Những điểm mới của Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15
Nguyễn Thị Thanh Hằng
Trưởng Ban Chính sách, thuế quốc tế - Cục Thuế
Nguyễn Thị Bích Liên
Chuyên viên chính, Ban Chính sách, thuế quốc tế - Cục Thuế
Email: ntblien@gdt.gov.vn
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Quản lý thuế số 108/2025/ QH15. Luật có kết cấu gồm 9 Chương, 53 Điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026; riêng quy định về kê khai, tính thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và việc sử dụng hóa đơn điện tử của nhóm đối tượng này có hiệu lực từ ngày 01/01/2026. Việc ban hành Luật là yêu cầu khách quan nhằm khắc phục những bất cập phát sinh sau hơn 5 năm thực hiện Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý thuế trong bối cảnh kinh tế số, thương mại điện tử, giao dịch xuyên biên giới và mô hình kinh doanh mới phát triển nhanh.
Khác với cách tiếp cận quy định chi tiết nhiều nội dung kỹ thuật ngay trong luật, Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 được xây dựng theo hướng tinh gọn, tập trung vào các nguyên tắc nền tảng, đồng thời giao Chính phủ và Bộ Tài chính quy định cụ thể các biện pháp tổ chức thực hiện. Cách tiếp cận này góp phần nâng cao tính linh hoạt của hệ thống pháp luật, bảo đảm khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi của thực tiễn quản lý, nhất là trong môi trường số.
Luật cũng cụ thể hóa các chủ trương lớn về cải cách thể chế, phát triển kinh tế tư nhân, đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia và cải cách hệ thống thuế đến năm 2030. Trọng tâm của Luật không chỉ là bảo đảm thu đúng, thu đủ cho ngân sách nhà nước, mà còn hướng tới tạo thuận lợi cho người nộp thuế, giảm chi phí tuân thủ, nâng cao tính minh bạch, củng cố kỷ cương trong thực hiện nghĩa vụ thuế và xây dựng cơ quan thuế điện tử hiện đại.
ĐỔI MỚI TƯ DUY QUẢN LÝ THUẾ TRONG LUẬT QUẢN LÝ THUẾ SỐ 108/2025/QH15
Điểm nhấn quan trọng của Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 là sự thay đổi toàn diện về tư duy quản lý. Các quy định mới không chỉ sửa đổi về thủ tục hành chính mà còn định hình lại phương thức quản lý thuế theo hướng lấy dữ liệu, quản lý rủi ro và người nộp thuế làm trung tâm. Có thể khái quát thành 6 chuyển đổi lớn sau đây.
Thứ nhất, chuyển từ quản lý theo chức năng sang quản lý theo đối tượng kết hợp với chức năng và quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ. Thay vì áp dụng một quy trình quản lý tương đối đồng nhất đối với mọi người nộp thuế, Luật đặt nền tảng cho việc phân nhóm người nộp thuế căn cứ vào mức độ tuân thủ, hồ sơ rủi ro, ngành nghề, quy mô và đặc điểm hoạt động. Cơ quan thuế có thể tập trung nguồn lực vào nhóm có nguy cơ thất thu cao, trong khi nhóm tuân thủ tốt được áp dụng cơ chế quản lý phù hợp, giảm bớt sự can thiệp không cần thiết.
Thứ hai, chuyển từ tư duy lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ, cơ quan thuế giữ vai trò hướng dẫn, hỗ trợ, giám sát và kiểm tra trên cơ sở dữ liệu, còn người nộp thuế chủ động thực hiện nghĩa vụ và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của hồ sơ. Cách tiếp cận này phù hợp với nguyên tắc quản lý thuế hiện đại, đề cao tuân thủ tự nguyện và trách nhiệm giải trình.
Thứ ba, chuyển từ quản lý thủ công, phân tán sang quản lý số hóa, tự động và liên thông. Luật tạo cơ sở để thực hiện thủ tục thuế trên môi trường điện tử, kết nối cơ sở dữ liệu thuế với cơ sở dữ liệu quốc gia và dữ liệu của các tổ chức có liên quan. Quy trình quản lý thuế không còn phụ thuộc chủ yếu vào hồ sơ giấy hoặc địa giới hành chính, mà được vận hành trên nền tảng dữ liệu tập trung, có khả năng tự động hóa nhiều khâu nghiệp vụ.
