, truy xuất, kiểm soát chất lượng. Khi các mắt xích kết nối hiệu quả, đầu tư sẽ giúp nông nghiệp Việt Nam chuyển từ tăng trưởng dựa vào sản lượng sang tăng trưởng dựa trên giá trị và sức cạnh tranh.
Tin tức khác
Bảo hiểm bắt buộc xe cơ giới góp phần bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ
Bộ Tài chính ưu tiên ngân sách cho Đồng bằng sông Cửu Long chống thiên tai
An Giang khơi thông nguồn lực, phát triển trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia
Bamboo Airways đưa du lịch quốc tế đến lễ khai trương đường băng số 2 sân bay Phù Cát
Gắn học tập và làm theo Bác với xây dựng Đảng bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng
Chăm sóc người cao tuổi tại nhà mở hướng phát triển dịch vụ y tế
Mở dư địa đầu tư vào hệ sinh thái chăm sóc người cao tuổi
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
PMI tháng 10 đạt 52,3 điểm, ngành sản xuất Việt Nam duy trì đà cải thiện
Bài 1: Đánh thức “kho” nguồn lực lớn từ khu vực tư nhân
Khuyến khích đảng viên làm giàu chính đáng, tư duy mới mở đường
Đại biểu Quốc hội hiến kế hiện thực hoá mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Thuế tiêu thụ đặc biệt về 0%: Giá xăng giảm mạnh từ 0h ngày 1/11
Bộ Tài chính: Quyết liệt triển khai các nhiệm vụ thúc đẩy tăng trưởng, khơi thông nguồn lực
Hà Nội chấp thuận chủ trương đầu tư Khu đô thị Bắc Thăng Long, TP. Hồ Chí Minh tìm nhà đầu tư cụm y tế công nghệ cao
Bài 3: Thống nhất thực thi, biến tầm nhìn thành kết quả
Giải ngân 100% vốn đầu tư công sẽ đóng góp khoảng 1,7% tăng trưởng kinh tế năm 2026
Chuyển dịch chế biến sâu để gia tăng giá trị xuất khẩu sản phẩm điều
Phát triển kinh tế biển Việt Nam: Đổi mới tư duy quản trị, khơi thông nguồn lực
Động lực tăng trưởng mới - nhìn từ câu chuyện nâng tầm thương hiệu chè Thái Nguyên
Nâng cao năng lực tự tổ chức, quản trị và điều phối hoạt động trong chuỗi giá trị của hợp tác xã
Singapore gia tăng hiện diện, vốn FDI lũy kế chính thức vượt mốc 100 tỷ USD
PMI tháng 10 đạt 52,3 điểm, ngành sản xuất Việt Nam duy trì đà cải thiện
Bài 1: Đánh thức “kho” nguồn lực lớn từ khu vực tư nhân
Gỡ nút thắt “đầu ra” để đưa chip Việt ra thị trường