Thứ tư, chuyển từ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang phục vụ, hỗ trợ và đồng hành với người nộp thuế. Cơ quan thuế không chỉ thực thi quyền lực nhà nước mà còn cung cấp dịch vụ công về thuế, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp tiếp cận chính sách, thực hiện thủ tục nhanh hơn, minh bạch hơn. Tinh thần “lấy người nộp thuế làm trung tâm” được thể hiện xuyên suốt trong các quy định về quyền, nghĩa vụ, hỗ trợ tuân thủ và xử lý thủ tục hành chính.
Thứ năm, chuyển từ quản lý thuế chủ yếu trong phạm vi nội địa sang quản lý thuế trong bối cảnh hội nhập và thuế toàn cầu. Luật bổ sung nguyên tắc hợp tác quốc tế, quản lý thuế quốc tế và giải quyết tranh chấp thuế có yếu tố nước ngoài, qua đó bảo vệ quyền đánh thuế hợp pháp của Việt Nam, đồng thời tạo cơ sở thực hiện các cam kết quốc tế về trao đổi thông tin, chống xói mòn cơ sở thuế và quản lý giao dịch xuyên biên giới.
Thứ sáu, chuyển từ mục tiêu ổn định nguồn thu ngắn hạn sang xây dựng nền tảng phát triển dài hạn. Quản lý thuế không chỉ nhằm tăng thu trước mắt, mà còn phải nuôi dưỡng nguồn thu, tạo môi trường pháp lý ổn định, công bằng và minh bạch để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh.
NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG CƠ BẢN SO VỚI LUẬT QUẢN LÝ THUẾ SỐ 38/2019/QH14
Hoàn thiện quy định về quyền, nghĩa vụ và nguyên tắc quản lý thuế
Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung các quy định về quyền và nhiệm vụ của người nộp thuế, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan quản lý thuế theo hướng rõ ràng, minh bạch và phù hợp hơn với yêu cầu chuyển đổi số. Các quy định về bảo mật thông tin, công khai thông tin người nộp thuế, hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý thuế cũng được hoàn thiện nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp thuế, đồng thời phòng ngừa hành vi gian lận, trốn tránh nghĩa vụ thuế.
Một điểm đáng chú ý là Luật nhấn mạnh nguyên tắc quản lý thuế lấy người nộp thuế làm trung tâm, đồng thời bảo đảm phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Đây là cơ sở để đổi mới quan hệ giữa cơ quan thuế và người nộp thuế theo hướng minh bạch hơn, trách nhiệm hơn và tăng cường tuân thủ tự nguyện.
Đơn giản hóa thủ tục hành chính và nâng cao hiệu lực quản lý
Luật tiếp tục hoàn thiện các quy định về đăng ký thuế, mã số thuế, khai thuế, tính thuế, xử lý tiền thuế nộp thừa, xử lý tiền chậm nộp, hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, khoanh nợ, xóa nợ, kiểm tra thuế, ấn định thuế, hóa đơn điện tử và chứng từ điện tử. Mục tiêu chung là bảo đảm thu đúng, thu đủ, nhưng đồng thời giảm tối đa thủ tục trùng lặp, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và tạo thuận lợi hơn cho người nộp thuế.
Đối với hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, Luật tạo cơ sở để tự động hóa quy trình đối với trường hợp đã có đủ dữ liệu và đáp ứng tiêu chí quản lý rủi ro. Đối với khoanh nợ, xóa nợ, Luật hoàn thiện quy định nhằm xử lý các khoản nợ không còn khả năng thu, hạn chế tình trạng theo dõi “nợ ảo”, “nợ treo”, qua đó phản ánh đúng hơn tình hình quản lý nợ thuế. Đối với kiểm tra thuế, Luật hướng tới phương thức kiểm tra dựa trên dữ liệu, phân tích rủi ro và ứng dụng công nghệ, phù hợp với yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý thuế.
Tăng cường phân cấp, phân quyền trong tổ chức thực hiện
| Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 là bước đổi mới quan trọng trong hoàn thiện thể chế quản lý thuế, thể hiện rõ chuyển biến từ quản lý thủ công sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu, từ quản lý dàn trải sang quản lý rủi ro, từ tư duy hành chính đơn thuần sang phục vụ và hỗ trợ người nộp thuế. Những điểm mới của Luật không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thuế, chống thất thu ngân sách, mà còn tạo môi trường thuế minh bạch, công bằng, thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp. |
Một điểm mới về kỹ thuật lập pháp là Luật được thiết kế theo hướng quy định khung, giao Chính phủ quy định các biện pháp tổ chức thực hiện và giao Bộ Tài chính hướng dẫn các nội dung nghiệp vụ, tiêu chí, quy trình cần điều chỉnh linh hoạt theo thực tiễn. Cách tiếp cận này phù hợp với chủ trương phân cấp, phân quyền, đồng thời bảo đảm các vấn đề cốt lõi của quản lý thuế vẫn được quy định trong Luật.
Việc phân quyền hợp lý giúp rút ngắn quá trình điều chỉnh chính sách, nhất là đối với các nội dung gắn với công nghệ, dữ liệu, mô hình kinh doanh mới và quản lý rủi ro. Đây là điều kiện quan trọng để pháp luật quản lý thuế không bị lạc hậu trước sự phát triển nhanh của kinh tế số.
NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI NỔI BẬT CỦA LUẬT QUẢN LÝ THUẾ SỐ 108/2025/QH15
Bao quát đầy đủ hơn đối tượng nộp thuế trong nền kinh tế số
Luật bổ sung quy định rõ tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam là người nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế. Đặc biệt, tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác cũng thuộc phạm vi quản lý thuế. Quy định này tạo cơ sở pháp lý thống nhất để quản lý các giao dịch xuyên biên giới, bảo đảm công bằng giữa kinh doanh truyền thống và kinh doanh trên môi trường số.
Trong bối cảnh thương mại điện tử và các nền tảng số phát triển mạnh, việc nhận diện đầy đủ chủ thể có nghĩa vụ thuế có ý nghĩa quan trọng đối với chống thất thu ngân sách nhà nước. Đây cũng là bước tiến nhằm bảo vệ quyền đánh thuế của Việt Nam đối với thu nhập phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam, kể cả khi chủ thể kinh doanh không hiện diện vật lý tại Việt Nam.
Phân nhóm người nộp thuế và áp dụng quản lý tuân thủ
Luật bổ sung quy định về phân nhóm người nộp thuế trên cơ sở mức độ tuân thủ và rủi ro. Đây là nền tảng để cơ quan thuế chuyển từ quản lý dàn trải sang quản lý có trọng tâm, trọng điểm. Nhóm người nộp thuế có mức độ tuân thủ tốt có thể được áp dụng chế độ ưu tiên, hỗ trợ thủ tục nhanh hơn; ngược lại, nhóm có rủi ro cao sẽ được giám sát, kiểm tra chặt chẽ hơn.
Cơ chế này vừa nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực quản lý, vừa tạo động lực để người nộp thuế nâng cao mức độ tuân thủ. Khi tuân thủ tốt gắn với lợi ích cụ thể về thủ tục và mức độ giám sát, người nộp thuế có thêm động lực thực hiện nghĩa vụ một cách chủ động, đầy đủ và minh bạch.
Quản lý hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh sau khi xóa bỏ thuế khoán
Luật bổ sung quy định hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thực hiện kê khai, tính thuế theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu, thuế suất và phương pháp tính thuế theo quy định của các luật thuế. Cơ quan thuế có trách nhiệm hỗ trợ khai thuế trên cơ sở dữ liệu quản lý thuế và thông tin do người nộp thuế cung cấp. Quy định này tạo cơ sở triển khai lộ trình xóa bỏ thuế khoán, đồng thời khuyến khích hộ kinh doanh phát triển theo hướng minh bạch, chuyên nghiệp và từng bước chuyển đổi lên doanh nghiệp khi đủ điều kiện.
Việc chuyển từ phương thức khoán sang kê khai dựa trên dữ liệu giúp phản ánh sát hơn doanh thu thực tế, hạn chế thất thu, đồng thời tăng tính công bằng giữa các chủ thể kinh doanh. Tuy nhiên, để chính sách đi vào cuộc sống, yêu cầu đặt ra là phải đơn giản hóa tối đa thủ tục, đẩy mạnh các tiện ích hỗ trợ trực tuyến và bảo đảm hệ thống khai, nộp thuế thân thiện, dễ sử dụng đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Hợp tác quốc tế và giải quyết tranh chấp thuế có yếu tố nước ngoài
Luật bổ sung nguyên tắc hợp tác quốc tế và quản lý thuế quốc tế nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập, trao đổi thông tin, chống chuyển giá, chống xói mòn cơ sở thuế và quản lý các giao dịch xuyên biên giới. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Việt Nam chủ động hơn trong thực hiện các cam kết quốc tế, đồng thời bảo vệ quyền đánh thuế hợp pháp của Nhà nước.
Bên cạnh đó, Luật bổ sung quy định giải quyết tranh chấp về thuế có yếu tố nước ngoài giữa người nộp thuế là tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc Việt Nam với cơ quan quản lý thuế Việt Nam, liên quan đến nghiệp vụ thuế phát sinh tại Việt Nam hoặc tại nước ngoài. Trong bối cảnh các giao dịch quốc tế ngày càng phức tạp, việc thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp rõ ràng, minh bạch góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế, giảm rủi ro pháp lý và nâng cao niềm tin của nhà đầu tư.
Chuyển đổi số toàn diện và xây dựng cơ quan thuế điện tử
Chuyển đổi số là nội dung trọng tâm, xuyên suốt của Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15. Luật tạo nền tảng để thực hiện dịch vụ công trực tuyến toàn trình, tự động hóa quy trình nghiệp vụ, xây dựng cơ sở dữ liệu thuế tập trung, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia và các hệ thống thông tin của cơ quan, tổ chức liên quan. Các quyết định hành chính điện tử, văn bản, thông báo được ban hành tự động từ hệ thống có giá trị pháp lý, qua đó tạo cơ sở pháp lý cho quản lý thuế điện tử thực chất.
Việc ứng dụng dữ liệu lớn, phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo trong hỗ trợ tuân thủ, xử lý nghiệp vụ, kiểm tra, cưỡng chế và hoàn thuế tự động sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lý, giảm tiếp xúc trực tiếp, hạn chế tiêu cực và tăng tính minh bạch. Đồng thời, Luật cũng đặt ra yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu và bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế trong trường hợp xảy ra sự cố hệ thống. Người nộp thuế không bị xử phạt nếu việc chậm thực hiện nghĩa vụ phát sinh do lỗi hệ thống, qua đó bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu quản lý và quyền lợi chính đáng của người nộp thuế.
Các nội dung được lược bỏ và ý nghĩa đối với cải cách quản lý thuế
Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 lược bỏ một số nhóm quy định không còn phù hợp với yêu cầu quản lý mới. Trước hết, Luật bỏ quy định về Hội đồng tư vấn thuế xã, phường để phù hợp với chủ trương xóa bỏ hình thức thuế khoán đối với hộ kinh doanh. Khi phương thức quản lý chuyển sang kê khai, dữ liệu và hóa đơn điện tử, vai trò của cơ chế tư vấn thuế khoán ở cấp cơ sở không còn phù hợp như trước.
Luật cũng bỏ quy định về thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt do đã bổ sung cơ chế người nộp thuế chủ động lựa chọn và thực hiện nộp theo mã định danh khoản phải nộp. Cách tiếp cận này phù hợp với quản lý thuế điện tử, giúp việc hạch toán nghĩa vụ thuế minh bạch, chính xác hơn.
Đáng chú ý, Luật bỏ toàn bộ quy định về thanh tra thuế do cơ quan thuế không còn tổ chức thanh tra thuế. Việc điều chỉnh này góp phần bảo đảm thống nhất với mô hình tổ chức mới, đồng thời đặt ra yêu cầu tăng cường hiệu quả kiểm tra thuế, phân tích rủi ro và phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền trong xử lý hành vi vi phạm pháp luật về thuế.
Hiệu lực thi hành và yêu cầu tổ chức thực hiện
Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 xác định hai mốc hiệu lực quan trọng. Từ ngày 01/01/2026, quy định về kê khai, tính thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và việc sử dụng hóa đơn điện tử của nhóm đối tượng này có hiệu lực thi hành. Từ ngày 01/7/2026, toàn bộ các quy định còn lại của Luật chính thức có hiệu lực trên phạm vi cả nước.
Để các quy định mới phát huy hiệu quả, cần khẩn trương ban hành các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành theo đúng thẩm quyền, bảo đảm rõ nội dung, rõ trách nhiệm và rõ lộ trình thực hiện. Đồng thời, cần đầu tư đồng bộ hạ tầng công nghệ thông tin, chuẩn hóa dữ liệu, bảo đảm kết nối, chia sẻ thông tin giữa cơ quan thuế với các Bộ, ngành, địa phương, ngân hàng, tổ chức trung gian thanh toán và các chủ thể có liên quan.
Bên cạnh đó, ngành Thuế cần tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là năng lực phân tích dữ liệu, quản lý rủi ro, ứng dụng công nghệ số và hỗ trợ người nộp thuế trên môi trường điện tử. Công tác truyền thông, hướng dẫn chính sách cũng cần được thực hiện sớm, dễ hiểu, dễ tiếp cận để người dân, doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh chuẩn bị tốt cho việc thực hiện các quy định mới.
KẾT LUẬN
Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 là bước đổi mới quan trọng trong hoàn thiện thể chế quản lý thuế, thể hiện rõ chuyển biến từ quản lý thủ công sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu, từ quản lý dàn trải sang quản lý rủi ro, từ tư duy hành chính đơn thuần sang phục vụ và hỗ trợ người nộp thuế. Những điểm mới của Luật không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thuế, chống thất thu ngân sách, mà còn tạo môi trường thuế minh bạch, công bằng, thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp.
Trong giai đoạn tới, hiệu quả thực thi Luật phụ thuộc lớn vào chất lượng văn bản hướng dẫn, mức độ sẵn sàng của hạ tầng số, khả năng kết nối dữ liệu liên ngành và năng lực tổ chức thực hiện của cơ quan thuế. Khi được triển khai đồng bộ, Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 sẽ là nền tảng pháp lý quan trọng để hiện đại hóa hệ thống thuế Việt Nam, phù hợp với Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030 và yêu cầu hội nhập quốc tế.
Tài liệu tham khảo:
- Bộ Tài chính (2026). Tài liệu giới thiệu về Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, Công văn số 687/BTC-CT ngày 19/01/2026.
- Quốc hội (2025). Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 ngày 10/12/2025.
- Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 508/QĐ-TTg ngày 23/4/2022 phê duyệt Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030.
| Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in Kỳ 1 - Tháng 6/2026 |
Tin tức khác
Tổng rà soát hệ thống pháp luật: Nhận diện những điểm nghẽn cần tháo gỡ
Dùng 2 tài khoản tạo cung cầu giả, một cá nhân bị phạt 1,5 tỷ đồng
Loạt chính sách kinh tế mới có hiệu lực từ tháng 9/2026
Thuốc lá lậu trên không gian số: Bài toán cần tính đến trong chính sách kiểm soát thuốc lá
Việt Nam tạo thêm “điểm cộng” để hút dòng vốn quốc tế
Giảm áp lực chi phí đất đai, tăng khả năng dự liệu cho doanh nghiệp
Bộ Tài chính hướng dẫn kế toán các khoản vay, trả nợ của Chính phủ
PODCAST: Bộ Tài chính đề xuất siết chi tiền mặt và mở rộng thanh toán qua tài khoản qua Kho bạc
VIDEO: Cải cách quản lý thuế hải quan: Bước tiến thực chất từ Nghị định 252 và Thông tư 86
VIDEO: Bất ngờ thành chủ doanh nghiệp ma: Cảnh báo bẫy lừa từ lộ thông tin cá nhân
PODCAST: Bộ Tài chính ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 19 về đổi mới mô hình phát triển
PODCAST: Kỳ họp không thường lệ thứ nhất: Khơi thông nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng
Đưa quan hệ Đối tác hợp tác toàn diện Việt Nam - Myanmar bước vào giai đoạn phát triển mới
Nhà trường phải trở thành trung tâm kiến tạo tri thức, đổi mới sáng tạo
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Lễ đón chính thức Tổng thống Myanmar
Việt Nam đề xuất ba ưu tiên thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số tại APEC
Mở rộng dư địa hợp tác thương mại, đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc
Từ đà hợp tác đến những bước phát triển mới với Nga và Pháp
UBND TP. Hồ Chí Minh đề xuất giữ nguyên 168 phường, xã, đặc khu
INFOGRAPHIC: Kinh tế việt nam 8 tháng 2026 - những con số nổi bật
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng: Tập trung kiểm soát các mặt hàng tác động đến chỉ số giá
Tập đoàn Hóa chất Việt Nam và Seoul Chemical ký kết hợp tác mở rộng tiêu thụ sản phẩm tại thị trường Hàn Quốc
Hà Nội tăng tốc các động lực, giữ mục tiêu tăng trưởng 11%
Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện đạt 17,25 tỷ USD; Vinhomes bắt tay SGC làm 2 dự án đường sắt
Mở rộng dư địa hợp tác thương mại, đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc
Nguồn lực tài chính cho chuyển đổi xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Xuất khẩu thủy sản 8 tháng đạt 7,94 tỷ USD, hướng tới mục tiêu 12,5 tỷ USD
Đối thoại Hữu nghị TP. Hồ Chí Minh mở hướng kết nối nguồn lực quốc tế
Nông, lâm nghiệp và thủy sản giữ đà tăng trưởng cuối năm











